TIỀN-CĂN BÁO-HẬU
後報根前
Bá-tước Mông-tê Cà-rít-tô sự tích
(của ông Alexandre DUMAS cha soạn)
Traduit par
CUỐN THỨ TƯ
In lần đầu 1000 cuốn
Giá mỗi cuốn...... 0 $ 30
(Cấm không được in theo nguyên bổn)
Sách nào không đóng con dấu sau đây là sách gian chẳng nên mua.
XVI
Cao-tăng
Đăn-tết liền ôm người ấy đoạn kéo lại gần dưới lổ xả hơi, nhờ chút yến sáng mà nhìn mặt người mình trông đợi bấy lâu, liền thấy hình vóc nhỏ thó, tóc bạc vì khổ sở, chớ chẳng phải vì già.
Con mắt sâu, chang-mày rậm mà hoa râm, râu dài đến ngực mà hởi còn xanh, mặt mày ốm gầy, tráng cao, trông vào thì biết người nầy hay vận trù quyết sách, chẳng phải là tay phàm nhơn tục tữ tầm thường. Quần áo tã tơi chẳng còn một manh lành lẻ.
Mới thấy thì tưởng tuổi đã quá lục-tuần, mà xem kỹ lại thì chưa đầy nhỉ thuận. Thấy Đăn-tết hâm hở hoan tâm nghinh tiếp mình thì có lòng mừng, vì bấy lâu đã khôi tâm, nay gặp được kẻ đồng thinh đồng khí và rất nhiệt thành thì lần lần mũi lòng, cám cảnh, tuy tưởng là mình đào thấu ra ngoài mà thoác nạn, ai hay lại lọt vào khám khác mặc lòng, chớ cũng chẳng buồn, bèn nói với Đăn-tết rằng: Để ta thữ làm cho nhẹm, đừng cho ngục-tốt thấy được cái đường ta qua lại khám ngươi, vì cuộc mình khỉ đoan đây thành hay bại, đều bởi nơi đó mà ra.
Nói rồi bèn cúi xuống ôm cụt đá, tuy lớn, mà giở nổi như chơi, đem lại lấp miệng lổ tường, rồi nói rằng: Nhà ngươi không có khí-nghệ sao, cho nên mới cạy đá phá tường một cách rất vụng về như vậy?
— Còn ông, ông có khí-nghệ chăng?
— Ta vẩn còn thiếu có một cái dũa mà thôi, chớ nào đụt, kềm, xà-ben gì ta đều có sẳn.
— Cha chả, tôi muốn thấy những đồ cũa ông chịu khó nhọc mà tạo ra được như vậy.
— Ta có đem theo đây một cái đụt.
Nói rồi, giơ ra một cái đụt, làm bằng miếng sắt nhọn, tra vào cán bằng cây.
— Ông lấy sắt đâu mà làm được vậy?
— Ta lấy song giường mà làm. Nhờ nó mà ta đã đào từ đó đến giờ được 12 thước Langsa, đường han qua đến khám ngươi đây.
— Cha chả, ông đã đào được 12 thước lận sao?
— Nói nho nhỏ vậy mà, vì nhiều khi ngục-tốt hay rình nghe ngoài cữa khám.
— Hề gì, họ biết tôi có một mình thôi.
— Tuy vậy, mà phải đề phòng thì hay hơn.
— Té ra ông đã đào được 12 thước mới tới khám tôi sao?
— Phải, vì từ khám ta đến khám ngươi đo được 12 thước. Tại ta thiếu đồ nên tính sái. Ta tưởng đào thẳng ra vách thành, đặng ló ra biển mà trôn, ai dè đâu ta đào sái qua ngã nầy, thì kế đây có sân đầy những lính canh gác, trốn sao cho được, thiệt là luống công vô ích.
— Ấy là một mặt khám, còn ba mặt kia chi.
— Phải, mà mặt thứ nhì thì đụng núi, đào biết chừng nào cho thấu, mặt thứ ba đụng dinh quan Tổng-trấn, còn mặt thứ tư chưa rỏ đụng về đâu. Ấy vậy ngươi hãy đem cái bàn nầy lại gần lổ-xã-hơi, đứng lên đó đặng ta leo lên vai ngươi dòm coi nó đụng về đâu.
