Truyện ngắn Nam Cao

Chương 7: Đôi lứa xứng đôi

Khoảng 111 phút đọc · 24.450 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

TỰA

Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ-mộng và hùa nhau « phụng sự » cái thị hiếu tầm-thường của độc-giả, ông Nam-Cao đã mạnh-bạo đi theo một lối riêng, nghĩa là ông đã không thèm đếm sỉa đến cái sở thích của độc giả. Những cạnh của tài ông đã đem đến cho văn-chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên-chức của mình.

Quyển « ĐÔI LỨA XỨNG ĐÔI » có được độc-giả hoan nghênh hay không, đó là một điều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông Nam-Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình.

Những cạnh sắc ấy, nếu ông cứ giữ cho nó sắc mãi thì chúng ta có thể tin ở tương-lai văn-nghiệp ông. Vườn văn Việt-Nam thiếu những bông hoa lạ, thiếu những nghệ-sĩ táo-bạo, thiếu những bản-thể đặc-biệt.

⁂

Dám nói và dám viết những cái khác người, ông Nam-Cao đã đem đến cho ta những khoái-cảm mới mẻ, và ông đã tỏ ra một người có can-đảm.

Tôi yêu sự can-đảm của ngòi bút ông cũng như tôi yêu những thể văn đã vượt được ra ngoài khuôn-sáo thông-thường, nên tôi sung-sướng viết mấy giòng này để giới-thiệu ông với độc-giả.

Láng, le 22-10-41,

LÊ VĂN TRƯƠNG

Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi giời. Có hề gì? giời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ-đại. Nhưng cả làng Vũ-đại, ai cũng tự nhủ: « Chắc nó trừ mình ra! » Không ai lên tiếng cả. Tức thật! tức thật! ồ! thế này thì tức thật! tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông-nỗi này? A hà! phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra thằng Chí-Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí-Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí-Phèo? Có mà giời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ-đại cũng không ai biết...

⁂

Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương, đã thấy hắn trần-truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không; anh ta rước lấy và đem cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bây giờ là cụ bá Kiến, ăn tiên-chỉ làng. Hình như có mấy lần bà ba nhà ông lý, — còn trẻ lắm mà lại cứ hay ốm lửng — bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình thì hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này. Người bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì lại hay đau lưng lắm; những người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khỏe ghen. Có người bảo ông lý ghen với anh canh-điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói. Có người thì lại bảo anh canh-điền ấy được bà ba — quyền thu quyền bổ trong nhà — tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người nói một cách chẳng biết đâu mà lần, chỉ biết có một hôm Chí bị người ta giải huyện rồi nghe đâu phải đi ở tù. Không biết tù mấy năm, nhưng hắn biệt tăm đến bẩy, tám năm. Rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng-cá! cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rắn cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh ra, đầy những nét chàm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!

Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy bộ-điệu hung-hăng của hắn, bà cả dừa bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chẳng. Mắc cái phải cái thằng liều-lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm cầm cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó có chửi thì tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe! Thành thử chỉ có ba con chó ra giây điều. Ba con chó dữ với một thằng say rượu!... thật là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả: xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà chửi mới sướng miệng làm sao! mới ngoa-ngoắt làm sao! Họ bảo nhau: Phen này cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! mồ mả tổ tiên đến lộn lên mất! Cũng có người hiền-lành hơn thì bảo: « Phúc đời nhà nó, chắc ông lý không có nhà... » Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá, nổi tiếng là hách dịch, coi người như rơm như rác. Phải, ông lý Cường thử có nhà xem nào! Quả nhiên, họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người nói sang sảng quát: « Mày muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mày muốn lôi thôi cái gì?... » Đã bảo mà! cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường. Lý Cường đã về! lý Cường đã về! phải biết... a ha!.. Một cái tát rất kêu. Ồ! cái gì thế này?.. Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi, cứ gọi là tan xương!.. Bỗng « choang » một cái: thôi, phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng... Ồ hắn kêu! hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. Ồ hắn kêu!

— Ối làng nước ôi! cứu tôi với... Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!...

Và họ thấy Chí-phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn, xủa rất hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn và cười nhạt, cười khinh bỉ. Hừ! ngỡ là gì, chẳng hóa ra nằm vạ! thì ra hắn định đến đây nằm vạ.

Người ta tuốn đến xem. Mấy cái ngõ tối xung quanh đùn ra biết bao nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá, vững dạ vì có anh Lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem Chí-Phèo làm ra sao; không khéo nó cố ý gieo vạ cho cụ ông phen này...

Nhưng kìa cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: « Cái gì mà đông thế này? » Chỗ này « lạy cụ, » chỗ kia « lậy cụ », người ta kính cẩn đứng giãn ra, và Chí-Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích, rên khe khẽ như gần chết.

Thoáng nhìn qua, cụ đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh-tổng, bây giờ lại đến lượt con cụ làm lý-trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì. Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:

— Cáe bà đi vào nhà; đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?

Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:

— Cả các ông, các bà nữa; về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại đông thế này?

Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ Bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi; ai dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ lại triệu mình đi làm chứng! Sau còn trơ lại Chí-Phèo và cha con cụ Bá. Bấy giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:

— Anh Chí ơi! sao anh lại làm ra thế?

Chí-Phèo lim rim mắt, rên lên:

— Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù nữa chưa biết chừng.

Cụ Bá cười nhạt, nhưng tiếng cười ròn-rã lắm — người ta bảo cụ hơn người cũng chỉ bởi cái cười:

— Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không?

Rồi đổi giọng, cụ thân-mật hỏi:

— Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.

Thấy Chí-Phèo không nhúc-nhích, cụ tiếp luôn:

— Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì, ta nói chuyện tử-tế với nhau. Cần gì mà phải làm thanh động lên thế, người ngoài biết, mang tiếng cả.

Rồi vừa xốc Chí-Phèo, cụ vừa phàn-nàn:

— Khổ quá! giá có tôi ở nhà thì có đâu nên nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó còn có họ kia đấy.

Chí-Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi. Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ Bá biết rằng mình đã thắng, đưa mắt nháy con một cái, quát:

— Lý Cường đâu! tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước, mau lên!

Cụ giắt Chí-Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu đi; hắn chỉ cố khập-khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người hắn rượu đã hơi nhạt rồi. Không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe kêu gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng-hái nữa. Sự ngọt-ngào làm mềm nhũn. Vả lại, những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy. — cái sợ xa xôi của ngày xưa, — hắn thấy hắn quả là táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con bá Kiến, bốn đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn là cái ông gì ở làng này? không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có, đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý-trưởng, chánh-tổng, bá-hộ, tiên-chỉ làng Vũ-đại, chánh hội đồng kỳ-hào, huyện hào, Bắc-kỳ nhân dân đại-biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào. Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này chả lại lừa hắn vào nhà rồi lôi thôi? Ờ mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng đồ bạc ra khoác và cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên, rồi cột cổ hắn vào, trần cho một trận om xương, rồi vu cho là ăn cướp thì làm sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớn cái nước gì mà chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lại lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào. Nhưng nghĩ ngợi một tý, hắn lại bảo: kêu cũng không nước gì! Lão bá vừa nói một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm mấy nhát thì cũng đau. Thôi cứ vào!... Vào thì vào, cần quái gì! Muốn đập đầu thì vào ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó có rở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào...

⁂

Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý muốn giàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc đời. Thứ nhất sợ kẻ anh-hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí-Phèo không anh-hùng, nhưng nó là cái thằng liều-lĩnh. Liều-lĩnh thì ai còn thèm chấp! Thế nào là mềm nắn, rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vẫn bảo lý Cường như thế đấy. Vũ-dũng như hắn mà làm được lý-trưởng là nhờ có cụ. Cụ mà chết đi rồi, « chúng nó » lại không cho ăn bùn.

Tiếng vậy, làm tổng lý không phải là việc dễ. Ở cái làng này, dân quá hai nghìn, xa phủ, xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm được lý-trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét Hồi năm nọ, một thầy địa-lý qua đây có bảo đất làng này vào cái thế « quần ngư tranh thực », vì thế mà bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bẩy bối, bè nào cũng muốn ăn; ngoài mặt thì tử-tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay cái thằng Chí-Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đấy? Nếu cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện, có khi tốn tiền: cái nghề quan, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó, cũng có ngày nó được ra; liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ phải cái vụ thằng năm Thọ. mãi đến giờ chưa quên.

Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra làm lý-trưởng, nó hình như kình nhau với hắn ra mặt; lý Kiến muốn trị nhưng chưa có dịp. Được ít lâu, hắn can dự vào một vụ cướp, bị bắt giam; lý Kiến ngấm-ngầm vận-động cho vào tù. Vẫn tưởng một người vai vế như Năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù thì làm gì còn dám vác cái mặt mo về làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cái đinh trước mắt. Nào ngờ một buổi tối, lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì năm Thọ vác giao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu một tiếng thì đâm chết liền. Thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên một người lương-thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó lại bảo: nghe nó thì nó đi biệt, mà không nghe thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra; còn muốn sống với vợ với con thì nghe nó.

Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe. Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ hết những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về. Mà thằng này lúc còn ở nhà, nào có ngạo ngược gì cho cam. Người ta đã phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo làm sao thì ư hừ làm vậy, mới quát một tiếng đã đái cả ra quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im ỉm rồi về nhà hành vợ chứ chẳng dám ho he gì. Thế đấy: cái nghề đời hiền quá hóa ngu; ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi; chỉ vì có một miếng cũng không giữ được mà ăn: đứa nào nó vớ được nó cũng xoay, mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng, bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng thêm tội! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra ngoài, nhưng vẫn là vợ mình. Bực thì hóa ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà nhịn được?

Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc đêm về cũng tạt vào; anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang; thậm chí đến cái thằng hương Điển, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ-gẫm. Vợ binh Chức đã nghiễm-nhiên thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý-dịch nho nhỏ trong làng chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ, cũng không nỡ bỏ hoài cái của không dưng được giời cho; và không bỏ hoài, ông còn được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măng-đa của chồng, phải mượn ông lý đi nhận-thực. Không ông lý nào vác của nhà đi ăn mà nhận-thực cho người ta, điều ấy đã cố nhiên. Nhưng với lý Kiến, thì không những cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi xe chung và còn ở lại tỉnh nữa.

Thế là mấy đồng bạc lương đi đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn. Thành thử công lao anh binh, rút lại chỉ giúp cho chị binh mỗi tháng một lần hưởng những cuộc vui với ông lý nhà.

Chẳng hiểu anh ta cũng biết thế mà chán cảnh nhà hay sao mà mãn hạn ba năm cũng không thấy về Rồi ít lâu sau, có trát về làng bắt tróc-nã và áp giải tên Trần-văn-Chức. Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu-tán không về làng. Nhưng khai hôm trước thì hôm sau hắn về. Lý Kiến sai đầy tớ đem trát đến nhà đòi hắn. Hắn đến ngay, nhưng lại dẫn theo cả vợ và hai con. Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút một con dao chọc tiết lợn ra, nhăm nhăm cầm ở tay mà bảo rằng: « Chẳng nói giấu gì ông, tôi can án giết người. Nếu ông không thương, mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói. Thôi thì đằng nào chúng nó cũng chết, tôi đâm chúng nó chết ở đây, rồi ông bắt đi ở tù luôn thể ». Mắt hắn đỏ ngầu; lưỡi dao hắn hoa lên loang loáng, chỉ trông cũng lạnh gáy. Hắn có thể giết người được lắm, mà chắc không phải chỉ giết có vợ và con thôi: Khi hắn đã có gan đâm chết vợ con thì hắn còn kiêng gì cái cổ của người khác nữa? Lý Kiến nghĩ ngợi một lúc rồi bảo hắn cứ về rồi ông liệu. Ông liệu nghĩa là ông che đậy cái án của hắn cho không ai biết và mỗi lần có trát về nhắc, ông lại khai rằng: vẫn chưa có tên Chức về. Thế là hắn cứ nghiễm-nhiên sống ở ngay chính quê hương hắn. Va bây giờ người ta thấy vợ hắn rất chính chuyên mà lại trung thành: thị chăm chỉ làm để mà nuôi hắn; những ông trưởng, ông phó tự nhiên nghĩ bụng rằng: người ta có chồng rồi mà còn chàng-màng thì phải tội; ai cũng sinh tử-tế cả chỉ trừ anh binh, bởi vì Chức bây giờ lại rất mực là ngang-ngược. Hắn ăn vườn đấy, nhưng chẳng nộp thuế cho ai. Thúc hắn thì hắn chửi, cắm vườn hắn thì hắn chém, sinh chuyện với hắn thì chính lý trưởng làng có lỗi bởi cố ý ẩn-lậu hắn là một tên can phạm. Ấy thế mà hắn cũng chưa vừa lòng đâu. Một hôm không biết nghĩ ngợi thế nào, hắn vác dao đến bảo thẳng vào mặt lý Kiến rằng:

— Hồi tôi còn tại ngũ, tôi gửi về nhà có trăm. Không biết vợ tôi nó tiêu pha gì, hay là cho giai mà không còn một đồng nào cả. Tôi hỏi nó thì nó bảo: ở nhà, đàn bà con gai có một mình, không dám giữ tiền, được đồng nào mang gửi ông lý cả. Tôi sợ nó bịa ra nên đã trói sẵn nó ở nhà. Bây giờ tôi đến thưa với ông, ông tính toán xem được bao nhiêu cho đem về nuôi cháu. Thiếu một đồng thì tôi không để yên chúng nó. Lý Kiến hiểu rằng: « chúng nó » đây có thể gồm cả ông. Ông cười nhạt bảo rằng:

— Thế này này, anh binh ạ: chị ấy gửi tiền tôi thì quả là không có.

