Người hóa hổ

Chương 1: Người hóa hổ

Khoảng 12 phút đọc · 2.592 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận

Người Mèo gồm có hai loại khác nhau: Mèo-Trắng và Mèo-Đen. Giống này không được sạch sẽ bằng giống trên. Họ có cái tục rất lạ và rất bẩn là cái tục nằm tro. Vì sinh trưởng trên ngọn núi cao, quanh năm giá rét, họ phải vào rừng ngả gỗ lim về đốt thành tro rải nằm cho ấm. Trên mỗi ổ tro có phủ một lần vỏ sui làm nệm nhưng, mỗi lần họ ở ổ ra, người nào người ấy mặt mũi vẫn lấm lem gớm chết.

Giống Mèo-Đen lại thường có những chi họ cứ cách vài đời phải một người hóa hổ, tức như câu chuyện sau đây, tôi thuật đúng lời ông Hội Cảnh đã nói cho nghe. Chuyện cũng lạ, dễ gợi cho ta những nỗi kinh-hoàng vơ-vẩn, đối với cái đại bí-mật của Sơn-lâm.

* * *

Về tổng Lan-can, trong một động Mèo-Đen kia, có một nhà nghèo: một mẹ già, hai vợ chồng và một đứa con thơ mới độ mười bảy, mười tám tháng.

Bà mẹ tuổi đã già lắm; đầu lơ phơ mấy sợi tóc sương; răng móm sạch; quai hàm dưới đưa xất lên hàm trên, làm cho khổ mặt đã ngắn càng ngắn thêm. Hai má chũng, đổ vừa hai chén nước. Da mặt dăn như mặt ruộng cầy. Mắt hoắm vào, kèm nhèm, dấp dính. Cặp môi mím chặt lại, kéo dài ra thành một nét ngậm-ngùi, đau-khổ. Chân tay khẳng-khiu; lưng còng; dáng đi lẩy-bẩy tự hồ không còn đủ sức mang cái gánh nặng của năm tháng chồng-chất lên mình.

Con trai bà lão độ ba mươi, hình thù cũng xấu-xí như mẹ. Anh ta cử-động chậm-chạp, ít nói, vẻ mặt lúc nào cũng lạnh-lùng. Ăn mặc bẩn thỉu, áo quần hàng nửa tháng anh ta chưa buồn thay. Hai hàm răng anh cáu-bẩn, môi anh ướt nhớp-nháp, lúc nào cũng ngậm cái điếu can bằng đất. Vợ anh ta thì thấp bé xủn-xoẳn, nét mặt choắt vì cái khăn quấn hàng chục vòng quanh mái tóc. Mắt nhỏ tí, sáng lấp lánh như mắt rơi. Quanh năm, chị ta mặc cái áo xanh dài quá gối, ngoài khoác cái áo bông ngắn cụt tay. Hai cổ chân tù hãm trong đôi kha-cật trắng, bàn chân to như lưỡi cầy, xù xì da cóc. Chị ta cũng như chồng, lầm lầm ít nói. Có chăng những lúc đùa rỡn cùng con, chị mới nhoẻn miệng cười.

Cái không-khí trong gia-đình ấy lạnh-lùng, u-ám quá! Tuy cùng chung một máu-mủ, cùng sống dưới một nóc nhà, vậy mà mẹ, con, chồng, vợ, bà, cháu đối với nhau bỡ-ngỡ như những người xa lạ, tình-cờ gặp nhau trong một quán-trọ bên đường. Ngoài những lúc làm-lụng và hai bữa ăn, ai ngồi đâu ngồi đấy, hàng trống canh không nói một lời. Cái phần đời tình-cảm hình như bị họ vùi sâu xuống đáy lòng. Mà, phỏng thử, trong gia-đình ấy chẳng may có người nào bị tai-nạn, bị ốm-đau mà chết, những giọt lệ thương của những người kia có khi chảy vào trong. Tuy vậy, chắc hẳn họ cũng tin ở nhau về mối tình thân-yêu ngấm-ngầm ấy, chứ nếu không thì cuộc đời họ đìu-hiu, tăm-tối, cuộc đời chìm-đắm giữa mây mù kia chẳng thể nào có được.

* * *

Một buổi sáng, khi sắp cùng nhau đi làm cỏ nương, vợ hỏi chồng:

— Bà lại lên cơn nhiều thế, có nên để con ở nhà không?

Chồng, nghĩ ngợi một lát, đáp:

— Được, cứ để con ở nhà cho bà giữ. Trời nắng, đem nó theo không tiện; vả, nếu nó quấy thì ta còn làm lụng gì được.