Đăn-tết vâng lời làm y như vậy.
Cao-tăng bèn leo lên vai Đăn-tết lẹ làn, dòm ra ngoài một hồi, đoạn nhảy xuống đất mà nói rằng: Cái mặt khám thứ tư cũa ngươi đây, thì ăn với hiên ngoài, đâu đó có lính gác đi qua đi lại đó luôn.
— Ông chắc vậy chăng?
— Ta dòm thấy chót nón và đầu lưởi lê cũa lính, nên ta mới sụt xuống đây, vì sợ nó thấy.
— Rồi sao?
— Như thế thì không sao trốn khỏi được.
— Thì ông mới tính làm sao?
— Ta cứ vâng theo ý Chúa.
Đăn-tết nghe nói vậy bèn ngó ông Cao-tăng mà lấy làm lạ, đã bấy lâu chịu khỗ sở đào phá, đến nay lại ngã lòng đánh liều tới đâu hay đó, lấy làm lạ rồi lại khen thầm mà nói rằng: Bây giờ tôi cúi xin ông nói cho tôi rỏ tôn tích làm sao mà phải vào chốn ni?
— Nay ta vô kế khả thi, chẳng còn giấu giếm chi với ngươi.
— Tuy vô kế khả thi mặc lòng, chớ ông đũ sức mà an ủi tôi, bỉ sữ tôi, vì ông là người tót chúng trong đám tài lực.
Cao-tăng thấy nói vậy buồn cười mà nói rằng: Ta là bần-tăng pháp danh Pha-ri-a, bị giam tại Đại thiên-lao nầy từ năm 1811, mà tự ba năm nay họ nhốt ta trong đồn Phơ-nết-trenh. Năm 1811 họ bắt ta mà giam tại khám Bi-ê-mông, rồi họ giải ta qua nước Langsa. Nhờ vậy mà ta biết đặng rằng Hoàng-đế Na-bô-lê-ông sanh đặng một hoàng-nhi phong tước là La-mả-vương. Nên khi ta nghe ngươi nói hồi nảy ta lấy làm lạ, ai dè đâu cái người cữ đảnh bạc san vậy, mà bị chúng xua nỗi. Ấy vậy ngươi hảy cho ta rỏ nay vua nào ở ngôi, có phải là Na-bô-lê-ông thứ nhì chăng?
— Dạ không, mà nay là vua Lù-y thứ 18 trị thế.
— Vua Lù-y thứ 18 là em vua Lù-y thứ 16, thiệt thiên cơ mầu nhiệm lạ lùng. Ý Thiên-công khó rỏ, vì sao lại hạ người mình đã cho lên ngôi, rồi thượng người mình đã hạ, cho lên ngôi lại vậy?
Đăn-tết thấy Cao-tăng quên việc khốn cũa mình mà đi lo việc số hệ bao đồng thế gian rứa, thì lại càng lấy làm lạ hơn nữa.
Cao-tăng lại than rằng: Thế cuộc tại nước Langsa cũng chẳng khác nào thế cuộc Hồng-mao. Vua Sạt thứ nhứt bị ngươi Cà-rom-hoenh tím vị, Cà-rom-hoen mất thì vua Sạt thứ hai trị vì; đây có lẻ chừng vua Rắc thứ hai băng rồi sẻ có hoặc rể, hoặc cháu là Ô-răn-vương sẻ lên ngôi báu, được như vậy thì dân chúng sẻ hưởng cuộc tự do thái bình.
Tiên liệu như vậy rồi bèn day lại ngó Đăn-tết mà nói rằng: Ngươi hởi còn thanh niên, sẻ thấy được cuộc như thế chẳng sai.
— Dạ, là khi nào tôi thoác khỏi chốn nầy kìa.
— À, phải, vẩn ta là người bị giam mà nhiều khi ta quên lững, là vì tuy thân tại ly tiết chi trung, chớ tâm thần tại ngoại.