Hắn trợn mắt lên quát:

— Thế thì thằng nào ăn đi?

Lý Kiến vội nói lấp ngay:

— Thế nhưng mà anh có thiếu tiêu thì cứ bảo tôi một tiếng. Chị ấy trót tiêu đi rồi thì có giết cũng chẳng ra. Lôi thôi làm gì cho sinh tội?

Ông mở tráp quăng cho hắn năm đồng bạc. Hắn cầm lấy, « lậy ông » tử tế, rồi sách dao ra về. Từ hôm ấy, hắn thành tử-tế với lý Kiến, nhận là chỗ đầy tớ chân tay, nhưng lý Kiến thỉnh-thoảng vẫn phải cho hắn tiền. Cho mãi đến năm ngoái đây, hắn chết...

⁂

Thì năm nay lại nẩy ra Chí-Phèo. Lại một thằng hiền-lành như đất — tội nghiệp cho hắn, có lần lý Kiến thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run! — bỗng nhiên vùng dậy, rở toàn những giọng uống máu người không tanh. Thì ra già néo đứt giây. Cụ tiên-chỉ làng Vũ-đại nhận ra rằng: đè nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng mà đi là dại. Mười thằng đã đi ra, thì chín thằng giở về với cái vẻ hung-đồ, cái tính ương-ngạnh học được từ phương xa. Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại giắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn, đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào « vì thương anh túng quá! » Và cũng phải tùy mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn, chính là những thằng sợ quan và dễ bóp; trái lại, những thằng tứ cố vô thân, giết chúng nó thì dễ, nhưng giết được, chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để các phe nghịch xoay lại mình. Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi cánh kết bè đảng chung quanh một người: cánh cụ bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông tư Đạm, cánh ông bát Tùng... Bằng ấy cánh giu lại với nhau để bóc lột con em, nhưng vẫn ngấm-ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau... Cụ lại nhận ra rằng: ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền-lành chỉ è cổ làm nuôi bọn kỳ-hào, — nhưng chính bọn kỳ-hào nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho những thằng cùng hơn cả dân cùng, — nên liều-lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình.

Nhưng cụ không phải là một người ưa than thở. Than thở chẳng ích gì cho ai. Cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén kia, sở dĩ bị đè nén suốt đời, chỉ vì khi bị đè nén chúng chỉ biết than-thở chứ không biết làm gì khác. Cụ bá Kiến không cần than thở: trị không lợi thì cụ dùng. Cụ nghĩ bụng: cũng phải có những thằng đầu bò chứ? không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những thằng đầu bò? Thế lực của cụ sở dĩ lấn áp được các vây cánh khác, một phần lớn cũng bởi cụ biết mềm biết cứng, biết thu-dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi ở tù. Những thằng ấy chính là những thằng được việc. Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là có thể sai nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình. Gặp người bướng-bỉnh, đanh thép thì nó lừa đốt nhà hay cho mấy nhát dao; gặp người non mặt, thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay là gây sự rồi lăn ra kêu làng. Có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền-lành và yên-phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế Thuế một năm có một lần, nếu chỉ trông vào đấy thì bán mả cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba, bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng...

Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà bá Kiến ra về, Chí-Phèo vô cùng hể hả! Bá Kiến đã không vu vạ gì cho hắn, lại còn giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lại đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc. Đồng bạc, làm gì đến thế? hắn loạng choạng vừa đi vừa cười: hắn chẳng cần đến ba xu. Lúc ngồi tù, hắn có học mót được mấy bài thuốc giấu: chỉ vài nắm lá, là mặt hắn lại đâu vào đấy ngay. Còn đồng bạc lại để đi uống rượu...

⁂

Hắn uống được có vừa ba hom. Đến hôm thứ tư thì hắn trợn mắt lên, bảo con mẹ hàng rượu rằng:

— Hôm nay ông không còn tiền; nhà mày bán chịu cho ông một chai. Tối ông mang tiền đến giả.

Mụ hàng rượu hơi ngần ngừ. Thế là hắn rút bao diêm, đánh cái xoè, châm lên mái lều của mụ. Mụ hoảng hốt kêu la om xòm, vội giập tắt được ngọn lửa vừa mới cháy. Rồi khóc khóc mếu mếu, mụ đưa ra chai rượu. Hắn hầm hầm, chỉ vào mặt mụ bảo rằng:

— Cái giống nhà mày không ưa nhẹ! Ông mua chứ ông có xin nhà mày đâu! Mày tưởng ông quịt hở? Mày thử hỏi cả làng xem ông có quịt của đứa nào bao giờ không? Ông không thiếu tiền! ông còn gửi đằng cụ bá, chiều nay ông đi lấy về ông giả.

Mụ vừa kéo vạt áo lên quệt mũi, vừa bảo:

— Chúng cháu không dám chắc lép nhưng quả là ít vốn:

Hắn quát lên:

— Ít vốn thì chỉ tối nay ông giả. Nhà mày đã chết ngay bây giờ hay sao?

Rồi hắn xách chai ra về. Hắn về cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước đến nay không có nhà. Lúc đi đường, hắn đã vặn được ở vườn nhà nào ba, bốn quả chuối xanh, và bốc của một cô hàng xén một rúm con muối trắng. Bây giờ hắn uống rượu với chuối xanh chấm muối trắng và thấy rằng cũng ngon. Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon.

Ụống xong, hắn chùi miệng, rồi ngật ngà ngật ngưỡng đến nhà bá Kiến. Gặp ai hắn cũng bảo: hắn đến nhà cụ Bá đòi nợ đây! Mới trông thấy hắn vào đến sân, Bá Kiến đã biết hắn lại định đến sinh sự rồi. Cái mắt thì ngầu lên, hai chân thì lảo đảo, cái môi bầm lại thì run bần bật. Cũng may, hắn không cầm vỏ chai. Bá Kiến giõng giạc hỏi:

— Anh Chí đi đâu đấy?

Hắn chào to:

— Lạy cụ ạ. Bẩm cụ... con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ. Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó. Nhưng bộ điệu thì lại như hiền lành: hắn vừa gãi đầu gãi tai, vừa lải nhải:

— Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù. Bẩm có thế, con có dám nói gian thì giời chu đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá. Đi ở tù còn cơm để mà ăn, bây giờ về làng, về nước, một thước cắm giùi không có, chả làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù...

Cụ Bá quát — bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử giây thần kinh của người —

— Anh này lại say khướt rồi!

Hắn xông lại gần, đảo ngược mắt, dơ cái tay lên nửa chừng:

— Bẩm không ạ, bẩm thật là không say. Con đến xin cụ cho đi ở tù, mà nếu không được thì... thì... thưa cụ...

Hắn móc đủ mọi túi, để tìm một cái gì, hắn dơ ra: đó là một con dao nhỏ, nhưng rất sắc. Hắn nghiến răng nói tiếp:

— Vâng bẩm cụ, nếu không được thì con phải đâm chết dăm, ba thằng, rồi cụ bắt con giải huyện.

Rồi hắn cúi xuống, tẩn mẩn gọt cạnh cái bàn lim. Cụ Bá cười khanh khách — cụ vẫn tự phụ hơn đời có cái cười Tào-Tháo ấy — Cụ đứng lên, vỗ vai hắn mà bảo rằng:

— Anh bứa lắm. Nhưng này, anh Chí ạ, anh muốn đâm người cũng không khó gì. Đội Tảo nó còn nợ tôi năm mươi đồng đấy, anh chịu khó đến đòi cho tôi, đòi được thì tự nhiên có vườn.

Đội Tảo là một tay vai vế trong làng. Vây cánh ông ta mạnh, vẫn kình nhau với cánh nhà cụ Bá mà cụ Bá thường vẫn phải chịu bởi hắn là cựu binh, lương hưu-trí nhiều, quen thuộc nhiều, lại ăn nói giỏi. Hắn vay cụ Bá năm mươi đồng đã từ lâu, bây giờ đột nhiên dở mặt vỗ tuột, lấy cớ rằng số tiền ấy tính vào món tiền trè lý Cường ra làm lý-trưởng chưa tạ hắn. Cụ Bá tức như chọc họng, nhưng chưa biết làm thế nào, bởi vì thằng binh Chức, đầy tớ chân tay của cụ, khả dĩ đương đầu với hắn được, chết năm ngoái rồi. Bây giờ cụ mới lại gặp được Chí-Phèo, có thể thay cho binh Chức được. Cụ thử nói khích nó xem sao. Nếu nó trị được đội Tảo thì tốt lắm. Nếu nó bị đội Tảo trị thì cụ cũng không thiệt gì; đằng nào cũng lợi cho cụ cả.

Chí-Phèo nhận đi ngay! Hắn tức khắc đến nhà đội Tảo, và cất tiếng chửi ngay từ đầu ngõ. Giá có phải hôm khác, thì có án mạng rồi: Đội Tảo cũng có thể đâm chém được chưa bao giờ chịu hàng trước cuộc giao tranh. Nhưng phúc đời cho hắn, hay là cho Chí-Phèo, hôm ấy hắn ốm liệt giường, không sao nhắc mình giậy được. Có lẽ hắn cũng không biết Chí-Phèo chửi hắn. Vợ hắn, thấy Chí-Phèo thở ra mùi rượu, và biết rõ đầu đuôi món nợ, lấy năm mươi đồng giấu chồng đưa cho người nhà đi theo Chí-Phèo. Đàn-bà vốn chuộng hòa-bình; họ muốn yên chuyện thì thôi, gai ngạnh làm gì cho sinh sự. Vả lại, bà đội cũng nghĩ rằng: chồng mình đang ốm... chồng mình có nợ người ta hẳn hoi... và năm chục đồng bạc đối với nhà mình là mấy; lôi thôi lại chả tốn đến ba lần năm chục đồng!

Vì thế, Chí-Phèo mới được vênh vênh ra về; hắn thấy hắn oai thêm bực nữa. Hắn tự đắc: « anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta! » Cụ Bá thấy mình thắng bên địch mà không cần đến hội-đồng làm biên-bản xem chừng thích trí. Cụ đưa cho anh đầy-tớ chân tay mới luôn năm đồng:

— Anh Chí ạ, cả năm chục này phần anh. Nhưng nếu anh lấy cả thì chỉ ba hôm là tan mất; vậy anh cầm lấy chỗ này uống rượu, còn để tôi bán cho anh mảnh vườn; không có vườn có đất thì làm ăn gì?

Chí-Phèo « vâng dạ » ra về. Mấy hôm sau, cụ lý bảo lý Cường cho hắn năm sào vườn ở bãi sông cắm thuế của một người làng hôm nọ. Chí-Phèo bỗng thành ra có nhà. Hồi ấy hắn mới đâu hăm bẩy hay hăm tám...

