Giọt máu chung tình

Chương 15: Hồi thứ mười ba

Khoảng 10 phút đọc · 2.209 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

HỒI THỨ MƯỜI BA

Chốn phong ba, cỡi sóng rược giàn đồ,

Cơn hoạn nạn, ra tay đền nghĩa vụ.

Từ khi Võ-đông-Sơ phụng mạng đi tuần dương, dẹp

xong quân Hãi-khấu Trung-quấc rồi, thì lo sắm sửa hành

trang, đi với một tên bộ-hạ trở về Đông-kinh đặng phục

mạng. Hai thầy trò lên đèo xuống ãi, chỉ lo giục ngựa

buông cương, trông cho mau tới tỉnh-thành, đặng trước là

ra mắt Lê-công, sau là hội diện cùng Tiễu-thơ Bạch-thu-Hà mà tính cuộc nhơn duyên cang lệ.

Khi đi tới một bến đò, thì trời đã tối, dựa bến có một

chiếc ghe nhỏ nhỏ, để đưa hành khách qua sông. Đông-Sơ liền xuống ngựa bước lại đứng dựa cầu đò, đặng nhắm

xem phong-cãnh, thì thấy một gương Hằng-nga tỏ rạng,

ở dưới, góc núi lần lần ló lên, và một giãi trường-giang thinh thoan rất lớn, nước dọi bóng trăng, xem như rắn

dỡn rồng đoanh, muôn dặm hào quang soi nhấp nhán;

sóng xao gành núi, nghe dường đờn tâu nhạc rổi, ngàn

trùng bạch thủy trắng phao phao.

Đông-Sơ đương đứng rão mắt ngó mông, bổng thấy một

chiếc ghe, trương bườm bọc gió ở phía trên sông chạy

xuống như tên. Khi chạy ngang qua trước bến đò, thì thấy

hai người con gái ngồi dưới bóng đèn sáng ở trong mui

ghe, rỏ ràng là Tiễu-thơ với Thể-nữ Xuân-Đào, chẳng sai

một mãy.

Đông-Sơ lấy làm lạ và tự nghĩ rằng: « Tiểu-thơ và Thể-nữ chẳng lẻ đi đâu như vậy, mà cớ sao xem hình trạng thì

giống in như hịch, chẳng khác chúc nào, hay là người

giống người mà mình mập mờ xem lộn đó chăng? Nghĩ

như vậy rồi lại kêu lớn một tiếng: Xuân-Đào, đặng coi

phải hay không cho biết. Thật kêu vừa dứt lời, thì Thể-nử Xuân-Đào liền day mặt ngó ra, dường như kiếm coi ai

kêu mình đó vậy.

Tiễu-thơ nghe kêu cũng ngó ra. Song trời tối mờ mờ,

phần thì ghe chạy mau như tên, nên không biết rỏ là ai

hết. Phần thì nghi cho anh là Công-tữ theo kiếm, vì vậy

nên chẳng dám dỉ hơi cứ việc làm thinh, để coi ai cho

biết.

Đông-Sơ thấy rỏ ràng là Tiễu-thơ, thì kêu tiếp thêm một

tiếng lớn « Tiểu-thơ, Tiểu-thơ » xin biểu đình thuyền đặng

vài lời gạn hỏi.

Khi ấy Tiễu-thơ nghe chẳng phải tiếng anh, thì lật đật

bước ra ngoài đứng xem, tuy chẳng thấy rỏ ràng, song nhờ

lúc trời trong trăng tỏ, xem tướng mạo thì biết là Đông-Sơ, liền biểu tài-công ngừng thuyền. Nhưng tên tài công

cứ việc cho thuyền chạy tới, lại biễu vợ trương thêm một

lá bườm nữa mà chạy cho mau. Thuyền nhẹ bườm cao,

bọc gió lước sóng, chạy như tên bắn chim bay.

Tiểu-thơ và Thễ-nữ thấy tên tài-công chẳng chịu quày

thuyền, thì thất kinh lấy tay ngoắt và kêu Đông-Sơ, dường

như biểu theo mà tiếp cứu.