— Vì cớ nào mà ông bị cầm nhốt tại đây.
— Là vì trong năm 1807 ta hi vọng ước mơ cái cuộc mà hoàng-đế Na-bô-lê-ông qua năm 1811 muốn lập thành, lá vì ta đồng ý kiến với Ma-si-ê-venh tiên-sanh chẳng muốn thấy xứ I-ta-li phân chia xắc manh, xắc mũng cho các tiểu-chúa chư hầu cai trị mà áp chế nhơn dân, ước sao cho được qui nhứt thống đại bang cường thạnh, là vì ta tưởng đã gặp được minh-quân, ai dè đâu bị đồ khỉ ướt đội mũ nó phãn ta.
Sự ta hi vọng ấy cũng là việc trù nghĩ cũa vua A-lec-xăn thứ 6, và vua Cà-lê-măn thứ 7; song khó mà thành, thậm chí đến Na-bô-lê-ông cũng làm hư việc. Quả là xứ I-ta-li bị ai trù ẻo, nên mới mạt mới suôi tới giá.
Cao-tăng nói rồi cúi đầu thở ra mà suy nghĩ.
Đăn-tết khôn hiểu vì sao mà ông ấy lại đi lo việc mênh-mông bao đồng dường ấy, liều mạng sống đi gánh vác việc lộng hiểm như thế kià. Đăn-tết có gặp Hoàng-đế Na-bô-lê-ông một lần, mà chớ hề biêt vua A-lec-xăn và vua Cà-lê-măn là ai, nên mới lấy làm lạ như vậy.
Đăn-tết nhớ trực lại rằng trong khám chúng ngục-tốt cho Cao-tăng là người cuồn-tâm, bèn hỏi rằng:
— Ông có phải là người mà thiên hạ trong Đại-thiên-lao đây cho là...... đau chăng?
— Ngươi muốn nói thiên hạ cho ta là đứa điên phải không?
— Dạ, tôi không dám vậy.
— Phải, phải, ta giã điên giã cuồn, làm cho thiên hạ trong khám nầy dị nghị cười chê đã lâu, nếu trong chốn khổ sở nầy mà có con nít, thì con nít cũng sẻ ưa cái điên, cái cuồn cũa ta đó.
Đăn-tết ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi rằng:
— Mà nay ông bỏ liều không mong thoác khỏi chổ nầy nữa sao?
— Vì ta thấy khó thành, nếu mà cượng cầu thì chẳng khác nào bẻ nạng chống trời, lấy ngao lường biển đó.
— Sao ông lại ngả lòng, vì việc nầy chẳng phải một ngày một bữa gì mà mong vừa ý liền. Nay ông đào sái dầm, thì nên đào lại ngã khác.
— Vậy chớ ngươi có rỏ công cáng ta bao lăm chăng mà ngươi dám luận phải bỏ hết mà khĩ sự đào ngã khác vậy?
Ngươi có biết rằng ta đã ra công bốn năm trường mới tạo thành các khí-cụ đó chăng? Ngươi có biết rằng hai năm trường ta cong lưng đào đất cứng như đá núi mới qua được bên đây chăng? Ngươi có hiểu ta cam khổ biết bao đặng mà cạy từ miếng xi-măn, rung rinh từ cụt đá chăng? Ngươi có biết rằng ta phải đào một lổ khác dọc theo dưới dạ thang đặng mà giấu nhẹm hồ, xi-măn và đất đào lỗ nầy chăng? Mà nay lổ ấy đã đầy cứng rồi, không biết đem đất đào đó mà giấu nơi mô, ngươi có biết chăng?
Ngươi biết ta chịu khổ sở như vậy đặng trông ra khỏi khám nầy, mà nay việc đã bất thành, hết trông hết đợi, ắt là ý Chúa định vậy thì ta thề quyết từ nầy về sau ta không thèm lo thoác nạn nữa đâu.
Đăn-tết nghe Cao-tăng nói vậy, liền cúi đầu mà thở ra, vì mắc đang vui mừng gặp được người đồng chí quá lẻ, nên không kịp có lòng ái truất với kẻ thất tình.
