Luận ngữ (Dương Bá Trạc dịch)

Chương 4: Quyển trên · Loại thứ III

Khoảng 24 phút đọc · 5.264 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Loại thứ III

Nói về học-vấn

36. Tử viết: Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân-tử hồ?

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ I).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Học cho thông hiểu mọi lẽ mà lại thường thường ôn tập không quên, thì nghĩa lý sung-túc ở trong lòng, chẳng cũng đẹp lòng lắm ru? Học tập đã lâu, có bầu bạn ở phương xa nghe tiếng giỏi mà lại để cùng học tập với mình, chẳng cũng vui lắm rư? Người ta không biết sức học của mình mà không lấy làm giận, chỉ vụ thực không cầu đanh, chẳng cũng là bậc quân-tử rư?

37. Tử viết: Quân-tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố, chủ trung tín, vô hữu bất như kỷ giả, quá tắc vật đạn cải.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ I)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người quân-tử tự xử không cẩn-trọng thì không có uy nghiêm, học chắc cũng không được bền vững, nên tự xử phải cẩn-trọng mới được, lại phải lấy trung tín làm chủ, làm việc gì thì hết lòng, nói câu gì thì tín thực, đừng làm bạn với kẻ không bằng mình, như có điều gì lỗi thì đổi ngay đừng ngại.

38. Tử viết: Quân-tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học giã dĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng luận về thiên Học-nhi tờ II)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Người quân-tử ăn không cầu no, ở không cầu yên, siêng làm việc mà cẩn thận lời nói, lại thường tới với người có đạo đức mà chất-chính lẽ phải trái, như thế thực nên gọi là hiếu học vậy.

39. Tử-Cống viết: Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như? Tử viết: Khả giã, vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã. Tử-cống viết: Thi vân: như thiết như tha, như trác như ma, kỳ tư chi vị dư? Tử viết: Tứ giã thủy khả dữ ngôn thi dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Học-nhi tờ II).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Cống hỏi rằng: Nghèo mà không siểm nịnh kẻ khác, giàu mà không khoe khoang với ai, người như thế nhân-phẩm thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: cũng khá vậy, nhưng chưa bằng người nghèo mà vui giàu ham làm đều phải, còn cao thượng hơn nhiều; ông Tử-cống nghe nói, biết rằng cái hay không cùng, mới thưa rằng: Trong kinh Thi có câu: Như làm đồ xương đã cắt lại đánh cho bóng; như làm đồ ngọc, đã rũa lại mài cho nhẵn; cũng tức là cái nghĩa thầy dạy đây phải không? Đức Khổng-tử khen rằng: Trò Tứ vậy mới cùng nói nghĩa kinh Thi đươc, bảo điều trước mà suy ra hiểu được điều sau.

40. Tử viết: Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: tư vô tà.

(Xem trong bộ tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ III).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kinh Thi ba trăm bài, chỉ một câu mà gồm hết được ý-nghĩa. là câu: bụng nghĩ ngay thẳng không có gian công. (Ba trăm bài trong kinh Thi mỗi bài mỗi khác, mà bài nào cũng chủ để khuyên điều lành răn đền dữ, muốn người ta giữ được cái tính tình ngay thẳng.

41. Tử viết: Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mênh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 3)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử tự thuật rằng: Ta từ năm mười lăm tuổi mà đã có chí chăm về sự học, ba mươi tuổi mà giữ vững được thao-- thủ, bốn mươi tuổi mà biết rõ sự lý không còn nghi hoặc gì, năm mươi tuổi mà hiểu thấu được mệnh trời (những lẽ màu nhiệm của trời đất), sáu mươi tuổi mà phàm sự lý phải trái, nghe lọt vào tai đều thuận thụ cả mà không cái gì sai lầm, bảy mươi tuổi mà phàm trong bụng mình muốn điều gì đều không trái vượt ra ngoài phép tắc. Công-phu học vấn của ta, tự bé đến lớn, tuần tự tiệm tiến như thế.