⁂

Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi. Ba-mươi-tám hay ba-mươi-chín? Bốn-mươi hay là ngoài bốn-mươi? Cái mặt hắn không trẻ mà cũng không già; nó không còn phải là mặt người; nó là mặt một con vật lạ, — nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi? — Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm mầu gio; nó vằn giọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo, vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu làng. Bao nhiêu lần, — hắn nhớ làm sao nổi? — bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm! Những việc ấy là chính cuộc đời của hắn, cuộc đời mà hắn cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi. Bởi vì ngay đến cái thẻ có biên tên tuổi hắn cũng không có, trong sổ làng người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu-tán, lâu năm không về làng. Hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai-mươi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm nhăm, — không biết có đúng không? — rồi từ đấy thì đối với hắn không còn ngày tháng nữa. Bởi vì từ đấy, hắn bao giờ cũng say. Những cơn say của hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông. Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh, và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh-táo để nhớ rằng có hắn ở đời. Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỉ dữ của làng Vũ-đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh-phúc, làm chẩy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương-thiện. Hắn biết đâu vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say; hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm. Tất cả dân làng đều sợ hắn, và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua.

Vì thế cho nên hắn chửi hay là chẳng vì cái gì, hắn cũng chửi; cứ rượu xong là hắn chửi. Hắn chửi như những người... say rượu hát. Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi. Khổ cho hắn, và khổ cho người, hắn lại không biết hát. Thì hắn chửi, cũng như chiều nay hắn chửi...

Hắn chửi giời và hắn chửi đời. Hắn chửi cả làng Vũ-đại. Hắn chửi tất cả những đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng mặc, ai mà hoài hơi. Tức mình hắn chửi đứa nào đẻ ra chính hắn. Lại càng không ai cần! Và hắn lấy thế làm ức lắm: bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì! Thế là hắn chắc chắn đã có một cớ để mà tức tối, một cớ rất chính đáng để hắn có thể hùng hổ đi báo thù. Phải, hắn phải đi báo thù, báo thù vào bất cứ ai. Hắn phải vào một nhà nào mới được, bất cứ nhà nào. Hắn sẽ rẽ vào bất cứ cái ngõ nào hắn gặp để đập phá, đốt nhà, hay lăn ra mà kêu làng nước. Phải đấy, hắn sẽ rẽ vào bất cứ cái ngõ nào hắn gặp... À, đây kia rồi, mau mau...

Nhưng mà mặt trăng lên, mặt trăng rằm vành vạnh. Và ánh trăng chẩy trên đường trắng tinh. Ồ, cái gì đây, đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại? Nó xệch-xạc về bên phải, nó xệch-xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại giải loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quấn-quít dưới chân Chí-Phèo. Chí-Phèo đứng lại và nhìn nó, và hắn bỗng nghiêng-ngả cười. Hắn cười ngặt-nghẽo, cười rũ-rượi. Giá hắn cứ chửi lại còn dễ nghe! Cái vật xệch-xạc trên đường là bóng hắn. Thế là hắn cười, và hắn quên báo thù: hắn đi qua cái ngõ đầu tiên kia rồi. Bây giờ thì đến ngõ nhà tự Lãng, một anh thầy cúng có một bộ râu lờ phờ. Chí-Phèo bỗng nẩy ra một ý: tạt vào đây và đập cái đàn chầu văn của lão tự nửa mùa này ra. Bởi vì lão tự này vừa làm thầy cúng lại vừa làm nghề hoạn lợn. Cái đàn của lão lừng-phừng, nghe còn chối tai hơn là lợn kêu. Nhưng lúc vào thì lão tự lại đang uống rượu; lão uống rượu ngay ở sân, vừa uống vừa vuốt râu, vừa rung rung cái đầu. Chí-Phèo đứng lại nhìn, thấy lão cũng hay hay. Hắn thấy tất cả những người uống rượu đều hay hay. Rồi đột nhiên hắn khát, trời ôi! sao mà khát! khát đến như cháy họng... Không do dự, hắn lại bên lão tự, nhắc lấy chai rượu, ngửa cổ, giốc vào mồm, tu. Lão tự duôi cái cổ gà vặt lông ra, trố mắt lên, nhưng không nói gì. Lưỡi lão díu lại rồi, còn nói làm sao được? Lão đã uống hết hai phần chai. Còn một phần thì Chí-Phèo tu nốt. Hắn tu có một hơi, rồi khà một cái, chép chép cái miệng như còn thèm. Rồi hắn nắm lấy mấy cái râu lờ phờ của lão tự, nâng soi lên trăng mà cười. Lão tự cũng cười. Hai thằng say rượu ngả vào nhau mà cười, như một đôi tri-kỷ cuồng. Rồi tự Lãng vào nhà xách hai chai rượu nữa ra; lão còn đúng hai chai nữa. Lão mời Chí-Phèo uống nữa, uống thật say, không cần gì. Cứ việc uống đừng có lo ngại gì đấy! Vợ lão chết đến bẩy tám năm nay rồi, con gái lão chửa hoang bỏ lão đi, lão chỉ có một mình, không còn vợ con nào mè nheo cả Lão muốn uống đến bao giờ thì uống. Cứ uống! cứ uống! cứ uống đi! ông bạn lạc đường ở cung trăng xuống ạ! Uống thật tợn, uống đến đái ra rượu thì mới thích. Nhịn uống để làm gì? có giầu có sang, có làm nên ông cả bà nhớn nữa, chết cũng không ai gọi là « cụ lớn mả »! Lão sống có đến hơn năm mươi năm rồi mà chưa thấy một cụ lớn mả nào sốt! Chỉ có cái mả, cái mả tất. Ai chết cũng thành cái mả, say-sưa chết cũng thành cái mả, lo gì? cứ say!

Chưa bao giờ Chí-Phèo được thỏa-thuê đến thế! Hắn lấy làm lạ sao mãi đến hôm nay mới ngồi uống rượu với thằng cha Tự này. Chúng uống với nhau rất là lâu và rất là nhiều. Người ta tưởng như cả làng Vũ-Đại phải nhịn uống để đủ rượu cho chúng uống.

Đến lúc hết cả hai chai thì tự Lãng đã bò ra sân. Lão bò như cua và hỏi Chí Phèo rằng: « người ta đứng lên bằng cái gì? » Chí-Phèo vần ngửa lão ra, vuốt cái râu lờ phờ của lão mấy cái, rồi để mặc lão thế, hắn lảo đảo ra về. Hắn vừa đi vừa phanh ngực ra mà gãi. Hắn gãi ngực, rồi gãi lên cổ, gãi mang tai và gãi lên cả đầu. Có lúc hắn phải đứng lại giữa đường mà gãi, ghệch chân lên mà gãi. Hắn bứt-rứt quá, ngứa-ngáy quá và chợt nghĩ đến cái bờ sông gần nhà. Bởi vì cái vườn của hắn ở gần một con sông con, nước lặng và trong, khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn. Duy có vườn nhà hắn trồng toàn chuối, ở một góc vườn có túp lều con. Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn bằng-phẳng ngổn-ngang những bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi. Và những tầu chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng, xanh rười rượi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình.

Chí Phèo vừa tò mò nhìn những tầu chuối vừa đi xuống vườn. Nhưng hắn không vào cái lều úp xúp mà ra thẳng bờ sông. Hắn

định sẽ nhảy xuống tắm cho khỏi ngứa rồi lăn ngay ra vườn mà ngủ: tội gì chui đầu vào lều, bức đến không còn mà thở được. Một thằng như hắn, đập đầu không chết, huống hồ là gió sương... Đến bờ sông, hắn dừng lại, vì hình như có người. Có người thật, và hắn ngây ra nhìn.

Hắn nhìn giữa hai lọ nước và tựa lưng vào gốc chuối, một người đàn bà ngồi tênh hênh. Chính là người đàn bà, hắn biết vậy là nhờ mớ tóc dài buông xõa xuống vai trần và ngực... Hai tay trần của mụ buông xuôi, cái mồm mụ há hốc lên trăng mà ngủ, hay là chết. Đôi chân thì duỗi thẳng ra trước mặt, cái váy đen xộc xệch...; bên kia, có lẽ vì mụ giẫy, cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây. Tất cả những cái ấy phơi ra trăng, rười rượi những trăng. Giăng làm trắng những cái có lẽ ban ngày không trắng; giăng làm đẹp lên. Chí-Phèo tự nhiên thấy ứ đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô; hắn nuốt ừng ực. Hắn thấy cái gì rộn-rạo ran khắp người. Bỗng nhiên hắn run run. Ồ, sao lại như thế được? Đáng nhẽ chính người đàn bà khốn nạn kia phải run mới phải, cái người đàn bà dại dột đã nằm ềnh-ệch mà ngủ ngay gần nhà hắn này.

Nhưng người đàn bà ấy lại là thị Nở, một người ngẩn-ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỉ hờn. Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề giài; thế mà hai má lại bóp vào mới thật là tai hại: nếu má phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng ở trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành; bành bạnh muốn chen lấn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi; có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như dạn ra. Đã thế, thị lại ăn giầu thuốc, hai môi dầy được bồi cho dầy thêm một lần, cũng may, quết trầu xánh lại, che được cái mầu thịt trâu xám ngoách. Đã thế những cái răng rất to lại chìa ra; ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu. Đã thế thị lại dở hơi; đó là một ân huệ đặc biệt của thượng-đế chí công: nếu sang suốt thì người đàn bà ấy sẽ khổ sở ngay từ khi mua cái gương thứ nhất. Và thị lại nghèo; nếu trái lại, ìt nhất đã có một đàn ông khổ sở. Và thị lại là giòng giống của một nhà có mả hủi: cái này khiến không một chàng trai nào phải phân-vân. Người ta tránh thị như tránh một vật nào rất tởm. Ngoài ba mươi tuổi, thị vẫn chưa có chồng. Ở cái làng Vũ-đại này, người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi mới đẻ đứa con thứ nhất. Cứ tình hình ấy thì ta nói quách: thị Nở không có chồng. Mà thị cũng không còn ai thân-thích, trừ một người cô đã có thể gọi được là già, và đã không chồng như thị. Số giời định thế: để không ai phải trơ-trọi trên đời này. Người cô làm thuê cho một người đàn bà buôn chuối và trầu không xếp tầu đi Hải-Phòng, có khi ra tận Hòn-Gay Cẩm-Phả. Còn thị, sống bằng những nghề lặt-vặt ở làng. Hai cô cháu ở trong một cái nhà tre cách vườn của Chí-Phèo bởi con đê: hắn ở ngoài bãi, hai người ở trong xóm. Có lẽ chính vì thế mà thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng sợ ấy. Gần gũi lâu cũng sinh quen, mà quen thì ít khi còn sợ. Những người trông coi vườn Bách Thú thường bảo rằng hổ báo hiền y như mèo. Vả lại có lý gì để thị sợ hắn đâu? Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn-ngơ của mình, mà thị thì chỉ có ba cái ấy. Một phần nữa cũng bởi Chí-Phèo ít khi ở nhà, mà khi hắn ở nhà lại hiền lành: ai có thể ác trong khi ngủ? hắn chỉ về nhà để ngủ.

Ngày nào thị Nở cũng phải qua vườn nhà hắn hai ba lần. Là vì qua vườn nhà hắn có một lối đi nhỏ ra sông; trước kia, cả xóm vẫn dùng cái ngõ ấy để ra sông tắm giặt hay kín nước. Nhưng từ khi hắn đến, người ta thôi dần, tìm một lối đi khác xa hơn. Trừ thị Nở: thì đã bảo thị là người dở hơi, thị không thích làm như kẻ khác. Quá tin ở người, quá tin ở mình, liều lĩnh, bướng bỉnh hay có lẽ chỉ vì không chịu rời thói quen. Nhưng hãy biết thị cứ đi ngõ ấy, và vẫn chẳng làm sao cả. Thế rồi quen đi. Có lần trong lúc Chí-Phèo ngủ, thị vào cả nhà hắn để rọi nhờ lửa nữa, có lần thị xin của hắn một tí rượu để về bóp chân; hắn mải ngủ càu nhàu bảo thị rằng: ở xó nhà ấy, muốn rót bao nhiêu thì rót, để yên cho hắn ngủ. Và lắm lúc thị ngạc-nhiên: sao người ta ghê hắn thế?