Thế là nước bầu, cơm gói, hai vợ chồng thắt dao lên nương, để con ở nhà cho mẹ giữ.

Bấy giờ vào tiết tháng ba, lúa ngô đã đủ lá; nếu không làm cỏ ngay e không được ăn. Nương thì xa, mãi phía sau núi, phải vượt qua những khúc đường trâu chạy len-lỏi trong rừng...

Dân Mèo là một dân phá núi rất dữ. Họ đến ở đâu, việc trước nhất của họ là hãy ngả đổ một cánh rừng xuống, phơi khô mấy nắng rồi châm lửa đốt cháy để lấy đất trồng mầu. Trên những bãi tro ấy, trong khoảng cây đã cháy đen, chẳng bao lâu đã hiện ra những nương ngô, lúa, nha-phiến, đay, gai... Đến mùa sau, nếu những tro than đã bị mưa lùa sạch, còn trơ đất sỏi, thì họ lại phá lấn sang những cánh rừng bên cạnh, hoặc dọn nhà đi nơi khác, sống một đời phiêu-lưu...

Trên con đường hẻm, hai vợ chồng nhà nọ lẳng lặng cùng đi... Lẳng lặng đi, vì cả hai đều mải nghĩ. Vợ tỏ ra vẻ băn-khoăn: nhà nghèo, nếu không làm thì đói. Mà, đi làm xa, giao con thơ cho mẹ già ốm-yếu, chị chàng chẳng đành lòng. Tuy vậy, sự lo ngại của người vợ chưa thấm vào đâu, nếu đem so sánh với những ý-nghĩ gớm ghê nó đang xô-xát trong trí người chồng. Thực vậy, cái bệnh mà mẹ anh ta phải đã năm sáu hôm nay, anh để ý xem thấy nó rất khác thường. Cứ như lời mẹ anh đã nói nhỏ cùng anh thì, sau mỗi cơn sốt, suốt mình bà đau nhức không sao chịu được. Những chỗ kín, tự nhiên mọc lên rất nhiều lông lá và ở cùng xương sống, nhòi ra một mẩu thịt mỗi ngày mỗi dài thêm. Những ngón chân, ngón tay dần dần co quắp lại, móng dài ra và nhọn hoắt. Ghê hơn nữa là, chiều bữa qua, mẹ anh lên một cơn điên dữ dội, nó làm cho mắt bà sáng quắc, mồm sùi bọt; bà hung-hăng gào thét, xé áo xé quần chán rồi nằm vật ra sân, rẫy đành-đạch. Cứ những triệu chứng ấy, đích là mẹ anh sắp hóa hổ. Ba đời về trước, trong họ bà già cũng có người hóa hổ, trốn vào rừng. Anh ta buồn rầu lắm, vừa đi vừa nghĩ vơ nghĩ vẩn...

Trời ơi, cuộc đời con người ta sống giữa thiên-nhiên sao mà đeo-neo, đơn-độc, luôn luôn bị những bệnh não, những lo sợ nó giày vò.

Anh ta hốt-hoảng nhìn quanh: cảnh vật như biến đổi hẳn. Cả những cái rất thường cũng khiến anh đem lòng ngờ sợ. Nắng to làm khô cạn cả ngòi lạch, vàng úa cả hoa mầu; mưa lớn tràn ngập cả đồng-áng, lở xụt cả núi non; bão-táp vặn đổ cả cây cối, xiêu vẹo cả nhà cửa; sấm, chớp làm ù tai, hoa mắt, chết người, cháy rừng, hết thẩy đều được anh coi như những vật có linh-hồn, có cảm-giác, rất huyền-bí, rất hung-tàn, đáng cho loài người phải kinh-khiếp. Ngoài ra thì nào hùm gấu, sài-lang, rắn rết, đỉa vắt là những kẻ thù hàng ngày người ta phải đối-địch để giữ lấy sinh-mệnh của mình. Sau cùng đến cỏ rả, lau sậy thường lấn hiếp hoa mầu, luôn luôn định phá-hoại những công-cuộc mồ-hôi nước mắt của người ta. Cả đến những cây to trong rừng, mỗi khi bị chém gần đổ, cũng biết rên-rỉ lên để nguyền-rủa kẻ vác rìu đẵn gốc. Thành thử quanh mình anh ta chỉ thấy dặt những mặt thù! Mà, phỏng thử một ngày kia, loài người bị mất tích trên địa-cầu, thì «bọn cừu-địch» nọ chắc sẽ vui mừng xiết kể.