Cao-tăng ngồi đại xuống giường Đăn-tết, còn anh ta thì cứ đứng mà nói chuyện.
Trước khi, Đăn-tết chẳng hề nghĩ đến việc vược ngục bao giờ, mà ở đời có nhiều lúc thấy cuộc khó gở, thì ai ai cũng bỏ liều, đến đâu hay đó, không hơi nào mà suy nghĩ chi cho mệt trí. Vã lại muốn vược cho nhẹm thì phải đào han đào hầm, từ khám tối đó cho tới mé biển, phải đào ít nữa là ba bốn chục thước Lang-sa, đào ba bốn năm mới rồi. Đoạn, từ lổ hầm đó mà nhảy xuống cho tới mặt biển, đo ước cũng được năm bảy chục thước bề cao, rủi trúng nhầm đá lổ đầu vở óc, như vô phước mà lính gác nó thấy thì tánh mạng nan tồn, ví bằng thoác được thì lại phãi lội năm ba ngàn thước mới gặp được cù-lao. Như thế khó mà mong vược ngục, Đăn-tết gần ngã lòng rũng chí, đánh liều nhắm mắt giơ chơn.
Song le nay Đăn-tết thấy Cao-tăng tuy đã tuổi cao tác lớn mà hởi còn mong lòng vược ngục thì chàng va mới trù nghĩ đo lường cái tài lực đởm đương cũa mình như vầy: Người ta đã nghĩ đến việc bôn đào, còn mình nay hỡi thanh niên, cái gì lại chịu liều như thế. Người ta già yếu hơn mình, mà người ta đã ra sức kiếm tìm đồ khí cụ đặng ra tay đào hầm mở han, nay vì tính sái mà hoại việc; người ta làm được như vậy thì có lẻ mình sẻ làm hơn đó được mà. Cao-tăng đã đào được ba bốn chục thước, thì mình còn trai tráng sẻ đào được sáu bảy chục thước. Cao-tăng nay đã 50 tuổi cong lưng đào ba năm trường, còn mình mới 25 tuổi, mình sẻ đào mau hơn. Người ta là tay thông thái, thân tu hành mà người ta còn dám mong lòng lội biển đặng kiếm cù-lao mà tị nạn, còn mình là bạn biển, lội hay, lặn giỏi, cái gì không dám lội bốn năm ngàn thước đi tìm cù-lao sao?
Hồi chưa bị hàm oan, nhiều lúc lội biển vài canh không biết mệt, nay thấy chúng đã gầy đầu, Đăn-tết chắc sẻ làm theo.
Đăn-tết đứng suy nghĩ một hồi bèn thưa với Cao-tăng rằng:
— Những chuyện ông ước mơ, tôi đã tìm được thế thần rồi.
Cao-tăng nghe nói giựt mình, bèn hỏi rằng: Ngươi tìm được thế thần rồi sao? Hảy bày tỏ cho ta rỏ với.
— Cái han ông đào mà qua đến khám tôi đây, phải là chạy dọc theo hiên ngoài không?
— Phải.
— Từ hầm ông đào rồi, đo qua hiên ngoài đó chừng vài chục thước phải không?
— Phải, chững thế.
— Ấy vậy mình bắt giữa chặn hầm mà đào một ngách trỗ ra cho thấu dưới hiên ngoài, rồi mình đào trổ lên mặt đất, nhảy bắt lính gác giết phức đi, rồi ông với tôi vược ngục. Việc như vậy tôi tưỡng không khó làm đâu, miễn là cho có lòng cang đởm, lực bạt và nhẩn nại thì được, mà ba đều ấy chúng ta đây sẳn có trong tay.
— Ngươi luận thì nghe phải lắm. Song từ ngày ta gia tâm mà đào hầm đặng vược ngục thì ta chĩ lo bao nhiêu đó, chớ không có ý sát nhơn, thiệt là ta chẳng hề dám như rứa.