42. Tử viết: Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 4)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ học-giả phàm những cái gì cũ thì ôn tập, mà cái gì mới thì học cho biết thêm; như thế thì học-thức càng ngày càng tiến, mới đáng làm thầy mà dạy người ta được.

43. Tử viết: Học nhi bất tư tắc võng; tư nhi bất học tắc đãi.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 4)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Chỉ học không mà chẳng chịu nghĩ, thì không biết ý nghĩa sách vở là thế nào, thành ra trong bụng mờ ám mà không hiểu. Chỉ nghĩ không mà không chịu học, thì không nhân sự lý cổ kim làm chuẩn-đích, thành ra trong bụng nghi ngại mà không được yên, nên học phải nghĩ mà nghĩ cũng phải học mới có ích.

44. Tử viết: Công hồ dị-đoan, tư hại giã dĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 4)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Không học theo đạo-lý chân chính mà đem tâm lực chuyên trị về những mối huyền-hoặc hoang-đường, ấy là có hại đến thân tâm vậy.

45. Tử viết: Do, hối nhữ tri chi hồ? Tri chi vi trí chi, bất trí vi bất tri, thị tri giã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 6)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử bảo ông Tử-Lộ rằng: Trò Do (tên ông Tử-Lộ)! mi có muốn cầu biết thì ta dạy mi; này, điều gì biết rồi thì mới tự nhận là biết, điều gì không biết thì cam tự nhận là không biết, thế tức là biết vậy.

46. Tử-Trương học can lộc. Tử viết: Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư tắc quả vưu; đa kiến khuyết đãi, thận hành kỳ dư tắc quả hối; ngôn quả vưu, hành quả hối, lộc tại kỳ trung hĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Vi-chính tờ 4).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Trương (học trò cao đệ đức Khổng-tử) học có ý cầu lộc, đức Khổng-tử bảo ông ấy rằng: Nghe nhiều lời lẽ của cổ-nhân, có điều gì nghi hoặc thì để khuyết đừng nói, còn điều gì không nghi thì cẩn thân mà nói, thế thì nói hẳn trúng lý mà ít bị chê trách. Thấy nhiều việc làm của cổ-nhân, có việc gì trong bụng lấy làm nguy-đãi thì bỏ khuyết đừng làm, còn việc gì trong bụng không lấy làm nguy-đãi nữa thì cẩn thận mà làm, thế thì làm hẳn hợp lẽ mà ít ph i hối hận. Nói ít bị chê trách, làm ít phải hối hận, thì người ta đều tin trọng, không cần phải cầu lộc mà lộc tức ở trong đó rồi.

47. Tử-viết: Quan-thư lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 7)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Lời lẽ trong thơ Quan-thư (Thơ Quan-thư tả vua Chu Văn-vương lấy bà Hậu-phi, lúc chưa lấy được thì buồn, lúc lấy được thì vui) tả tình vui mà không đến nỗi mê đắm, buồn mà không đến nỗi xót thương.

48. Tử-Hạ vấn viết: Xảo tiếu thuyến hề; mỹ mục miện hề; tố dĩ vi huyến hề; hà vị dã? Tử-viết: Hội sư hậu tố. Viết: Lễ hậu hồ? Tử-viết: Khởi dư giả Thương giã, thủy khả dữ ngôn Thi dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Bát-dật tờ 6)

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Hạ hỏi đức Khổng-tử rằng: cổ thi có câu: miệng cười mủm mỉm xinh biết chừng nào! mắt nhìn lóng lánh, đẹp biết chừng nào! có chất đẹp mà trang sức lại đẹp thêm thay! là ý nói gì vậy? Đức Khổng-tư đáp rằng: có chất đẹp thì trang sức mới đẹp thêm, cũng như có nền phấn trắng trước mà sự tô vẽ là sau vậy. Ông Tư-hạ hỏi tiếp rằng: Thế thì người có trung tín mới học lễ được, trung tín là trước mà lễ là sau. có phải không? Đức Khổng-tử khen rằng: Phát khởi được ý ta ấy là trò Thương (tên ông Tử-Hạ) vậy; nhân bàn thơ mà biết đạo học, không câu nệ ý nghĩa từng chương từng câu, như thế mới cùng nói nghĩa kinh Thi được vậy.