Chiều hôm ấy thị Nở cũng ra sông kín nước như mọi chiều. Nhưng chiều hôm ấy, giăng lại sáng hơn mọi chiều, giăng tỏa trên sông và sóng gợn biết bao nhiêu gợn vàng. Những gợn vàng ấy rung rung, mới trông thì đẹp, nhưng trông lâu mỏi mắt. Gió lại mát như quạt hầu. Thị Nở thấy muốn ngáp mà mi mắt thì nặng dần, toan díp lại. Thị vốn có một tật không sao chữa được: có lúc đột nhiên muốn ngủ, bất cứ ở đâu hay đang làm gì. Bà cô thị bảo thị là một người vô tâm. Ngáp một cái thị nghĩ bụng: hãy khoan kín nước, hãy để lọ xuống, ngồi nghỉ đây. Bởi vì thị đã luật quật đập đất từ trưa tới giờ. Mà mấy khi được một nơi mát thế, mát rợn da, rợn thịt, sung-sướng quá! mát y như quạt hầu. Thị cởi áo ra và ngồi tựa vào gốc chuối, dáng ngồi không kín đáo, nhưng không bao giờ thị biết thế nào là lả-lơi. Con người vô tâm, không hay nghĩ xa xôi mà. Vả lại ở đây chẳng có ai. Chí-Phèo đã về đâu, mà hắn có về thì cũng say khướt đã ngủ từ nửa đường và tới nhà tức khắc chúi đầu vào ngủ nốt. Hắn ra làm gì đây, cho có ra nữa thì đã sao? Thị không thể sợ hắn có thể phạm đến thị bởi cái lẽ rất dản-dị là thị chưa thấy ai phạm đến thị bao giờ. Thật ra thì thị cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều đến thế. Tuy óc thị đã có một cái bóng đen lan rồi. Thị không ngồi thì không chịu được.

Ngồi một lúc, thị thấy rằng: nếu cứ ngồi mãi thì ngủ mất. Nhưng thị đã ngủ đến hai phần rồi. Và thị nghĩ: ừ thì ngủ, ngủ thì đã làm sao! Về nhà thì cũng chỉ ngủ, ngủ ngay đây cũng vậy. Bà cô đi theo hàng ít ra cũng dăm hôm mới về. Thị cứ ngồi đây cho mát. Và thị ngủ. Thị ngủ ngon lành và say-sưa...

Chí-Phèo vẫn say-sưa nhìn và vẫn run run. Bỗng nhiên hắn rón rén lại gần thị Nở: lần đầu tiên hắn rón rén, từ khi về làng. Thoạt tiên, hắn hãy xách hai cái lọ để ra xa; rồi hắn lẳng-lặng ngồi xuống bên sườn thị...

Và thị Nở giật mình. Thị mới kịp giật mình thì thằng đàn ông đã bám bíu lấy thị... Thị vùng vẫy để ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí-Phèo. Thị vừa thở, vừa vật nhau với hắn, vừa hổn-hển: « Ô hay... buông ra... Tôi kêu... Tôi kêu làng... Buông ra... Tôi kêu làng lên bây giờ ». Thằng đàn ông phì cười. Sao thị lại kêu làng nhỉ? Hắn vẫn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng; sao người ta lại kêu tranh của hắn; bỗng nhiên hắn la lên, kêu làng. Hắn kêu như một kẻ bị đâm, vừa kêu vừa dằn người đàn bà xuống. Thị Nở trố ra hai mắt, ngây ra nhìn. Thị kinh-ngạc: sao hắn lại kêu làng nhỉ? Mà hắn vẫn chưa chịu thôi kêu làng. Cũng may người quanh đấy không ai lạ gì tiếng hắn: mà khi hắn kêu làng thì không ai cần động giạng; họ lạu bạu chửi rồi lại ngủ; hắn kêu làng cũng như người khác buồn hát ngao. Đáp lại hắn, chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm.

Thị Nở bỗng nhiên bật cười. Thị vừa rủa, vừa đập tay lên lưng hắn. Nhưng đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại rúi lưng hắn xuống. Và chúng cười với nhau...

Bây giờ thì chúng ngủ bên nhau... Đứa trẻ bú no thì ngủ. Người ta ngủ sau khi làm việc yêu. Chúng ngủ như chưa bao giờ đuợc ngủ. Trăng vẫn thức, vẫn trong trẻo... Trăng rắc bụi trên sông, và sông gợn biết bao nhiêu vàng...

Nhưng gần đến sáng, bỗng Chí-Phèo trống một tay xuống đất, ngồi lên một nửa. Hắn thấy người nôn nao, chân tay bủn rủn, như đến ba ngày nhịn đói. Thế mà bụng lại phinh phích đầy. Hình như bụng hơi đau Còn hình như gì nữa, thôi đúng đau bụng rồi. Đau thật! đau mỗi lúc một dữ! nó cứ cuồn cuộn lên. À mà giời lành lạnh. Hễ có gió thì kinh kinh. Mỗi lần gió, hắn rươn rướn người. Hắn muốn đứng lên. Sao đầu nặng quá, mà chân thì bẩy rẩy. Mắt hắn hoa lên. Bụng quặn lại, đau gò người. Hắn oẹ. Hắn oẹ ba bốn cái. Oẹ mãi. Giá mửa ra được thì dễ chịu Hắn cho một ngón tay vào móc họng. Hắn oẹ một cái to hơn, ruột hình như lộn lên. Nhưng cũng chỉ nhổ ra toàn nước rãi. Hắn nghỉ một tý rồi lại cho tay vào mồm. Lần này thì mửa được, trời ôi! mửa thốc, mửa tháo, mửa ồng ộc, mửa đến cả ruột. Đến nỗi người đàn bà phải dậy. Thị ngồi nhỏm dậy và ngơ ngác nhìn. Cái óc nặng-nề ấy phải lâu mới nhớ ra và lâu-mới hiểu.

Bây giờ thì Chí Phèo đã mửa xong Hắn mệt quá, lại vật người ra đất. Hắn đờ hai mắt ra khẽ rên; hắn chỉ còn đủ sức để rên khe khẽ. Từ đống mửa bay lại một mùi gì thoang-thoảng như mùi rượu; hắn bỗng nhiên rùng mình.

Thị Nở xích lại. đặt bàn tay lên ngực hắn (thị suy nghĩ đến bây giờ mới xong). Thị hỏi hắn:

— Vừa thổ hả?

Mặt hắn đảo lên nhìn thị, nhìn một loáng rồi lại đờ ra ngay.

— Đi vào nhà, nhẻ?

Hắn làm như gật đầu. Nhưng cái đầu không động-đậy, chỉ có cái mí mắt là nhích thôi.

— Thì đứng lên.

Nhưng hắn đứng lên làm sao được. Thị quàng tay vào nách hắn, đỡ cho hắn gượng ngồi. Rồi thị kéo hắn đứng lên. Hắn đu vào cổ thị, hai người lảo đảo đi về lều.

Không có giường, chỉ có một cái chõng to. Thị để hắn nằm lên, và đi nhặt-nhạnh tất cả các manh chiếu rách đắp lên cho hắn. Hắn hết rên. Hình như hắn ngủ. Thị cũng lim-dim chực ngủ. Nhưng trong nhà nhiều muỗi quá. Muỗi nhắc cho thị cái áo quên ngoài vườn. Thị ra vườn. Đôi lọ nhắc cho thị việc đi kín nước. Thị mải mốt mặc áo, kín nước, rồi xách đôi lọ nước đi về nhà.

Giăng chưa lặn, không chừng giời còn khuya. Thị lên giường định ngủ. Nhưng thị lại nhớ lại việc lạ-lùng tối qua. Thị cười. Thị thấy không buồn ngủ, và thị cứ lăn ra lăn vào.

⁂

Khi Chí-Phèo mở mắt thì giời sáng đã lâu. Mặt trời chắc đã cao, và nắng bên ngoài chắc là rực-rỡ. Cứ nghe chim ríu-rít bên ngoài đủ biết. Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn mới chỉ hơi lờ mờ. Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế chưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng. Chưa bao giờ Chí-Phèo nhận thấy thế, bởi chưa bao giờ hết say.

Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng-khuâng như tỉnh dậy, sau một cơn say rất dài. Cũng như những người say tỉnh dạy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhắc. Hay là đói rượu? Nghĩ đến rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn-nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như những người ốm thường sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui-vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!

— Vải hôm nay bán mấy?

— Kém ba xu, dì ạ.

— Thế thì còn ăn thua gì!

— Có khéo co mới được một tấm năm xu.

— Thật thế đấy. Nhưng chẳng nhẽ rằng lại chơi...

Chí-Phèo đoán chắc rằng một người đàn-bà hỏi một người đàn-bà khác đi bán vải ở Nam-Định về. Hắn lại nao nao buồn. Là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa-xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia-đình nho-nhỏ. Chồng cuốc mướn cầy thuê. Vợ dệt vải. Chúng bỏ lại một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm sào ruộng làm.

Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? ngoài bốn mươi tuổi đầu... Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa-soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời. Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy-đọa, cực-nhọc mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ-thể đã hư-hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời giở rét, này mùa đông đã đến. Chí-Phèo hình như đã trông trước thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau.

Cũng may, thị Nở vào. Nếu thị không vào, cứ để hắn vẩn-vơ nghĩ mãi, thì đến khóc được mất. Thị vào, cắp một rổ, trong có một nồi gì đậy vung. Đó là một nồi cháo hành còn nóng nguyên. Là vì lúc còn đêm, thị dằn-dọc một lát, thị bỗng nhiên nghĩ rằng: cái thằng liều-lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương cho bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình. Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết. Thị kiêu-ngạo vì đã cứu sống cho một người. Thị thấy như yêu hắn: đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn. Một người như thị Nở càng không quên được. Cho nên thị nghĩ: mình bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao, cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như vợ chồng. Tiếng « vợ chồng », thấy ngường-ngượng mà thinh-thích. Đó vẫn là điều mong-muốn âm-thầm của con người khốn-nạn ấy chăng! Hay sự khoái-lạc của xác-thịt đã làm nổi dậy những tính-tình mà thị chưa bao giờ biết?

Chỉ biết rằng thị muốn gặp Chí-Phèo. gặp hắn mà nhắc lại chuyện đêm qua thì chắc buồn cười lắm. Gớm! sao lại có thứ người đâu mà lì quá thế! Người ta ngồi đấy mà dám sán lăn ngay vào, nó chả ngang ngược mà người ta kêu bé, nó lại làm to hơn. Mà kể thị cũng ngù ngờ. Cái thằng giời đánh không chết ấy, nó còn sợ ai mà hòng kêu. Nhưng mà, đáng kiếp. thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ. Phải cho hắn ăn tí gì mới được. Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi là nhẹ-nhõm người ngay đó mà... Thế là vừa sáng, thị đã chạy đi tìm gạo. Hành thì nhà thị may lại còn. Thị nấu, bỏ vào cái rổ, mang ra cho Chí-Phèo.

Thằng này rất ngạc-nhiên. Hết ngạc-nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn-ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là dật cướp. Hắn phải làm cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng-khuâng. Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe-toét cười. Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm có duyên. Hắn thấy vừa vui vừa buồn. Và một cái gì nữa, giống như là ăn năn. Cũng có thể như thế lắm. Người ta hay hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Thị Nở giục hắn ăn cho nóng. Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm. Trời ơi! cháo mới thơm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ-nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng: những người suốt đời không ăn cháo, không biết rằng cháo hành ăn rất ngon. Nhưng tại sao lại mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo? Hắn tự hỏi rồi lại tự giả lời: có ai nấu cho mà ăn đâu? mà còn ai nấu cho mà ăn nữa! Đời hắn chưa bao giờ được săn-sóc bởi một bàn tay đàn bà. Hắn nhớ đến « bà ba », cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt bóp lên trên, trên nữa. Nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa nó, chứ có yêu hắn đâu. Hồi ấy hắn hai mươi. Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn xác thịt. Người ta không thích cái gì người ta khinh. Vả lại bị một con đàn bà gọi đến mà bóp chân! Hắn thấy nhục hơn là thích. Huống hồ lại sợ. Quả thật, từ khi biết rằng con vợ chủ sai hắn làm một việc không chính đính, hắn vừa làm vừa run. Không làm thì không được: mọi việc trong nhà, quyền bà ba. Chứ hắn, hắn còn lòng nào đâu! Đến nỗi người đàn bà phát cáu. Bà thấy xa xôi không được, phải làm đến nơi. Bà bảo hắn rằng: « mày thực-thà quá! con giai gì mới hai mươi tuổi mà đã như ông già ». Hắn vẫn giả vờ không hiểu. Bà lẳng-lơ bảo: « Chả nhẽ tao gọi mày vào để chỉ bóp chân thế này thôi ư?... » Và thấy hắn giùng-giằng, bà mắng xơi xơi vào mặt. Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì. Không, hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả. Vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù?