Đông-Sơ trong lúc bối rối, chẳng biết tính sao, ngó lại

thấy một chiếc tam-bãn đậu dựa mé sông, tức thì biễu tên bộ-hạ ở đó coi ngựa, rồi nhảy ngay xuống tam-bãn lấy

chèo bơi theo. Theo mau chừng nào thì thuyền ấy lại

chạy mau chừng nấy.

Đông-Sơ thấy vậy càng hồ nghi, ráng sức bơi theo, tam-bãn trường lên ngọn sóng lước tới như bay. Kế đó gió

càng ngày mạnh, sóng càng khắc càng to, chiếc tam-bãn

hụp xuống trồi lên giữa trận ba đào, xem rất nguy hiễm.

Những người đứng trên bến đò thảy đều kinh tâm táng

đởm. Nhưng Đông-Sơ là người đã từng quen xua thuyền

cởi sóng, nơi chốn mặt biễn chơn trời, nên gặp cơn nguy

hiểm thế nào, cũng chẳng nao lòng thối chí.

Khi Đông-Sơ thấy thuyền ấy chạy trước đã xa, và lại

chiếc tam-bãn bị sóng dập gió dồi, trồi lên hụp xuống, vô

nước đã nhiều, nếu gặp một lượng sóng to, ắc chìm chẳng

khỏi, lại trộm nghĩ rằng: Nếu mình theo chẳng kịp thuyền

kia thì chắc Tiễu-thơ phải lâm tay độc thũ. Nghĩ vậy nên

và bơi và tác nước, đặng ráng mà rược theo, chẳng dè

một lượng sóng rất lớn lước tới ồ ồ, bỏ vòi cao hơn năm

thước, dựng trước tam-bãn như một vách thành, rồi ào

ào chụp xuống.

Đông-Sơ lúc ấy ngước mặt kêu trời và la lên rằng:

« Trời ôi, ai cứu tôi với! Cái sóng vô tình kia ôi! thuở

nay ta không thù oán chi đến mi, sao ngày nay mi chờ ta

đến đây mà hại vậy. » Vừa dức lời thì ngọn sóng dử tợn

ấy đã dồi chiếc tam-bãn lên trên không, rồi hạ xuống sâu

như vực thẩm, kế một ngọn sóng nữa ùn ùn lước tới chụp

lên, thì chiếc tam-bãn và Đông-Sơ đều chìm mất.

Một cuộc nguy hiễm rất dữ dằn nầy, dẩu cho ai sức

mạnh như thần, tài lội như rái, cũng không thế nào vẫy

vùng thoát khỏi đặng. Huống chi Đông-Sơ bị bơi một hồi

đã mỏi mệt tay chơn, lại giữa chốn cuồng phong nộ lãng,

nước chảy sông sâu như vầy, thì còn sức đâu mà lội đặng.

Lúc nầy tên bộ hạ của Đông-Sơ và mấy người đứng trên bến

đò đều thất kinh và la lên: Trời ôi, chiếc tam-bãn đã

chìm rồi còn chi mà kể. Khi Đông-Sơ bị một lượng sóng

dử nhận chìm thuyền rồi, nổi lên hụp xuống hai ba lần

đã mõn sức đuối hơi, đó rồi lần lần ngấm xuống. Trong lúc cái chết đã tới trong cơn hấp hối nầy, Đông-Sơ rán

cượng hai chơn đạp nước một cái nỗi lên. Bỗng đâu có

một cánh tay mạnh mẻ kia, như cánh tay của thiên thần

trên không, thò xuống nắm Đông-Sơ kéo lên, thì Đông-Sơ xát đã lìa hồn, chỉ nằm thiêm-thiếp một giấc Huỳnh-lương, và không nhúc nhít.

Một lác Đông-Sơ tỉnh hồn mở mắt, thấy mình nằm

trong một chiếc ghe, và ngó lại thấy một người đương

ngồi bên mình, cầm hai tay xô qua lắc lại, làm cho

chuyễn động tinh thần, châu lưu huyết mạch, lại thấy

một mãnh yểu điệu hồng nhan, đương ngồi quạt lữa đốt

thang, như một vị nam thiên thần với một vị nữ bồ tác,

thấy Đông-Sơ bị nạn thì hiện xuống mà ra tay tế độ, vớt

người trầm luân.