49. Tử-viết: Kiến hiền tư tề yên; kiến bất hiền nhi nội tử tỉnh dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Lý-nhân tờ 9)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: thấy người ta hơn mình thì nghĩ cố sức làm cho bằng người; thấy người ta không hiền thì xét trong mình có phạm điều gì giống người ta không; người hay kẻ dở cũng đều làm gương khuyến giới cho mình được vậy.

50. Tử-Lộ hữu văn, vị chi năng hành, duy khủng hữu văn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Công-dã-Trường tờ 12)

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Lộ có nghe điều gì hay mà chưa làm ngay được, thì trong lòng chỉ sợ lại có nghe sự khác mà làm không kịp, thực là người dốc chí lực hành vậy.

51. Tử-viết: Thập thất chi ấp tất hữu trung tín như Khâu giả yên, bất như Khâu chi hiếu học dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Công-dã-trường tờ 10)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: một cái ấp chỉ có mười nhà, dẫu là ấp nhỏ, hẳn cũng có người tư chất trung tín như Khâu (tên đức Khổng-tử) này vậy, mà không ai ham học như Khâu này.

52. Tử-viết: Tri chi giả bất như hiếu chi giả; hiếu chi giả bất như lạc chi giả.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho về thiên Ung-dã tờ 16)

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: kẻ học mới biết qua đạo-lý không bằng kẻ học đã chịu ham đạo lý: kẻ học mới lấy đạo lý làm ham không bằng kẻ học đã đến lấy đạo-lý làm vui.

53. Tử viết: Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ ư ngã Lão-Bành.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Truyền thuật sách vở đời xưa mà không làm mới, tin theo đạo lý thánh hiền đời xưa mà dốc một lòng ham mến, ta đây cũng trộm ví với ông Lão-Bành ta vậy

54. Tử viết: Mặc nhi chí chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện, hà hữu ư ngã tai.

(Xem trong bộ Tứ-thứ chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Trầm mặc suy nghĩ mà ghi nhớ những điều mình học được, học mà không khi nào biết chán, dạy người không khi nào biết mỏi, ta xét mình ta đã có được nết nào đâu.

55. Tử viết: Đức chi bất tu, học chi bất giảng, văn nghĩa bất năng tỉ, bất thiện bất năng cải, thị ngô ưu giã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tư nói: Đức tính không chau dồi, học-vấn không giảng cứu, nghe điều phải không hay theo, có điều chẳng-phải không hay đổi, ấy là những điều ta thường lấy làm lo vậy.

56. Tử viết: chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 17).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử dạy rằng: Kẻ học-giả nên chí ở đạo, giữ ở đức, nương ở nhân, chơi ở nghệ.

57. Tử viết: Gia ngã sổ niên, tốt dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 18).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: May ra trời thêm cho ta vài năm để trót công mà học kinh Dịch, thì minh lý sửa mình được, có thể không aến nỗi phạm phải điều quấy to.

58. Diệp-công vấn Khổng tử ư Tử-Lộ. Tử-Lộ bất đối. Tử viết: Nhữ hề bất viết: Kỳ vi nhân giã, phát phẫn vong thực, lạc dĩ vong ưu, bất tri lão chi tương chí vân nhĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 18).

DỊCH NGHĨA — Ông Diệp-công hỏi ông Tử-Lộ: đức Khổng-tử là người thế nào? ông Tử-Lộ không trả lời. Đức Khổng-tử bảo ông Tử-Lộ rằng: Sao mi không nói: ta là người chỉ ham học, lúc chưa biết thì phát phẫn để cầu biết mà quên cả ăn, lúc đã biết thì vui về đạo lý mà quên cả mọi sự lo, dẫu tuổi già sắp đến mà cũng không biết, ấy nhất sinh ta chỉ có thế mà thôi.