Bát cháo húp xong rồi. Thị Nở đỡ lấy bát cháo và múc thêm bát nữa. Hắn thấy đẫm mình bao nhiêu mồ hôi. Mồ hôi chẩy cả trên đầu, trên mặt, những giọt to như giọt nước. Hắn đưa tay áo quệt ngang một cái, quệt mũi, cười rồi lại ăn. Hắn càng ăn, mồ hôi lại càng nhiều. Thị Nở nhìn hắn, lắc đầu, thương hại. Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi! sao mà hắn hiền! ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mạch và đâm chém người? Đó là cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi. Hay trận ốm thay đổi hắn về sinh-lý, cũng thay đổi cả tâm lý nữa? Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác, phải là kẻ mạnh. Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng dật cướp và dọa nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì ra sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bấy giờ mới nguy! Trời ơi! hắn thèm lương-thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường hắn. Thị có thể sống yên-ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại ai. Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã-hội bằng-phẳng, thân-thiện của những người lương-thiện... Hắn băn-khoăn nhìn thị Nở, như thăm dò. Thị vẫn im lặng, cười tin-cẩn. Hắn thấy tự-nhiên nhẹ người. Hắn bảo thị:

— Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?

Thị không đáp, nhưng cái mũi đỏ của thị như càng bạnh ra. Hắn thấy thế cũng không có gì là xấu. Bằng một cái dọng nói và một vẻ mặt rất phong-tình theo ý hắn, hắn bảo thị:

— Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.

Thị lườm hắn. Một người thật xấu khi yêu cũng lườm. Hắn thích chí, khanh khách cười. Lúc tỉnh táo, hắn cười nghe thật hiền. Thị Nở lấy làm bằng lòng lắm. Bây giờ thì mấy bát cháo ý chừng đã ngấm. Hắn thấy lòng rất vui. Hắn bẹo thị Nở một cái làm thị nẩy hẳn người lên. Và hắn cười. Hắn lại bảo:

— Đằng ấy còn nhớ gì hôm qua không?

Thị phát khẽ hắn một cái, làm cái vẻ không ưa đùa. Sao mà e-lệ thế. Xấu mà e-lệ thì cũng yêu. Hắn cười ngất, và muốn làm thị thẹn thùng hơn nữa. Hắn véo thị một cái thật đau vào đùi. Lần này thì không những thị nẩy người. Thị kêu lên choe choé. Thị nắm cổ hắn mà dúi xuống. Chúng tỏ tình với nhau, không cần đến những cái hôn. Ai lại hôn, khi có những cái môi nứt nẻ như bờ ruộng vào kỳ đại hạn và cái mặt rạch ngang rạch dọc như mặt thớt. Vả lại có những cách âu-yếm bình dân hơn, chúng cấu véo hoặc phát nhau... thiết thực biết mấy...

Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi. Chúng cũng nhận thấy thế, và nhất định là lấy nhau. Như thế năm ngày chẵn Thị ở nhà hắn cả ngày lẫn đêm, trừ những lúc đi kiếm tiền. Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống cho thật ít. Để cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu, nhưng cũng làm người say. Và hắn say thị lắm. Nhưng thị lại là người dở hơi. Đến hôm thứ sáu, thì thị bỗng nhớ rằng thị có một người cô ở đời. Người cô ấy nội ngày nay sẽ về. Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã.

Thấy thị hỏi, bà già kia bật cười. Bà tưởng cháu bà nói đùa. Nhưng chợt nhớ ra rằng cháu bà vốn dở hơi. Bà bỗng trở nên hoảng-hốt. Bà nhục cho ông cha nhà bà. Cũng có lẽ bà tủi cho thân bà. Bà nghĩ đến cái đời dài dằng-dặc của bà, không có chồng. Bà thấy chua xót lắm. Bà uất ức, uất ức với ai không biết. Nhưng rồi bà đổ cái uất ức ngay lên cháu bà. Người đàn bà đức hạnh thấy cháu bà sao mà đĩ thế! Thật đốn mạt. Ngoài ba mươi tuổi mà chưa chót đời. Ngoài ba mươi tuổi... ai lại còn đi lấy chồng! Ai đời lại còn đi lấy chồng! Ừ! mà có lấy thì lấy ai chứ?... Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ. Trời ơi! nhục nhã ơi là nhục nhã! Hỡi ông nhà bà! Bà gào lên như con mẹ dại. Bà xỉa xói vào mặt cái con cháu gái ba mươi tuổi mà chưa trót đời Bà bảo phắt nó:

— Đã nhịn được đến bằng này tuổi thì nhịn hẳn; ai lại đi lấy thằng Chí-Phèo!

Thị nghe thấy thế mà lộn ruột. Nhưng thị biết cãi bà làm sao? Con người ấy có quyền nói thế, bởi con người ấy năm mươi tuổi rồi, năm mươi tuổi còn ai lấy chồng. Thị biết cãi làm sao. Mà không cãi được thì giận dữ nổi lên lùng lùng. Thị tức lắm! thị tức lắm! thị cần đổ cái tức ấy lên một người. Thị ton ton chạy lên nhà nhân-ngãi. Thị thấy hắn đương uống rượu, và vừa uống vừa lẩm bầm chửi thị về nhà lâu. Hắn không quên đợi; bởi phải đợi, hắn lại lôi rượu, và uống cho đỡ buồn. Uống vào thì phải chửi, quen mồm rồi! Nhưng thị làm gì mà hắn chửi? Mà hắn có quyền gì chửi thị? Ồ, thị điên lên mất! Thị dậm chân xuống đất, rồi lại nhẩy cẫng lên như thượng đồng. Hắn thú vị quá, lắc lư cái đầu cười. Lại còn cười! Nó nhạo thị, trời ơi! thị điên lên mất, trời ơi là trời! Thị chống tay vào háng, vênh vênh cái mặt, và dớn cái môi vĩ đại lên, trút vào mặt hắn tất cả lời bà cô. Hắn nghĩ-ngợi một tí rồi hình như hiểu. Hắn bỗng nhiên ngẩn người. Thoáng một cái, hắn lại như hít thấy hơi cháo hành. Hắn cứ ngồi ngẩn mặt, không nói gì. Thị trút xong giận rồi. Cái mũi đỏ của thị dị xuống rồi lại bạnh ra Thị hả hê lắm lắm. Thị ngoay ngoáy cái mông đít đi ra về. Hắn sửng-sốt, đứng lên gọi lại. Ai mà thèm lại! còn muốn lôi thôi cái gì? Hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay. Thị gạt ra lại giúi thêm cho một cái. Hắn lăn khoèo xuống sân. Đã lăn ra thì hắn phải kêu: bao giờ chả thế. Hắn nhặt một hòn gạch vỡ, toan đập đầu. Nhưng hình như hắn chửa thật say. Vì hắn nghĩ: đập đầu ở đây chỉ thiệt; đập đầu ở đây, để mà nằm ăn vạ ai? Hắn tự phải đến cái nhà con đĩ Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó. Nếu không đâm được; lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Muốn đập đầu, phải uống thật say. Không có rượu, lấy gì làm máu cho nó chẩy! Phải uống thêm chai nữa Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa. Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mắt khóc rưng rức. Rồi lại uống. Rồi lại uống. Hắn uống đến say mềm người. Rồi hắn đi. Hắn ra đi vời một con dao ở thắt lưng. Hắn lảm-nhảm: « tao phải đâm chết nó! tao phải đâm chết nó! » Nhưng hắn lại cứ thẳng đường mà đi. Cái gì đã làm hắn quên dẽ vào nhà thị Nở? Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm.

Trời nắng lắm, nên đường vắng. Hắn cứ đi, cứ chửi, cứ dọa giết « nó », và cứ đi. Bây giờ đến ngõ nhà cụ bá. Hắn xông xông đi vào. Cả nhà đi làm đồng vắng, chỉ có mình cụ bá đang nằm nghỉ trưa. Nghe tiếng hắn, cụ thấy sao bực mình! Chính thật thì cụ đã đang bực mình.. Bởi vì cụ thấy đầu hơi rức. Cụ đang muốn có một cái bàn tay man-mát xoa cái đầu. Cũng có lẽ, cụ chỉ muốn bà tư đừng đi lâu quá thế. Đi lâu thế, không biết rằng đi đâu? Sao bà ấy còn trẻ quá! Gần bốn mươi rồi mà trông còn phây phây. Còn phây phây quá đi nữa! Cụ năm nay đã ngoài sáu mươi. Già yếu quá, nghĩ mà chua xót. Giá thế thì bà ấy chỉ cũng già cho xong. Bà ấy lại cứ trẻ, cứ phây phây, cứ đẹp như mới ngoài hai mươi tuổi, mà sao đa tình. Nhìn thì thích nhưng mà tưng tức lạ. Khác gì nhìn miếng thịt bò lựt sựt khi rụng gần hết răng. Mắt bà, miệng bà, có duyên, nhưng trông đĩ lắm! Hơi một tí thì cười toe toét, tít cả mắt lại, cái má thì hây hây. Mà thấy ghét những cái thằng giai trẻ, giá làm con bà không đáng, mà thấy bà đâu cũng đùa. Chúng đùa nhạt như nước ốc, chỉ được cái thô tục, mà gặp ai đâu cũng cười! Chẳng nghĩ gì đến địa vị cả, người đâu mà vô tâm! Tức lạ! cụ chỉ muốn cho tất cả những thằng giai trẻ đi ở tù... Những lúc như thế, thì một người dẫu khôn ngoan cũng không bình tĩnh được. Nhất là khi trông thấy một thằng chỉ đến vòi tiền uống rượu như Chí-Phèo. Tuy vậy, cụ cũng móc sẵn năm hào. Thà móc sẵn để tống nó đi cho chóng. Nhưng móc rồi, cụ cũng phải quát một câu cho nhẹ người:

— Chí-Phèo đấy hở? Le bè vừa vừa chứ, tôi không phải là cái kho.

Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn:

— Cầm lấy mà cút đi đi cho rảnh. Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à?

Hắn trợn mắt, chỉ tay vào mặt cụ:

— Tao không đến đây xin năm hào.

Thấy hắn toan làm dữ, cụ đành dịu giọng:

— Thôi, cầm lấy vậy, tôi không còn hơn

Hắn vênh cái mặt lên, rất là kiêu-ngạo:

— Tao đã bảo tao không đòi tiền.

— Giỏi! hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế thì anh cần gì?

Hắn giõng-giạc:

— Tao muốn làm người lương-thiện!

Bá Kiến cười ha-hả:

— Ồ, tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương-thiện cho thiên-hạ nhờ.

Hắn lắc đầu:

— Không được! Ai cho tao lương-thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương-thiện nữa. Biết không! Chỉ còn một cách... biết không!... chỉ còn một cách là... cái này! biết không!

Hắn rút dao ra, xông vào. Bá Kiến ngồi nhỏm dậy. Chí-Phèo đã văng dao tới rồi. Bá Kiến chỉ kịp kêu một tiếng. Chí-Phèo vừa chém túi bụi vừa kêu làng thật to. Hắn kêu làng, không bao giờ người ta vội đến. Bởi thế khi người ta đến thì hắn cũng đã đang giẫy đành-đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược. Mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh-thoảng máu vẫn còn ứ ra.

⁂

Cả àng Vũ-đại nhao lên. Họ bàn tán rất nhiều về vụ án không ngờ ấy. Có nhiều kẻ mừng thầm. Không thiếu kẻ mừng ra mặt. Có người nói xa xôi: « Giời có mắt đấy, anh em ạ! » Người khác thì nói toạc: « Thằng nào chứ hai thằng ấy chết thì không ai tiếc! Rõ thật bọn chúng nó lại giết nhau, nào có phải cần đến tay người khác đâu ». Mừng nhất là bọn kỳ-hào ở trong làng. Họ tuốn đến để hỏi thăm, nhưng chính là để nhìn lý Cường bằng những con mắt thỏa-mãn và khiêu-khích. Đội Tảo, không cần kín đáo, nói toang toang ngay ngoài chợ, Trước mặt bao nhiêu người: « Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi người ta cho ăn bùn ». Ai chả hiểu « người ta » đó là chính ông. Bọn đàn em thì bàn nhỏ: « Thằng mọt già ấy chết, anh em mình nên ăn mừng ». Nhưng người biết điều thì hay ngờ vực; họ chép miệng nói: « Tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác, chúng mình cũng chẳng lợi tý gì đâu... »

Bà cô thị Nở chỉ vào tận mặt cháu mà đay nghiến:

— Phúc đời nhà mày, con nhé. Chả ôm lấy ông Chí-Phèo.