Những ý-nghĩ ghê gớm ấy, tuy vậy, chỉ lướt qua khối óc anh chàng, như một trận cuồng phong. Hết cơn thì trời lại quang, gió lại tạnh, cảnh-vật lại bình-tĩnh, êm-đềm. Những dân-tộc còn dã-man có lẽ họ sướng hơn mình về chỗ không lo nghĩ ấy. Suốt đời, họ chỉ là những trẻ thơ.

Vào đến nương, anh Mèo Đen ngẩng đầu thấy bầu trời chong vắt, ánh nắng tươi cười, cúi xuống dưới chân thì ruộng đồng bát-ngát, làng mạc lèo-tèo, anh ta lấy làm vui sướng lắm, tâm-hồn như mở rộng ra đón tiếp những cảm-giác êm-đềm, kỳ-lạ! Cuộc đời phong-tỏa trong mây ít được những ngày tốt đẹp như thế. Anh ta hát vang lên, hát những bài ca cổ-lỗ tả cái thời-đại hoàng-kim của nhân-loại. Về thời ấy, cỏ xấu không hề dám chen chân với ngô, thóc; lá ngô, lá đậu còn dùng làm thứ ăn được, và khi mầu vật chín tự khắc bay về nhà. Sau, chỉ vì một người đàn-bà hư, đến ngày ngô thóc về, không chịu quét dọn sàn bồ bịch, đến nỗi chúng lại phải trở ra đồng. Từ cái ngày ấy, người ta bắt đầu phải cực-khổ, cuộc sống bắt đầu hóa gian-nan, gay-gắt, vì cỏ xấu lấn mầu, lá ngô, lá đậu chỉ dùng để trâu, bò nhá và khi mầu vật chín, người ta phải cất công gặt-hái, đài-tải về.

Anh Mèo vừa làm vừa hát vang cả núi non; anh tiếc không có sẵn chiếc kèn lau để thổi một vài bài cho thích trí. Chị vợ, không cùng hát theo chồng, nhưng thỉnh-thoảng lại mỉm cười, tỏ ý cùng chia sự khoái-lạc.

Buổi trưa, hai vợ chồng nghỉ ngơi cơm nước một lát rồi lại làm cho đến lúc mặt trời xế bóng mới cùng nhau trở về. Qua cánh rừng ngậm bóng hai người về tới nhà thì ngày đã gần tàn.

Trái với mọi khi, trên nhà vắng ngắt. Bà già, con trẻ chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Giật mình, hai vợ chồng lại sực nhớ đến nỗi lo ngại sáng ngày, vội cùng nhau trèo lên thang thì... một cảnh-tượng hiện ra trước mắt, khiến cho hai người cùng kêu lên một tiếng xót-xa, kinh-hoảng. Bà già không thấy đâu nữa và, giữa sàn, xác đứa con thơ bị cắn xé tan nát, nằm trơ trên vũng máu đào!.. Người mẹ khốn nạn kêu rú lên một tiếng, ngã quay ra bất tỉnh. Run như rẽ, sắc mặt tái nhợt, người chồng cố nâng vợ dậy, lay gọi hồi lâu chị ta mới tỉnh dần lại...

— Ồ lối!... con tôi!...

Chồng thở dài một tiếng rồi ngồi ỳ ra; hai mắt giương thao láo; vẻ mặt nguội như tro tàn...

* * *

Sớm hôm sau, có người gọi to ở dưới cổng:

— Bố Slèng có nhà không?

— Ai hỏi gì?

— Có đi tìm bà cụ về không! Tối qua đến nhà tôi bắt mấy con gà!...

— À, ông Khán, vào đây đã!

Khách rửa chân lên nhà, nhìn cái cảnh-tượng thảm-thê nọ, cũng đem lòng ái-ngại:

— Thôi, bà cụ đã phải cái nghiệp như thế thì nên tìm cách bắt về nhốt lại. Nếu cứ để bà cụ lang-thang bắt gà, bắt vịt của người ta, e họ chửi rủa và bắn chết đấy!

Chủ nhà nhìn khách, hai giòng nước mắt tràn ướt hai gò má xanh-xao. Tấm lòng con đau-đớn, tủi cực bao nhiêu thì thương xót mẹ già bấy nhiêu. Phải, tuy con anh bị chết thảm-hại vì tay mẹ anh, song anh ta không hề oán trách vì anh biết rằng lúc bà ăn thịt cháu, chính là lúc bà đã mất hẳn tính người. Anh ta rất thẹn-thùng với người hàng-động, tưởng chừng không dám nhìn mặt ai nữa. Nhưng nay, nghe người khách nói, anh biết rằng cần phải nhờ hàng-động giúp anh bắt bà cụ về. Để mẹ lang-thang như thế, có khi đến chết bờ, chết bụi đâu mất, chỉ thêm sự đàm-tiếu cho thiên-hạ mà thôi. Đành rằng đem mẹ về rồi, ngày hai bữa, anh chịu khó vào rừng săn bắn kiếm thịt nuôi mẹ vậy. Người bệnh chắc chẳng sống được bao lâu, thì sự bắt buộc nọ hẳn cũng mau tránh được.