Đăn-tết nghe nói vậy, lấy làm lạ thì Cao-tăng nói tới rằng:
— Vậy thì sao từ ngày thọ hàm oan đến giờ ngươi không bẻ chưn giường, lừa dịp ngục-tốt vào khám mà đập nó chết, rồi lấy y phục nó mang vô mình đặng trà trộn với lính mà bôn đào.
— Ấy là tại tôi chưa trù nghĩ kịp đến đều ấy.
— Ấy là tại lòng người hay gớm ghê việc sát sanh, nên trí khôn ngươi chẳng hề nghỉ đến, chớ gì. Bởi vì trong thế cuộc việc chi làm mà không mang tội lỗi, thì tự nhiên trí khôn ta nó nghĩ đến luôn luôn, chẳng hề quên đâu. Giả sữ như cọp hùm, bổn tánh nó hay ưa đổ máu thú vật cùng là loài người. Miển là cho nó đánh hơi được rằng có mồi, có thịt gần bên, thì nó liền ra tay, nhảy phủ, xé cắng mà ăn. Bỗn tánh như thế, hùm cọp phải vưng theo, chẳng hề cừ cượng được bao giờ.
Chí như người với người ai đi nở hại mạng sanh linh, ấy chẳng phải là tại luật nước nghiêm cấm mà người chẳng nên giết người, chẳng qua tại bỗn tánh tự nhiên, luật tự nhiên bảo người chẳng nên giết người mà thôi.
Đăn-tết nghe Cao-tăng luận vậy bèn hổ thầm trong dạ, vì bây lâu anh ta cũng có nghĩ như thế trong trí, hoặc trong linh tánh, ấy là lổi tại cái tư tưởng mình có khi bởi nảo cân mà phát lộ, mà có lúc lại ở nơi lòng mình, nơi trái-tim mình mà nghỉ ra.
Cao-tăng nói:
— Vả lại từ ngày ta vào Đại-thiên-lao cho đến nay cũng gần được 12 năm trời, thì trong trí ta cứ nhớ đến các cuộc phá khám, vược ngục có tiếng xưa nay, thì thấy ít ai làm cho thành công lắm. Những cuộc vược ngục mà thành tựu là cuộc trù nghĩ đáo để, lo làm kĩ cang như ông Công-tước Bô-pho vược ngục Hoánh-xen, ông Cao-tăng Đư-bư-qua vược ngục Pho-lê-véc, và ông La-tứt vược khám Bát-tinh (Bastille). Vậy mà cũng có một hai đám nhờ việc may mắng mà vược ngục được, ấy là không cuộc nào bằng. Nên ta phải đợi dịp tốt mà thừa, thì hay hơn là việc trầm tư bách kế.
— Phần ông thì ông hèn lâu đã đợi chờ dịp tốt; mỗi ngày ông đào một thí, ấy cùng là một thú vui, còn như ngày nào ông không đào thì ông lại còn cuộc mơ ước nó làm cho giãi cơn phiền được.
— Phải, vì ta chẳng phải làm có bây nhiêu việc ấy đâu.
— Vậy chớ ông còn làm những việc chi nữa.
— Khi thì ta viết, lúc lại ta ôn cố tri tâm.
— Té vậy họ có phát giấy, viết, mực cho ông sao?
— Không, họ đời nào phát cho mình, mình tạo ra mà xài lấy,
— Ông một mình tạo viết, mực, giấy được sao?
— Sao lại không được.
Đăn-tết nghe vậy, ngó sững Cao-tăng mà bán tín bán nghi.
Cao-tăng thấy vậy bèn nói rằng:
— Chừng nào ngươi qua khám ta chơi ta sẻ cho ngươi xem cuốn sách ta đã soạn rồi, là sách biên các việc ta trù nghỉ tìm kiếm xưa nay, sách ấy cương mục đề là: Tạo-Y-đại-lợi chi Tỗng-vương-quyền. Sau mà ấn hành thì sẻ thành ra một bổn to đại.
— Ông viết đã tất tay rồi chưa?
— Rồi, ta dùng hai cái áo lót mồ hồi, dọn lại mà viết vào đó.
— Ông biết phép Hóa-học sao mà dọn được vậy?