Thị cười, và nói lảng:

— Hôm qua làm biên-bản., Lý Cường nghe đâu đã tốn gần một trăm. Thiệt người lại thiệt của.

Nhưng thị nghĩ thầm:

— Sao có lúc nó hiền như đất.

Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:

— Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi, thì làm ăn thế nào?

Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua....

Février 1941

Nam-Cao

NGUYỆN-VỌNG

Trận mưa lúc nãy tuy đổ xuống ào ào nhưng chẳng bao lâu đã tạnh. Mây tản hết. Mặt trời lại nhô ra. Ánh nắng nhuộm tươi những chòm lá me non rợn. Hơi nước bốc lên như khói. Đường loang lổ, hỗ ướt chỗ khô. Sài-gòn lúc ấy giống như một cô bé ngây-thơ, vừa khóc chưa ráo lệ dã lại cười tươi tắn. Tôi vội vàng mặc áo ra đi.

Như thế đã quen rồi. Cái ngày mà tôi đặt bước đến Sài-gòn là ngày chấm hết cho cuộc đời « cấm cung » của tôi hồi còn là một học sinh tỉnh nhỏ. Bây giờ tôi không thể ngồi nhà luôn hàng buổi được. Những vẻ lộng lẫy kiêu-xa của « hòn ngọc Viễn-đông », cũng như những cảnh lầm-than của nó, đối với tôi, có một sức quyến-dũ lạ lùng. Đôi chân tôi lúc nào cũng muốn đi. Tôi cứ phải luôn luôn ở ngoài, trà trộn với đám đông, chen chúc, xô đẩy, mải mốt, vội vàng của Saigon hoạt động. Giữa đám người không ai biết ai, không ai để ý đến ai, tôi tò-mò nhận xét từng dáng-điệu, từng cử-chỉ, từng vẻ mặt, từng cái nhìn của những khách qua đường không quen. Tất cả những cái ấy « nói » với tôi nhiều lắm. Có khi chúng hé cho tôi thấy một cuộc đời tan nát, một kiếp sống âm-thầm, một linh-hồn mệt nhọc, một cái nguyện-vọng bị đè nặng dưới những trở lực không bao giờ vượt nổi...

Đến đầu đường Bonard, tôi gặp chị Thanh từ chợ mới Bến-thành đi lại. Sự ngạc-nhiên của tôi lộ ra ngoài mặt. Đã từ lâu, tôi nghe nói anh ấy đã xin được một chỗ làm ở Nam-Vang. Tôi cứ tưởng chị đã theo chồng đến đấy từ bao giờ rồi. Tôi hỏi. Chị đáp lại với một cái lắc đầu chán nản:

— Ông ấy xin thôi rồi!

Tôi mỉm một nụ cười thương hại và hơi chế nhạo. Anh Tá, chồng chị Thanh, tôi không được biết cho rõ lắm. Lần nào đến chơi, tôi cũng chỉ gặp một người ít nói, nghe chuyện người ta bằng đôi tai lơ-đễnh và đáp lại bằng những nụ cười rất mơ-hồ, vẻ mặt trầm-ngâm, và đôi mắt, đáng nhẽ rất tinh nhanh, lại luôn luôn lờ-đờ như nhìn những cái gì ở đâu xa, xa tắp Đó là một cái linh-hồn đi vắng. Tôi không có cớ gì để ghét, nhưng mà không thân.

Còn chị Thanh thì đã nhiều dịp than phiền về anh nhiều lắm. Chị trách chồng vơ vẩn, viển-vông, không thiết làm ăn đứng-đắn. Và quả chị không hiểu anh, khi anh cáu-kỉnh bảo chị rằng:

— Mình làm gì hiểu tôi!

Thú thật, vì thương chị, tôi đã hơn một lần thấy Tá là một người đáng khinh. Người chồng ấy quá ích-kỷ, quá hèn nhát, không biết phấn-đấu để dành-giựt lấy miếng ăn cho gia-đình. Không thế thì sao một chỗ làm hơn bẩy chục đồng một tháng, tự nhiên bỏ để trở về với cái nghề giậy học tư chỉ độ ba chục đồng?

— Sao anh ấy buồn cười thế! Xin thôi để làm gì?

Chị Thanh chép miệng:

— Nào ai biết! Đang ngồi sù sù ở nhà ấy, bây giờ cậu có rảnh thì đến chơi.

Tại sao tôi lại có ý muốn gặp con người ngơ ngẩn ấy? Gần như vô tình, tôi rẽ vào đường Colonel Grimaud. Nhà Tá ở là cái căn nhà lụp xụp số 123 này.

Anh đang chúi đầu vào sách nên tôi bước vào mà anh không biết. Phải đợi tôi chào anh mới ngẩng đầu lên, nhìn một lúc, và thong thả chào:

— À, cậu Định.

Rồi anh chỉ một cái ghế để bên bàn học, bảo:

— Mời cậu ngồi chơi đây. Vẫn như thường đấy chứ?

Tôi mỉm cười: hiếm họa lắm, mới được nghe anh dùng một câu xã-giao như vậy. Xưa nay, anh vẫn chỉ nói khi nào muốn nói. Tôi nhắc quyển sách anh đang đọc. Đây là một cuốn sách giậy về giáo-khoa. Tôi hỏi:

— Anh yêu nghề giậy học lắm?

Mắt anh sáng hẳn lên. Cái mặt ngờ-ngờ đột nhiên thành nhanh-nhẹn:

— Thì đã hẳn. Mà chẳng riêng gì tôi, những kẻ còn nghĩ đến giống nòi đều nghĩ đến việc đào-tạo óc. Vì chỉ có sự học thôi, chỉ có sự học là cải-tạo được con người. Xã-hội Việt-nam muốn tiến, quốc-dân Việt-nam phải học. Yêu nước, lo đến tương-lai của giống nòi, không gì bằng học, khuyến-khích việc học, khuếch-trương việc học, truyền-bá sự học. Gieo hạt giống tốt vào óc thiếu-niên để đợi lớp người sau, ai yêu nước một cách sáng-suốt đều nghĩ như tôi cả...

Tôi không tránh được một nụ cười ngờ vực. Anh Tá, hình như nhận thấy, hăng hái tiếp:

— Tôi nghiền-ngẫm đã lâu rồi, và bây giờ tôi đã quyết: tôi quyết sẽ mở một trường tư thật lớn...

Cái trường tư ấy nằm ở trong đầu anh đã từ lâu. Anh đã tìm được cả chỗ làm trường; anh đã vẽ kiểu trường; anh đã nghĩ cách quảng-cáo; anh đã thảo một cái chương-trình to-tát chưa trường nào ở Đông-dương theo nổi. Anh sẽ trả lương giáo-sư rất hậu, đặt quĩ hưu-bổng để các ông có thể yên lòng về vật-chất mà tận-tụy với nghề. Anh sẽ tổ-chức các lớp theo những phương-pháp tối-tân. Anh sẽ cấp học-bổng cho những thiếu-niên lanh-lợi đi ngoại-quốc để nghiên-cứu thêm về khoa sư-phạm...

Anh nói luôn mồm, hăng-hái, trơn-tru, hùng-hồn như diễn-thuyết, lật cho tôi xem nào bản đồ, nào kiểu nhà, nào mẫu bảng quảng cáo, nào mẫu giấy viết thư... đủ thứ. Tôi tưởng như đó là việc của ngày mai, hay của tháng sau, và anh đã sẵn có từng chồng bạc trắng xóa xếp hàng trong tủ sắt.

Bỗng cánh cửa kịch, mở ra. Một cái đầu đàn-bà đen-đủi ló vào, nhìn xoi-mói:

— Cô có nhà không, thầy hai?

Bị quấy rối, anh Tá của tôi hơi gắt:

— Cô đi vắng.

Cái mặt đen, khoặm lại:

— Người chi mà kỳ-cục! Có một đồng bạc gạo ba tuần chưa trả!

Con chim đang bay bổng trên mây, bỗng rơi bẹt ngay xuống đất. Anh Tá bẽn lẽn ra ngoài mặt. Anh không nói nữa, cầm bút vờ chữa lại vài chữ trên bài diễn-thuyết để đọc hôm khánh-thành trường. Tôi rầu rầu để một nỗi chán nản không đâu lôi cuốn tâm hồn. Bỗng tôi hỏi Tá:

— Anh có biết em Tịnh không?

— Sao vậy?

— Tịnh là em tôi, chết đã được đến sáu, bảy năm rồi. Hồi ấy chị có về đưa đám.

Tá không khỏi hơi ngạc-nhiên về cách tôi xoay câu truyện. Nhưng có lẽ thấy ở đấy một cách để thôi ngượng-nghịu, anh hỏi:

— Chết vì bệnh gì thế?

— Bệnh tê bại. Nó mới mười hai tuổi. Không hiểu sao nó bỗng gầy sút người đi, lâu dần chỉ còn xương với da, đứng lên không vững. Tính trẻ con đang ưa chạy nhẩy, bỗng bị nằm só nhà suốt ngày ấy sang ngày khác, nó bứt-rứt khóc-lóc luôn. Tôi thương hại thường nói chuyện với nó cho nó khuây đi đôi chút. Nó rất thích đá bóng; tôi bèn đem truyện đội ban của chúng tôi kể cho nó nghe...

— Đến chủ nhật này, hội chúng mình đá với hội Mãnh-sư đấy Tịnh ạ.

Tịnh kêu lên:

— Thế ả? Cứ gọi là cho chúng nó « cát dô » (4 à 0). Để Tịnh đứng « a-la-de » cho; Tịnh mà đứng « a-la-de » thì phải biết!

Và Tịnh đứng vùng lên. Nhưng hai ống chân gầy đét không đỡ nổi, khiến Tịnh bị vật nằm soài xuống. Thế là Tịnh nức-nở khóc mãi, không sao dỗ cho lặng nữa.

Tá cười chua-chát. Tôi rút khăn lau nước mắt. Tôi đã thương đứa em khốn-nạn, hay đau buồn cho số kiếp Tá, cho số kiếp tôi, số-kiếp của tất cả những người có những chân ống sậy mà lại mang những nguyện-vọng to-tát quá?

Tuy mới sáu giờ sáng mà mặt trời đã cao, rọi xuống những tia rất chói. Nhưng nhờ có gió biển, cái nắng ấy không gay gắt, khó chịu; nó điểm cho cảnh thêm tươi; nó là ánh đèn pha làm nổi bức phông trong rạp hát.

Bọn dân chài ở ngoài khơi về khiêng từng bó sào lên bãi cát. Họ cắm những hàng cọc bắt chéo nhau thành mạng để gác sào lên, căng lưới ra phơi hay mạng lại. Trông người nào cũng lực-lưỡng, mặt rắn rỏi, già cấc dưới cái khăn nâu chít mỏ rìu, cổ gân guốc, cái áo nâu bạc phếch phanh ra trên cái ngực nở nang, bắp thịt tay nổi lên tùng cục, và da bóng loáng như đồng điếu. Hùng vừa hỏi truyện về cách sinh sống của họ xong, và bây giờ nhìn họ thản-nhiên làm việc; Hùng thấy chua cay trong lòng. Nghĩ đến những lúc họ liều thân với sóng gió ở ngoài khơi, những lúc nhọc-nhằn cực khổ chỉ để kiếm mỗi ngày mấy bữa cơm gạo xấu, nghĩ đến cái dã-tâm của bọn chủ nước-mắm dìm giá để mua rẻ, đến nỗi họ luật quât quanh năm suốt tháng mà không được manh áo lành để che thân. Hùng thấy lòng hậm-hực như chính mình phải chịu những sự bất-công vô lý ấy.

Một chuỗi cười trong trẻo như chế-nhạo sự cau-có hiện ra mặt chàng. Bấy giờ chàng mới sực tỉnh, nhớ đến Tuyết đang ngồi lúi húi trên bãi cát. Chàng quay lại:

— Gì thế Tuyết?