Nghĩ vậy, anh bảo người khách rằng:

— Ông nói phải lắm! Tôi cần bắt bà cháu về. Vậy, ông làm ơn nói giùm với anh em lại đây giúp tôi làm một cái cũi để nhốt bà cháu, chờ lúc nào bà cháu chết sẽ chôn cất cho, phải không?

— Được, thế bác làm sẵn cơm rượu để bà con ăn, tôi đi một lát sẽ đem người lại giúp.

. . . . . . . . . . . . . . . . . .

Ăn uống xong, mọi người tản vào rừng chặt gỗ đem về, rồi bổ lỗ, đẽo nín, chí chát, ồ-ạt chừng vài tiếng đồng-hồ đã dựng xong cái cũi lớn vững vàng. Chủ nhà pha nước mời, bá con nghỉ ngơi một lát đoạn kéo nhau về, dặn nếu còn cần đến họ việc gì, chỉ gọi một tiếng là sẽ có người lại giúp.

Vẩn vơ trong rừng rậm, anh Mèo một mình đi tìm mẹ. Anh đi đã lâu, chân đã mỏi, bụng đã đói, mà tuyệt nhiên không thấy dấu vết bà cụ đâu cả. Anh rất buồn, càng nhìn cái cảnh hoang vu, tịch-mịch quanh mình, càng đau lòng thương mẹ. Trời ơi! tuổi già gần kề miệng lỗ, nếu mẹ chết ngay đi lại được mát mẻ tấm thân và cũng đỡ cho lòng anh phải đau thẹn biết chừng nào! Rồi anh tự giận mình không biết lo xa, để đến nỗi con anh phải chết thảm chết hại, mẹ anh phải lẩn lút vào rừng. Chỉ vì anh vụng tính nên ngoài cái khổ mất mẹ, vợ chồng anh còn phải đeo thêm cái khổ mất con. Chỉ vì anh mà tấm lòng thương xót của vợ anh đối với mẹ chồng thành ra bị giảm mất một phần to vì sự oán thù, ghê tởm!... Anh ôm mặt khóc thút-thít hồi lâu, thề rằng không tìm thấy mẹ thì quyết không bao giờ trở về.

Lúc quá trưa, anh Mèo lần đến một cái hang đá, xa nom thấp-thoáng bóng người. Anh vội rẽ lau chạy đến. Quả nhiên thấy mẹ anh ngồi trơ-vơ ở cửa hang với một nắm lông gà. Bà cụ bấy giờ đã mất hết áo xống. Toàn thân lông-lá mọc đầy, sắc đỏ như lông bò non. Người nom gầy trơ xương, hai cái vú cạn sữa buông thõng xuống như hai cái bị bẹp, mồm miệng máu-me loe-loét, hai mắt hốt-hoảng như đã mất hết trí-khôn. Anh Mèo phục xuống trước mặt mẹ khóc như mưa. Nhìn thấy tình trạng ấy, trong trí-khôn hấp-hối của bà già hình như còn lòe ra được một tia sáng hiểu biết, bà cũng ứa nước mắt trông con.

— Mẹ à! về đi. Về với con nè! Ở đây chết mất thôi!..

Bà già gật đầu, đứng dậy theo con. Đến nơi nhìn thấy cái cũi, bà hốt hoảng giật lùi định chạy. Anh mèo chắp tay van, bà già cúi đầu ngẫm-nghĩ, sau bỗng gào khóc lên mấy tiếng, nhảy xổ vào trong cũi, cánh cửa xập buông rầm một tiếng thê thảm...

Anh Mèo từ đấy ngày ngày vác nỏ vào rừng kiếm thịt nuôi mẹ vì cơm cháo bà già không chịu dụng hột nào nữa. Dần dần, bà ta mỗi ngày một dữ tợn quá. Nhất là những lúc lên cơn, bà gào thét lồng lộn hệt như một con hùm. Anh Mèo, nghĩ để mẹ sống như thế chỉ thêm khổ-nhục, bèn lấy thuốc độc trộn vào thịt cho mẹ ăn. Cái chết ấy kể ra khí tàn-nhẫn, nhưng sớm đã kết-liễu được bao nỗi đau lòng!..

Hết chương 1

Đây là chương mới nhất. Thêm truyện vào tủ để được báo khi có chương mới.

Bình luận về truyệnTrang truyện