59. Ngã phi sinh nhi tri chi giả, hiếu cổ mẫn dĩ càu chi giả dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ thứ 18),

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử nói: Ta không phải là bậc sinh tri, chỉ là ham mến đạo lý thánh hiền đời xưa mà cần mẫn để cầu biết đó mà thôi.

60. Tử viết: Cái hữu bất tri nhi tác chi giả, ngã vô thị dã; đa văn trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, đa kiến nhi chí chi, trí chi thứ dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thuật-nhi tờ 19).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Dáng cũng có kẻ không biết sự lý mà cứ làm liều; ta đây không thế vậy. Ta nghe nhiều những câu nói của người trước, chọn được câu gì phải thì ta theo, thấy nhiều sự thực người trước làm mà ghi nhớ lấy, so với người thông biết sự lý, cũng được là hạng thứ vậy.

61. Tử viết: Hưng ư thi; lập ư lễ; thành ư nhạc.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 21).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: người ta biết hưng khởi cái lòng ham thiện ghét ác là đắc lực tại học thi; biết tự lập mà không bị vật dục động lòng là đắc lực tại học lễ; dưỡng thành đức tính người quân-tử là đắc lực tại học nhạc.

62. Tử viết: Học như bất cập, do khủng thất chi.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Thái-bá tờ 22).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Cố công cùng sức mà học như người đi sau theo không kịp người trước, chỉ sợ lạc mất người trước mà mình phải ở lại sau.

63. Nhan-Uyên vị nhiên thán viết: ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu-tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân, bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ. Dục bãi bất năng, ký kiệt ngô tài, như hữu sở lập trác nhĩ, tuy dục tòng chi, mạt do giã dĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 24).

DỊCH NGHĨA. — Ông Nhan-Uyên (họ trò cao đệ nhất của đức Khổng-tử) ngậm-ngùi mà tự than một mình rằng: Đạo học của thầy ta thâm viễn vô cùng, càng ngửa trông lên càng thấy cao, càng giùi vào càng thấy bền, mới trông thấy hình như ở trước mặt, phút chốc lại thấy ở sau lưng. Thầy ta khéo dẫn dụ người dần dần, trước lấy văn học dạy ta, cho ta được rộng thông sự lý, sau lấy lễ phép dạy ta, cho ta biết ước-thúc tâm thân. Ta vui được thầy khéo dạy, học không biết chán, hình như muốn thôi mà không thôi được, đã hết tài lực ta để học cho tới nơi, mà đạo-thể rất cao, như có cái gì lù-lù đứng trước mặt ta, trông thấy mà không tới gần được, dẫu cố muốn đi theo, cũng không làm thế nào được.

64. Tử-viết: Thí như vi sơn, vị thành nhất quĩ, chỉ ngô chỉ dã. Thí như bình-địa, tuy phúc nhất quĩ, tiến ngô vãng dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn tờ 25).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Việc học ví như người đắp núi, chỉ thiếu một sọt đất chưa thành mà lại thôi không làm, thế là tự mình thôi mà không làm vậy. Lại ví như đắp núi ở chỗ đất bằng, tuy mới đổ một sọt đất, mà cũng đắp lên mãi cho cao, thế là tự mình cố đi mà tới vậy.

65. Tử viết: Miêu nhi bất tú giả hữu hĩ phù; tú nhi bất thực giả hữu hĩ phù.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn quyển Thượng-luận về thiên Tử-hãn, tờ thứ 25).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Có giống lúa nào thành cây mà không đâm bông không? đâm bông mà không trỗ không? Người học mà không thành khác gì thế.

66. Quí-Lộ vấn sự quỉ thần. Tử viết: Vị năng sự nhân, yên năng sự quỉ. — Cảm vấn tử — Viết: vị tri sinh, yên tri tử.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Hạ-luận về thiên Tiên-tiến tờ thứ I).

DỊCH NGHĨA. — Ông Qui-Lộ (tức là ông Tử-Lộ) hỏi đạo thờ quỉ thần thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: chưa biết đạo thờ người, sao biết đạo thờ quỉ. Ông Qui-Lộ lại hỏi chết thế nào? Đức Khổng-tử đáp rằng: chưa biết lẽ sống, sao biết được lẽ chết.