Nguyên người cứu Đông-Sơ nầy chẳng phải là người

nào xa lạ. Vẩn là người bán gươm kết nghĩa kim bằng

với Đông-Sơ khi trước, tên là Triệu-Dõng. Khi Triệu-Dõng

với một người em gái là Triệu-Nương ở tĩnh Quản-Yên về,

đi tới bến đò, thấy hai con ngựa cột dựa đường, và thấy

một người đương đứng day mắt ngó ngay ra ngoài sông,

mặt có sắc buồn, xem bộ chẳng yên, dường như có đều

chi bồi hồi lo sợ.

Triệu-Dõng thấy vậy bước tới và hỏi rằng: cậu, cậu

đứng đây chờ ai?

Tên kia nói: « Tôi chờ chủ tôi là Trung-Uý Vỏ-đông-Sơ,

người mới bơi một chiếc tam-bản mà rược theo chiếc

thuyền chạy bườm phía trước đó, tôi thấy chiếc tam-bản

nhỏ, bị gió dập sóng dồi, trồi lên hụp xuống, rất hiễm

nguy, song chẳng biết làm sao mà tiếp cứu. Nói rồi lấy

tay chỉ ra ngoài khơi, và la lên rằng: kia kìa, tam-bản

kia kìa, mấy người đứng trên bờ thấy tam-bản bị sóng

đánh nghiên qua lắc lại gần chìm, thì đều chắc lưởi lắc

đầu và nói: trời ôi! chổ ngã tư sông đó là một chổ sóng

gió rất hiểm nghèo, xưa nay chẳng biết bao nhiêu ghe

chìm thuyền lụy, song đứng nói mà thôi, chớ chẳng thấy

một ai khẳn khái dám ra tay tiếp cứu.

Triệu-Dõng nghe nói Vỏ-đông-Sơ thì thất kinh, ngó ra thấy một người ngồi trên chiếc tam-bản nhỏ trôi nổi giữa chốn phong đào, thật một cãnh ngộ rất ngặc nghèo nguy hiễm

lắm, nếu chẳng ra tay tiếp cứu thì tam-bản ấy ắc phải bị

chìm. May đâu có một chiếc ghe không, để dựa mé sông.

Triệu-Dõng day lại nói với em gái là Triệu-Nương rằng:

anh em mình phải cứu Đông-Sơ mới đặng.

Đó rồi hai anh em vội vàng nhãy xuống ghe ấy, gay

chèo bơi theo. Mấy người đứng trên bến đò thất kinh, ai

ai cũng lom lom chống mắt ngó theo, thấy mấy lượng

sóng to lước tới ồ ồ, bỏ vòi trắng giả, dường như vạn mã

thiên binh, gầm hét vang rân, nó thấy hai anh em Triệu-Dõng thì xốc tới mà đoạt thuyền hãm trận đó vậy.

Nhưng cái tánh liệc nhược tinh thần và cái tánh bàn

quang tọa thị, nó đã thâm nhập cốt chỉ của mấy kẻ vô

tình đó rồi, dẩu thấy ai lâm nguy, cũng đứng chấp tay sau

lưng, lấy mắt ngó lơ là rồi thục đầu rút cổ, chẳng biết

thi ân tựu nghĩa mà cứu giúp đồng-bào, chẳng biết mạo

hiễm phò khuynh mà ra tay tế độ.

Chí như hai anh em Triệu-Dõng là người có khí phách

anh hùng, tề tề chỉnh chỉnh, tuy lước vào giữa trận kịch

liệc phong đào, nhưng xem dường một chổ vững vàng

bình địa, chẳng chúc nào nao lòng khiếp chí cứ việc lước

tới chớ chẳng lui, hể sóng tới thì trồi lên, sóng qua thì

hụp xuống.

Khi chèo theo gần kịp thì thấy lượng sóng dử đã nhận

chìm chiếc tam-bản của Đông-Sơ. Hai anh em Triệu-Dõng

rán sức chèo ghe lước tới như bay, thấy Đông-Sơ đương

chìm nỗi lững đững giữa giòng sông thì liền thò tay mà

cứu vớt và đem lửa hơ hám một hồi.