— Tóm được rồi.

— Tóm được cái gì?

— Tóm được anh dã-tràng; gớm, nó bò nhanh quá!

Rồi Tuyết chạy lại trước mặt Hùng, mấy ngón tay trắng muốt nhóm con vật nhỏ xíu, nũng nịu bắt Hùng cầm hộ. Dáng-điệu ngây thơ của nàng làm những ý nghĩ nặng trĩu trong óc chàng trút nhẹ đi. Chàng đưa tay phủi nhẹ mấy hạt cát bám trên gò má trắng hồng của Tuyết; Tuyết sung sướng, ngước đôi mắt trong trẻo nhìn chàng âu-yếm, hai làn môi thắm mỉm cười một cách lả-lơi:

— Cám ơn Hùng nhé.

Hai mặt gần sát nhau. Một cái hôn gần chạm trên trán Tuyết thì Hùng bỗng dừng ngay lại. Chàng trông vội về bọn người chài lưới, rồi lại vội trông đi, mặt bẽn-lẽn như bắt gặp làm một điều đáng trách. Chàng cho là đáng trách, khi phô bầy cái sung-sướng hỗn xược của mình ra trước mắt bọn người lao-khổ ấy. Luống-cuống, chàng nắm tay Tuyết kéo bừa đi, mồm giục:

— Mau lại đằng kia, Tuyết.

Tuyết tưởng chàng cả thẹn, mỉm cười, bước theo. Đi một quãng, hai người dừng lại tò-mò nhìn một bà già, quần áo rách bươm, mặt răn reo buồn như mếu, ngồi lê trên bãi cát, lẳng-lặng bới tìm từng mảnh vỏ sò, hến cho vào một cái rổ kéo lê theo. Hùng bùi ngùi trước cái đời đã gần tàn mà vẫn còn tiết ra đau khổ ấy. Chàng thở dài nghĩ đến một người đàn bà già yếu, ở rất xa, trong một làng nhỏ nghèo-nàn ngoài Bắc, đang chết dần trong đau buồn và túng quẫn. Và chàng ngồi xuống, vừa nói truyện vừa nhặt vỏ hến giúp bà già, trong khi Tuyết lơ-đãng trông ra xa tắp, nơi chân trời xanh ngắt kẻ một đường rất nhỏ, rất thẳng, trên mặt bể cũng xanh, nhưng lợt hơn một chút... Bỗng nàng lấy tay khẽ đập vào đầu Hùng một cái, hỏi:

— Người ta làm gì kia anh nhỉ?

Hùng ngửng đầu lên. Tuyết chỉ cho chàng một mỏm cát nhô ra mãi ngoài xa, có một người đàn ông đứng trên một chiếc thuyền con, đang vừa cắm cúi làm gì không biết, vừa nói truyện với một người đàn bà ngồi sát ngay mặt nước. Không đợi Hùng trả lời, Tuyết vùng chạy lại chỗ ấy, mon men bước ra, rồi ngoảnh lại vừa cười vừa vẫy. Hùng chào bà già, đứng lên, uể-oải theo...

— Gì thế, Tuyết?

— Mau lên anh, đi ra cái cù-lao.

Hùng nhanh-nhẹn nhẩy luôn ba, bốn bước, và chạy lại, ôm choàng lấy Tuyết, cười khanh-khách. Những làn sóng thi nhau chạy vào bờ, và réo ào ào, đột nhiên chuyển vào Hùng một nỗi vui bồng-bột. Người đàn ông, bây giờ chàng mới biết là đang dũ lưới, còn người đàn bà thì giặt rổ. Nhưng Hùng không nhìn họ nữa. Chàng nắm chặt tay Tuyết, hai người đứng sát nhau, để nhìn mặt bể đang sôi sùng-sục, Hùng luôn luôn mỉm cười, và thỉnh-thoảng nắm mạnh cánh tay người yêu một cái. Tuyết sung-sướng, lim-dim mắt, nũng-nịu ngả đầu vào vai chàng; mấy món tóc nàng bị gió thổi, mơn lên má chàng như những cái vuốt ve.

Một con cá, bị sóng ném lên bờ, làm hai người tỉnh mộng. Tuyết mừng rú lên, nhẩy lại vồ; nhưng con cá, nẩy lên vài cái, và lại tìm được nước. Hùng mỉm cười, bảo:

— Thôi, đi vào thôi, Tuyết.

Nhưng chàng bỗng kêu theo:

— Nguy rồi! không có lối vào, Tuyết ạ.

Nước triều lên đã rút vào ngập lối ra lúc nãy. Mỏm cát bây giờ quả nhiên là một cái cù-lao, chung quanh là nước, Hai người tần-ngần chưa biết làm sao. Một người trẻ tuổi, có lẽ là dân chài lưới, vén quần lên quá gối, lõm bõm lội vào. Tuyết gọi giật người ấy lại:

— Này anh.

Anh ta trố mắt nhìn và đợi. Tuyết bảo Hùng:

— Em bảo nó cõng chúng ta vào bờ nhé?

Hùng sầm mặt, ấp úng:

— Không... không... anh không muốn...

Tuyết nhìn chàng như dò xét, rồi mỉm cười tinh quái:

— Sao thế, anh?

Hùng nhún vai, không đáp, Tuyết cười khanh-khách, và nói ngọt một câu bằng tiếng Pháp:

— Em hiểu: anh ghen vời hắn.

Hùng kêu lên một tiếng và đỏ mặt. Thật ra, chàng có ghen đâu? Chàng chỉ khó chịu vì cái tính đài-các của Tuyết, quen dùng tiền mà sai khiến. Cái ý ấy chiếm cả khối óc chàng, khiến chàng không nghĩ đến ghen với anh chàng trai trẻ kia, sẽ được ôm trên lưng cái thân-thể gọn-ghẽ, nõn-nường của Tuyết. Nhưng bây giờ, vì Tuyết gợi ra, quả thực chàng thấy hơi ghen thật, và cúi đầu, đứng lặng. Tuyết lại càng cười to:

— Anh ghen, hở? Vậy thì mời anh tháo giầy ra.

Rồi nàng nhanh-nhẹn tháo giầy. Hùng làm theo. Tuyết vén gọn áo, xốc quần lên, bước chân trần xuống nước. Nàng quay lại, vừa cười vừa bảo Hùng:

— Anh có ghen với sóng không?

Hùng ngượng-nghịu; nàng lại diễu thêm:

— Trời ơi! sóng nó vuốt-ve chân em đây này!

Hùng đưa mắt nhìn chân Tuyết: một cái bắp chân thon thon, tròn trĩnh, trơn nhẵn và trắng mát, loang loáng nước. Vẻ mặt khó chịu của chàng tươi ngay lại. Và cũng cười theo Tuyết, chàng vén quần, chạy xô lại, ôm lấy nàng. Hai người lảo-đảo, nước bắn toé lên, Tuyết cười sằng-sặc. Rồi cứ ôm lấy nhau như thế, họ lõm-bõm đi vào bờ.

Hai người ngồi lên một cái thuyền gỗ nhỏ ghệch trên bãi cát để phơi chân. Hùng mơn-man vuốt bắp chân Tuyết, mịn và trơn nuột. Tuyết không ngăn cản, tựa vào chàng.

Bỗng Hùng giật mình, đẩy Tuyết ra. Tuyết ngạc-nhiên:

— Gì thế, anh?

Hùng khẽ lẩm-bẩm:

— Em ngồi xích ra một chút, người kia nhìn chúng ta.

Tuyết bật cười, lăn vào lòng chàng:

— Trời ơi! Anh bẽn-lẽn hơn con gái. Anh cần gì để ý đến thằng mọi ngây-ngô ấy.

Hùng cau mặt, hàm răng trên cắn môi dưới, rầu rầu. Bỗng chàng khẽ thở dài. Tuyết tưởng chàng giận, vừa vuốt-ve, vừa hỏi:

— Anh làm sao thế?

Hùng trả lời, tiếng nhỏ, rời-rạc và buồn:

— Anh tiếc lắm; chúng ta yêu nhau quá mà không thể ăn đời, ở đời được với nhau.

Tuyết sửng-sốt:

— Tại sao vậy, vì chúng ta yêu nhau kia mà.

— Chúng ta yêu nhau lắm, nhưng chúng ta không cùng giai-cấp với nhau: em giầu sang quá, giầu sang từ trong trứng giầu ra; còn anh, nghèo khổ ngay từ khi còn trong bụng mẹ.

Tuyết dịu-dàng hơn:

— Anh đừng lo gì hết cả. Me em yêu em lắm, chắc không bao giờ me em nỡ chia rẽ chúng ta.

Hùng lẳng lặng một lúc như để cố nén sự cảm-động rồi nói:

— Cái nó chia rẽ chúng ta không phải là me em, mà là sự trái-ngược giữa hai khối óc, đào-tạo trong hai hoàn-cảnh cách nhau xa. Chúng ta yêu nhau lắm, nhưng mà chúng ta không hiểu được nhau, mà cũng không hợp tính nhau. Như thế, không thể nào sống chung với nhau sung-sướng được.

Tuyết giấu mặt vào lòng Hùng, nức-nở.

MA ĐƯA

Hai đứa trẻ, lê-la trong vườn, vừa làm cỏ vừa nói chuyện. Hai đứa cùng gầy còm, cùng đen đủi, tóc mới nuôi chẳng sửa chăm, quần áo rách vá nhiều chỗ và bẩn thỉu. Nhưng nhìn kỹ, cả hai cùng rất có thể xinh-xắn được: chỉ cần thêm cơm và sạch-sẽ. Trinh, 14 tuổi. Hai mắt tròn, đen và dịu dưới hai nét lông mày thiên-nhiên nhỏ tắp, cong và dài, như tỉa và vẽ lại; miệng nó nhỏ, múm mím, trông như hơi thụt vào bên cạnh cái cằm nhô ra và đôi má tròn; trán nó râm-rấp bồ-hôi, cái cười của nó rất lành, giọng nói chậm và cung bực đều đều; nó hiền, hiền đến hơi ngờ-nghệch. Trạch kém chị hai tuổi, nhưng có vẻ tinh hơn. Người nhỏ nhưng có thịt lẳn, da nhẵn, mỏng mặc dầu đen, đôi mắt nhanh-nhẹn đáng nhẽ sắc-sảo, tiếc thay! bệnh đau mắt hột làm những mi eo hẹp lại và lòng đen, lòng trắng lờ lờ ra nhiều rồi. Nó nói cười đều có chút mỉa-mai; một đôi khi, người ta ngạc-nhiên vì những sự nhận xét của nó, rất ngộ-nghĩnh mà rất đúng.

Trạch ở chơi nhà dì ngoài bốn tháng nay, mới về quê chưa đầy tuần. Hai chị em, lâu ngày xa cách bây giờ gần-gũi, thấy yêu nhau tha-thiết lắm. Làm hay chơi chúng quấn quít nhau suốt ngày. Trinh đã nghe chuyện tỉnh-thành rồi. Bây giờ đến lượt nó kể chuyện ở nhà cho Trạch. Có gì đáng nói? Phải đòn phải chửi lắm cũng quen đi, không còn phải là những cái Trinh cho là quan-trọng; rước sách thì lâu nay chẳng có; Trinh hấp tấp đến ngay cái truyện từ trước đến nay chưa từng thấy: bà chúng xuýt bị ma rìm xuống ao. Quả nhiên, Trạch ngừng ngay chép lại: nó mở to đôi mắt, « hừ » một tiếng, như là không tin. Trinh đắc-trí, nhe răng cười:

— Thật đấy. Không tin cứ hỏi bà mà xem!