67. Tử-Trương vấn minh. Tử viết: Tẩm nhuận chi trấm, phu thụ chi tố, bất hành yên, khả vị minh dã dĩ hĩ. Tẩm nhuận chi trấm, phu thụ chi tố, bất hành yên, khả vị viễn dã dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 6).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Trương (học trò cao-đệ đức Khổng-tử) hỏi thế nào là minh hiểu sự lý. Đức Khổng-tử đáp rằng: Có kẻ nói dèm người, thấm thía mỗi ngày một thì không vội, có kẻ kêu sự oan thiết tha hình như hại tới da thịt, mà tình thì là dối, mình không nghe lầm mà biết nó la trấm tố không thực, thế mới thật đáng gọi là minh trí, thế mới đáng gọi là biết xa, mà không mê về sự gần vậy.

68. Tử-Trương vấn sùng đức biện hoặc. Tử viết: chủ trung tín, tỉ nghĩa, sùng đức dã. Ái chi dục kỳ sinh, ố chi dục kỳ tử, ký dục kỳ sinh, hựu dục kỳ tử, thị hoặc dã.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 7)

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Trương hỏi làm thế nào mà cao trọng được đức tính mình, biện rõ được điều mê hoặc. Đức Khổng-tử đáp rằng: lấy trung tín làm chủ, thấy việc phải thì theo, ấy là làm cho cao trọng được đức tính mình vậy. Yêu ai thì muốn cho người ấy sống, ghét ai thì muốn cho người ấy chết, đã muốn cho người ta sống, lại muốn cho người ta chết, mà không hiểu sống chết vốn có mệnh trời, ấy là mê hoặc vậy.

69. Tử viết: Quân-tử bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất-bạn hĩ phù.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn quyển Thượng-luận về thiên Ung-dã tờ thứ 16).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Người quân-tử hay học văn mà rộng thông sự-lý, lại hay lấy lễ mà kiểm ước tâm thân, cũng có thể không trái với đạo trung vậy.

70. Tử-Trương vấn sĩ hà như tư khả vị đạt hĩ? Tử viết: Hà tai nhĩ sở vị đạt giả? Tử-Trương đối viết: Tại bang tất văn, tại gia tất văn. Tử viết: Thị văn dã, phi đạt dã. Phù đạt dã giả, chất trực nhi hiếu nghĩa, sát ngôn nhi quan sắc, lự dĩ hạ nhân, tại bang tất đạt, tại gia tất đạt. Phù văn dã giả, sắc thủ nhân nhi hành vi, cư chi bất nghi, tại bang tất văn, tại gia tất văn.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 8).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Trương hỏi người theo học thế nào thì gọi là thành đạt được? Đức Khổng-tử cật lại rằng: My bảo đạt là ý thế nào? Ông Tử-Trương thưa rằng: Ở nước thì nhất định có tiếng khen ở nước, ở nhà thì nhất định có tiếng khen ở nhà, thế gọi là đạt. Đức Khổng-tử đáp rằng: Thế là văn không phải là đạt. Này gọi là đạt là chất-thực chính trực mà ham làm điều phải, xét lời nói mà xem dáng điệu người ta, biết ý hướng người ta thế nào mà lo nghĩ để lui nhường người; có đức mà không kiêu, ở nước làm gì hẳn cũng được chót lọt, ở nhà làm gì hẳn cũng được chót lọt, ấy mới thực là đạt vậy Này gọi là văn là mặt ngoài lấy tiếng là nhân mà việc làm thực thì khác, lại tự nhận là nhân mà chẳng nghi để huyễn diệu người ngoài, nên ở nước thì nhất định có tiếng khen ở nước, ở nhà thì nhất định có tiếng khen ở nhà, ấy là văn mà không phải là đạt vậy.

71. Phàn-Trì tòng du ư Vũ-vu chi hạ, viết: Cảm vấn sùng đức, tu thắc, biện hoặc. Tử viết: Thiện tai vấn! Tiên sự hậu đắc, phi sùng đức dư? Công kỳ ác vô công nhân chi ác, phi tu thắc dư? Nhất triêu chi phẫn, vong kỳ thân dĩ cập kỳ thân, phi hoặc dư?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ 8).