— Ta biết chút đỉnh, nhờ khi trước ta có lân la với ông La-hoa-dẻ và ông Cà-ba-nít là hai ông Hóa-học-gia có danh.
Làm sách như thế thì phải dùng sữ-ký, vậy mà ông lấy sách ở đâu mà làm được?
— Tại Rô-ma khi trước ta có được hơn 5000 cuốn tại thơ-phòng. Vẫn ta năng đọc đi đọc lại sách ấy nhiều lần thì ta thấy một đều rất tiện là lọc lại lấy chừng 150 cuốn, thì đũ hiểu được các cuộc học thức thế-gian, ít nữa là gồm được các đều con người phải biết. Trọn ba năm trời ta chuyên coi 150 thứ sách ấy, cho nên ta đã nằm lòng ráo, rồi kế đó ta bị bắt. Khi ta vào khám tối, miển là chịu khó định tâm một chút, tức thì ta nhớ từ đầu đến cuối. Bởi vậy các thứ sách danh-thơ, ngươi muốn bảo ta đọc thuộc lòng cuốn chi, ta sẻ đọc lại cho ngươi hãn dạ.
— Như thế thì ông biết được nhiều thứ tiếng?
— Ta chỉnh biết được năm thứ tiếng, những là tiếng Đức (A-lê-măn), tiếng Pháp (Langsa), tiếng Ý (I-ta-li), tiếng Anh (Ăng-lê), và tiếng Tây-ban-nha (Y-pha-nho) lại nhờ tiếng Hy-lạp (Ca-rết) xưa mà biết được tiếng Hy-lạp nay, song ta nói không đúng cho mấy, nên ta đang ôn cố.
Ông ôn cố tiếng Hy-lạp sao?
— Phải, ta có lập ra một cuốn tự-vị con, đam những tiếng ta đã biết rồi vào đó, trộn đi trộn lại, sang qua sớt lại đặng cho đũ mà tỏa cái trí tư tưởng cũa ta ra. Ta đã thuộc lòng gần được một ngàn tiếng Hy-lạp, tuy tiếng Hy-lạp có hơn 10 muôn tiếng, mà ta biết chừng một ngàn, cũng đã đũ dùng. Thiệt nếu muốn cho ta đặt để cao kỳ thì khó, chớ nói việc tầm thường, làm cho ai cũng đều hiểu được, thì ta đũ dùng.
Đăn-tết nghe nói vậy lại càng khâm phục Cao-tăng, song vì muốn vấn nạn thêm, nên mới nói rằng:
— Ông nói họ không có phát viết mực, như vậy ông lấy chi mà làm ngòi đặng viết sách ông ra được?
— Ta lấy xương đầu cá họ phát cho mình ăn trong các ngày không cho ăn thịt đó. mà làm ra rất tốt hơn ngòi viết thường bội phần. Bởi đó mổi tuần ta trông cho đến ngày thứ tư, thứ sáu và thứ bảy đặng lấy xương cá dự trữ đó sau có mà dùng. Nhờ vậy mà ta viết truyện giải khuây được, nhớ việc xưa mà quên việc nay, ta tung hoành trong vòng tư tưởng mà quên được cuộc trăng trói chổ ni.
— Còn mực, ông lấy cái gì làm ra mà dùng?
— Vẫn trong khám ta khi trước có một cái lò lữa có ống khói thông lên trời, khi họ đam ta giam vô khám thì họ đã bịt lại rồi, thân trong lò lữa không thiếu gì là lọ nghẹ. Ta lấy lọ nghẹ hòa vào rượu chát mà mỗi bữa chúa nhựt họ đem cho ta uống đó, thì ta có mực dư giã để xài. Còn mấy đoạn sách nào đại khái thì ta dùng mực đỏ, là máu ta chích đầu ngón tay lấy ra mà viết.
— Chừng nào ông cho tôi coi các món ấy?
— Chừng nào cũng được.
— Tôi muốn coi bây giờ được không?
— Vậy thì ngươi hãy theo ta.
Nói rồi Cao-tăng chun trước xuống hầm, Đăn-tết nối gót theo sau.