Khi Đông-Sơ tĩnh lại mỡ mắt ra thấy Triệu-Dõng thì

anh em mừng rỡ vô cùng, rồi ngó theo chiếc thuyền kia

thì chạy khuất đã xa, chỉ thấy lắp ló một chót bườm trắng

kia trên ngọn cây đó thôi, không thế chi mà rược theo

cho kịp.

Đông-Sơ bèn thuật đầu đuôi sự tình lại cho Triệu-Dỏng

nghe. Đó rồi anh em quày ghe trở lại bến đò, tạm

nghĩ một đêm, sáng ngày dắc nhau trở về Đông-kinh một

lược.

Khi tới Đông-kinh Triệu-Dõng nói với Vỏ-đông-Sơ rằng: « Đây em xin từ giả nhơn huynh đặng về Hà-đông viếng

thăm thân thích, nếu nhơn huynh có việc chi cần dùng

đến em dầu thiên lao vạn khổ em cũng chẳng từ nan ».

Đông-Sơ nói: « Thật rất cảm tình cố hữu và cô nương,

là người chỉ biết lấy sự cang nghị dỏng cảm làm chí khí

tinh thần, mà cứu giúp anh em trong lúc hiễm nguy hoạn

nạn, vạn tữ bất từ. Bằng hữu như vậy mới rằng bằng hữu

tín thành, và đáng một bực trượng phu nghĩa khí, Chẳng

phải như bằng hữu trong lúc bình thường vô sự, thì anh

em quyến luyến, lui tới chơi bời, xem rất thiết nghĩa thân

tình, rất tâm đầu ý hiệp. Song đến cơn ngộ biến lâm nguy,

thì chĩ lo lách lách tránh xa, giả làm mặt ngơ tai điết,

đặng khỏi đều họa gởi tai lây. Những bạn hữu ấy chĩ coi

theo cái túi tiền tài mà giao kết chơi bời, chớ chẳng phải

lấy sự thiết nghỉa chơn tình mà kết làm bậu bạn.

Vậy chúng ta phải xe dây thân ái mà ràng buộc cho khắn

khích nghĩa kim bằng, và đem keo tín thành mà gắn chặc

tình anh em lương hữu.

Triệu-Dỏng nói: Những lời anh nghị luận, em rất hiệp

ý vừa lòng. Nếu mổi người chĩ lo bo bo phận ai riêng nấy,

chẳng biết lấy tình nghĩa mà giao kết cho liên lạc anh em,

chẳng biết lấy sự thân ái mà thương yêu nòi giống, thì

dẫu cho mấy chục triệu sanh linh, cũng thành một dân tộc

thịt chạy thây đi, và một dân tộc chẳng có tinh thần khí

phách.

Huống chi là anh em mình ngày nay đã gọi rằng bằng

hữu chi giao, đương lúc ngộ nạn lâm tai, lẻ đâu chẳng hết

sức giúp nhau, đễ vậy mà bàn quang tọa thị, thì sao cho

rằng phải.

Đông-Sơ nói: Nếu mổi người đều có một tư tưởng như

hiền hữu vậy thì cái tiền đồ dân tộc của nước ta ngày kia

sẻ trở nên mở mang phát đạt. Đó rồi hai anh em Triệu-Dỏng từ giã ra đi. Còn Đông-Sơ thì lật đật vào ra mắt Lê-công, và dưng địa đồ các cù lao Đông-dương và tĩnh

Quảng-đông cho Lê-Công tường lảm. Rồi trở về tư dinh,

nghĩ tới việc gặp Tiểu-thơ tại bến đò sông Nhĩ-hà, cũng

một đều quái sự. Nhưng ức vì chẳng đặng giáp mặt mà gạn hỏi căng do, cho rỏ đều hư thiệt. Vì vậy nên trong

lòng nghi ngại và bức rức chẳng yên. Những mãng ngậm

thỡ ngùi than, tầm tư tự nghĩ một hồi, rồi vội vã sắm sửa

y cân, đặng qua dinh Tiểu-thơ thăm nghe tin tức.

Hết chương 15

Chương sauHồi thứ mười bốn

Đọc chương 16 →

Bình luận về truyệnTrang truyện