DỊCH NGHĨA — Ông Phàn-Trì theo đức Khổng-tử chơi ở dưới đàn Vũ-vu, hỏi ngài rằng: Dám xin hỏi thầy thế nào thì tôn trọng được đức tính mình, sửa bỏ được điều gian ác, biện biệt được điều mê hoặc? Đức Khổng tử khen rằng: Câu hỏi ấy ý rất là ph i thay! Trước hãy cố làm việc, sau sẽ cầu được thành hiệu, thế chẳng phải là làm cho tôn trọng được đức tính mình dư? chỉ cố trị bỏ điều ác của mình mà không công kích điều ác của người, thế chẳng phải là làm cho sửa đổi được điều ác của mình dư? nhân cái sự bực tức một lúc, làm liều không nghĩ, quên cả hại thân mình để hai lây đến cha mẹ mình, thế chẳng phải là mê hoặc dư?

72. Tăng-tử viết: Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Nhan-Uyên tờ thứ 9).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tăng-tử nói: người quân tử lấy văn học mà họp nhau giảng tập cùng bầu bạn, lại lấy bầu bạn mà giúp mình làm nhân.

73. Tử viết: Tụng Thi tam bách, thụ chi dĩ chính bất đạt, sứ ư tứ-phương, bất năng chuyên đối, tuy đa diệc hề dĩ vi!

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Lộ tờ 10).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Dù học kinh Thi đến ba trăm thiên, mà nếu giao cho lấy chính-quyền, thì không thông đạt sự-lý, đi sứ bốn phương, thì không đối đáp một mình nổi, thế là học vô dụng, tuy học nhiều cũng không dùng làm gì.

74. Tử viết: Quân-tử thượng đạt, tiểu-nhân hạ đạt.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Quân-tử càng ngày càng tiến lên bậc trên; tiểu-nhân càng ngày càng lui xuống bậc dưới.

75. Tử viết: Cổ chi học giả vị kỷ; kim chi học giả vị nhân.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Hiến-vấn tờ 16).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Người xưa đi học là vì mình mà học, chỉ dụng thực lực cầu cho mình giỏi. Người nay đi học là vì người mà học, chỉ vụ hư-danh cầu cho người biết.

76. Tử viết: Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm dĩ tư, vô ích, bất như học dã.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Vệ-Linh-công tờ 22).

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử nói: Tôi thường có khi suốt ngày không ăn, suốt đêm không ngủ mà nghĩ ngợi sự lý, cũng không có ích gì; không bằng học những lời hay lẽ phải của người xưa còn có ích hơn vậy.

77. Tử viết: Do giã, nhữ văn lục ngôn lục tế hĩ hồ? Đối viết: Vị dã. Cư ngô ngữ nhữ: Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giã ngu: hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế giã đãng; hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế giã tặc; hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế giã giảo; hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế giã loạn; hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế giã cuồng.

(Xem trong bộ Tứ thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-hóa tờ 27)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử bảo ông Tử-Lộ rằng: Trò Do vậy, mày có nghe sáu điều hay có sáu điều tế hay không? Ông Tử-Lộ thưa rằng: Tôi chưa được nghe. Đức Khổng-tử nói: Ở đó, ta bảo mày: Này! muốn nhân mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra ngu; muốn trí mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra đãng; muốn tín mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra hại; muốn ở thẳng mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra táo-cấp; muốn dũng mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra loạn; muốn cương mà không muốn học, vậy cái tế đó thành ra cuồng.

78. Tử viết: Tiểu tử hà mạc học phù Thi; thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chí ư thảo mộc điểu thú chi danh.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-hóa tờ 28)

DỊCH NGHĨA. — Đức Khổng-tử dạy rằng: Những học-trò nhỏ kia sao không học kinh Thi; kinh Thi khá để mà hưng khởi cái lòng yêu lành ghét ác của mình, khá để mà xem biết sự phải sự trái của mình, khá để mà sum họp cùng người mà không đến thất hòa, khá để mà oán báng kẻ khác mà không đến quá giận; học được thì gần mà ở nhà thờ được cha cho trọn đạo, xa mà ở nước thờ được vua cho phải nghĩa, lại ghi nhớ được nhiều những tên cây cỏ chim muông, thật là có ích lắm.

79. Tử vị Bá-Ngư viết: Nhữ vi Chu-nam Thiệu-nam hĩ hồ? Nhân nhi bất vi Chu-nam Thiệu-nam, kỳ do chính tường diện nhi lập dã dư?

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Dương-hóa tờ 28).

DỊCH NGHĨA — Đức Khổng-tử bảo ông Bá-Ngư (con đức Khổng-tử tên là Khổng-Lý) rằng: Mày đã học thiên Chu-nam cùng thiên Thiệu-nam trong kinh Thi rồi chưa? Thiên Chu-nam cùng thiên Thiệu-nam nói những việc tu thân tề gia; người mà chẳng học hai thiên ấy thì không hiểu đạo tu thân tề gia, đó có khác gì người trở ngay mặt vào tường mà đứng, không thấy được một vật gì, không đi được một bước nào dư?

80. Tử-Hạ viết: Nhật tri kỳ sở vô, nguyệt vô vong kỳ sở năng, khả vị hiếu học dã dĩ hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Mỗi ngày lại mỗi biết thêm được những điều không biết, mỗi tháng lại mỗi nhắc lại không quên những điều mình đã hay, thế mới thực đáng gọi là người ham học vậy.

81. Tử-Hạ viết: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói: Học-vấn thì rộng thông, mà lập chí thì đôn-đốc, hỏi những sự thiết thực không phiếm, mà nghĩ những điều ti-cận dễ làm, nhân tức ở trong đó rồi.

82. Tử-Hạ viết: Bách công cư tứ dĩ thành kỳ sự. Quân-tử học dĩ chí kỳ đạo.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 33).

DỊCH NGHĨA — Ông Tử-Hạ nói Trăm thợ ở phố để làm thành nghề; người quân-tử siêng học để biết hết đạo.

83. Tử-Hạ viết: Sĩ nhi ưu tắc học; học nhi ưu tắc sĩ.

(Xem trong bộ Tứ thư chính-văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 34).

DỊCH NGHĨA. — Ông Tử-Hạ nói: Làm quan mà có sức thừa thì nên học thêm để bổ cái tri thức làm quan. Học mà có sức thừa thì nên ra làm quan để thực nghiệm những điều sở-học.

84. Vệ Công-tôn-Triều vấn ư Tử-Cống viết: Trọng-Ni yên học? Tử-Cống viết: Văn, Vũ chi đạo vị trụy ư địa, tại nhân; hiền giả thức kỳ đại giả; bất hiền giả thức kỳ tiểu giả; mạc bất hữu Văn Vũ chi đạo yên. Phu-tử yên bất học nhi diệc hà thuờng sư chi hữu.

(Xem trong bộ Tứ-thư chính văn chữ nho quyển Hạ-luận về thiên Tử-Trương tờ 35).

DỊCH NGHĨA. — Ngươi Công-tôn-Triều là quan Đại-phu nước Vệ hỏi ông Tử-Cống rằng: Ông Trọng-Ni (tên húy đức Khổng-tử) học đâu mà được như thế? Ông Tử-Cống trả lời rằng: Đạo thống vua Văn vua Vũ chưa nát mất ở dưới đất, còn lưu-truyền ở người ta: người hiền thì ghi nhớ được điều lớn, người không hiền thì ghi nhớ được điều nhỏ, không ai là không có đạo vua Văn vua Vũ. Thầy tôi không ở chỗ nào, không gặp người nào mà không học, mà cũng có thường lấy ai làm thầy đâu.

Hết chương 4

Chương sauQuyển trên · Loại thứ IV

Đọc chương 5 →

Bình luận về truyệnTrang truyện