Đêm hôm ấy không có giăng, nhưng giời cũng không tối lắm. Thức giấc, bà chúng nó ra ngoài đi tiểu. Đêm nào bà cũng phải dậy đi một lần. Hôm ấy, đi xong bà thấy mắt hoa lên và người hơi bủn-rủn. Không khéo bà lại cảm! bà vội quay vào nhà. Giời tối thêm hay mắt bà mờ? Cái hè nhà đâu, bà chẳng còn trông rõ nữa. Nhưng mà còn cần gì phải trông; mọi lần đều thế, có lần giời đen như mực, bà cứ nhắm mắt lại cũng không nhầm đường; cái việc ấy thuộc quá rồi, bà có thể làm như một cái máy. Nhưng, chết nỗi! bà đi mãi mà chưa thấy đầu hè đâu. Bà đưa tay quơ ra trước mặt. Ô hay! cái gì tròn, nhẵn... à này cái mấu, thôi đây là bụi tre. Bà giật mình đến thót một cái; chân trước bà thụt ngay xuống bùn. Hỏng mất! đây là vườn trước, bà đã đến tận bờ ao nhà bà phó Sâm. Sao thế nhỉ? bà nhớ rõ ràng bà có quay người lại, mà sao không giở vào lại đi ra thế này! Bà muốn lộn lại, nhưng lúng túng, cứ một bước lại gặp tre, lại thụt một chân xuống nước. Không dám đi nữa, bà ôm chặt lấy một cây tre, mở to mắt ra, cố nhìn. Ở đằng xa, chín mười người cầm đóm thấp-thoáng trên bờ nước; có người cúi xuống; tay họ cắp rá, có lẽ họ đi xóc gạo... Quái! nhà bà phó Sâm có công việc gì mà đi xóc gạo sớm thế, mà lại nhiều người thế? Chó bốn bên đổ xô vào, xao lên. Chết thật! ở nhà bà, chúng nó ngủ sao mà mệt thế! giá trộm nó vào nó rỡ nhà đi cũng không biết gì. Bà cất tiếng gọi Trinh. Nó ngủ say. Bà gọi Kính: không thưa nốt! Bà gọi Đạt. Rồi bà gọi Khiết. Gọi lâu lắm, lần lượt gọi tên cả nhà. Chó xung quanh rú cả lên. Ở nhà vẫn không ai nghe thấy. Ngủ gì mà như chết vậy? Hàng xóm nghe thấy cả; có người ở rất xa cũng nghe thấy có tiếng người gọi rất lâu; họ thức dậy lắng tai nghe: tiếng gì mà lạ quá, lúc run run, lúc ú ớ, có lúc trú lên như tiếng hú, nghe mà rợn! Anh Luân, nhà gần đấy, thấy khang-khác, chạy ra nghe ngóng, và khi đã chắc chắn người ta gọi nhà bà lý, liền gọi hộ. Anh mới gọi hai ba tiếng, trong nhã đã thưa. Trinh và Khiết đốt đèn, chạy ra. Chúng thấy bà đang đứng tận dưới vệ ao nhà ông Chánh-hội. Đây là cái ao ở đằng sau nhà, đâu có phải ao nhà bà phó Sâm. Mà cũng chẳng có ai vác đóm đi xóc gạo; cả nhà ông chánh-hội thấy động chạy ra; họ bảo họ vẫn nằm nghe-ngóng, chứ có đóm đèn gì đâu? Bà bị ma đưa rồi. Nó định dìm kia đấy, nhưng số bà chưa chết. Hú vía! kể cũng còn là may!...

Trạch mỗi lúc một thêm kinh-ngạc; nó lo-lắng bảo chị:

— Thế ra vườn nhà ta cũng có ma, chị nhỉ?

Trinh làm ra vẻ thành-thạo:

— Chỗ nào mà chẳng có ma! Ngày xưa nó cũng đã chực dìm bà chánh-hội, chỉ một ly nữa là chết đấy.

— Thế hở, chị?

— Ừ. Mà cũng chỉ vừa chập tối đấy thôi. Bà ấy cắp rá gạo và xách cái nồi ra ao. Xóc gạo, rửa nồi song rồi, bà đặt cái rá gạo trên miệng nồi, định rửa tay một cái rồi về. Tự-nhiên cái nồi quay long-lóc, cứ vừa quay vừa xa ra. Bà đưa tay với. Nó buột đi mất. Sợ hãi, bà vội vàng xắn quần lội xuống đuổi theo. Nó xa hơn. Bà đuổi mãi. Nó cứ cách tay bà độ một gang, nhưng bà không sao với kịp. Nó cứ quay tít mãi, mà ra đã đến gần giữa ao. Nước đã lên đến cổ, bà chánh vẫn còn đuổi mãi. May lúc ấy người nhà ra trông thấy. Người ta nhẩy bổ xuống, phải ba người mới kéo được bà lên: Bà mê man, cứ nhất định đòi ra vớt nồi. Chậm một phút nữa là bà chết.

Trạch lè lưỡi ra, mắt sợ hãi, lắc lắc cái đầu:

— Ghê quá nhỉ? Nghĩ mà lại lo.

— Việc chó gì mà lo! số mình chưa chết thì bố nó cũng không làm gì nổi. Có điều nó chỉ trêu ghẹo mình thế thôi. Tháng trước nhà nấu một nồi năm canh bánh đa. Nó lẻn vào ăn lúc nào chả biết, thành ra lúc mình ăn, cá thì vừa nhũn vừa tanh, bánh thì rản ra, như là canh thiu. Thế mà chỉ vừa múc ra bát có một lúc, chỉ độ ăn giập bã giầu chứ có để lâu la gì đâu.

Trạch cứ ngớ người ra. Trinh nuốt bọt, cười, nhìn em. Trạch hỏi:

— Cái gì thế, chị?

— Nói đến canh bánh đa mà thèm!

Trạch cũng thấy mồm dần dần đầy nước rãi. Chúng nhịn đói từ chưa hôm qua đến giờ. Giời làm đói kém, nhà nào cũng thế thôi: trưa nay một lùm lùm bát, đợi đến trưa mai mới lại được một lùm lùm bát. Trạch, ba tháng ở nhà dì, cứ mỗi ngày ba bữa ăn đến tròn cái bụng, bây giờ đói quá. Càng đói nó càng thương chị: chị nó chưa được ăn no bao giờ. Nhưng thương hại thế thôi, chứ biết làm sao được? Bà thì già, mẹ thì túng, chúng nó còn lau nhau cả, chỉ biết ăn không biết làm, đào đâu ra tiền mà ăn no? Nó bảo Trinh:

— Thôi, chúng ta cố làm xong chỗ này đi; đến trưa, rồi ăn cơm.

Trinh, an phận:

— Phải đấy. Bây giờ mà ước canh bánh đa thì còn là treo mõm!

Rồi nó cúi xuống, loay hoay giẫy cỏ. Nhưng cái thèm ăn chưa chịu rời khỏi óc; nó lại bảo:

— Hãy ước một tấm bánh đa thật ròn mà nhai cho sướng mồm:

Trạch nghĩ-ngợi một thoáng, rồi bảo:

— Thế thì được.

— Không biết lấy tiền đâu mà được?

— Tôi hãy còn một xu.

Đó là tiền dì nó cho, đi xe còn thừa. Nó định để bỏ ống, nhưng nghĩ thương chị quá, không nỡ để. Nó bàn với chị:

— Ta đi ra chợ hàng mua tấm bánh đa, chị em mình ăn chơi.

Trinh cảm-động. Một xu đối với nó thật là to tát. Nếu nó có, nó chỉ đùm thật kỹ, chẳng chịu bỏ ra bao giờ. Nó biết Trạch cũng quí tiền ngang ngang với nó. Trạch có muốn đãi chị, mới chịu bỏ đồng xu ra. Nó không muốn phá hại em như thế ấy...

— Thôi, Trạch ạ. Đừng ăn nữa hoài tiền. Để dành rồi tiêu gì thì tiêu. Bây giờ cũng gần ăn cơm rồi.

— Không, tôi đói lắm, không làm được nữa.

— Cố mà nhịn, cho quen, em ạ.

— Tội gì có tiền mà nhịn! Rõ ra người giời đây. Ta đi nào.

Nói rồi nó đi ngay. Trinh khoác cái rổ sề lên vai, chạy theo em. Nó cẩn-thận thế, để nếu có gặp bà hay mẹ hỏi, thì sẽ nói: đi hót rác. Nhưng chẳng ai trông thấy chúng. Hai đứa giắt tay nhau ra chợ hàng.

Trời nắng chói. Cây cối đứng im như bằng sắt. Lá hơi rũ xuống, tựa nóng quá mà mềm ra. Trinh và Trạch thấy đường làng vắng ngắt. Bóng chúng nó đã thu gọn vào đưới chân. Trưa rồi đây. Chả biết người hàng bánh có còn đấy không?

Trinh bảo Trạch:

— Hàng hết người rồi, em ạ.

— Thì cứ lại.

— Trông kia kìa: có còn ma nào ở đâu?

— Thì cứ lại. Ngộ họ ngồi trong quán.

Họ ngồi đấy bán cho ma nào, vào lúc này? Người ta đang ăn cơm cả rồi.

Thì cứ lại. Đã đi đến đây rồi, còn mấy bước nữa, sao lại về?

— Lại thì lại nhưng cũng bằng công toi!

— Công toi thì công toi!

Chúng đi thẳng ngay vào quán. Sắp bước vào Trạch bỗng hoảng-hốt quay ra, chạy: nó thấy một con trâu đen, to, dữ dội, sừng cong và nhọn hoắt, sộc ra đuổi nó. Trinh chẳng trông thấy gì, nhưng thấy em chạy, thì cũng chạy theo em. Chúng giắt díu nhau cùng chạy. (Những người gặp chúng kể lại rằng chúng chỉ đi rảo bước chứ không phải chạy). Chạy một lúc thì chúng quên hẳn con trâu. Quên cả việc đi mua bánh đa ăn cho đỡ đói. Mà chúng cũng không đói nữa. Chúng thấy người nhẹ-nhõm, lòng vui vui. Chúng định đi đâu? Chúng không biết. Mà cũng không biết con đường đang đi là đường nào Cảnh hai bên khoáng-đãng và tươi đẹp. Những đồng lúa bát-ngát giải mầu xanh non. đến tận chân trời; một vài cái ao, nước lấp-lánh dưới những tia nắng đẹp; một xóm rất nhiều nhà gạch, san-sát như ngoài phố; một cái đền, đầu mái cong chọc thủng đám lá si; một cái cầu gỗ; lại một cái đền như cái trước, một xóm nhà gạch như xóm trước, rồi ao, rồi ruộng, rồi một xóm nhà gạch, một cái đền, một cái cầu gỗ nữa... Cảnh không thay đổi mấy, quanh quẩn chỉ mấy thứ đó, nhưng chúng đi không biết chán..

Bỗng Trinh níu em, đứng dừng lại trên bờ một cái lạch, nước trong veo. Tôm tép nhiều quá, lúc nhúc, giá lấy rổ chao cũng được vài, ba bát. Hai đứa vén quần lội xuống. Trinh lấy rổ sề chao. Tôm tép ngầu ngầu trong rổ, nó thích quá! thích quá! Trời ơi! nhiều biết bao! Nhưng đến lúc nhấc rổ lên thì tôm tép lọt ra ngoài mất cả. Những nan rổ sề thưa, mắt rổ to lọt là phải lắm. Bỏ thì tiếc. Tìm đâu được cái gì mà chao bây giờ? Trạch cúi xuống, lấy bàn tay với cái vạt áo trước của nó phê xuống nước. Trinh bỗng nghĩ ra một cách: lấy vạt áo của Trạch, làm vó chao. Nó bảo Trạch sè vạt áo ra, cúi xuống. Trạch cúi, cố cúi nhưng vẫn chưa chao được. Trinh bỗng quắc mắt lên. Nó nắm lấy cái cổ tròn tròn của em, dúi xuống. Trạch thét lên Trinh cười sằng-sặc, càng dúi mạnh. Trạch chống lại. Trinh bóp cổ. Trạch lảo đảo. Đầu nó gần sát nước. Nó vùng-vẫy. Vô ích: Trinh khỏe quá, mà bùn thì sâu.

Nhưng có tiếng người láo quáo. Trinh giật mình, quay lại: một người đàn-bà vạt áo che đầu, đang thoăn-thoắt đi về phía chúng. Trinh hoảng-hốt giắt tay em trèo lên đường, bảo nhau cùng chạy trốn. Trạch lờ mờ thấy một chút băn-khoăn; nó thoảng nhớ đến nhà, bảo chị:

— Đi về đi, chị Trinh đi.

Trinh vênh mặt lên, mắng nó:

— Thế thì mày hèn lắm! Thế thì mày hèn lắm!

Trạch sợ chị giận, im không nói nữa. Nó cúi đầu đi theo. Rồi bước chân nó nhẹ thêm. Nó lại vui như trước. Chúng vừa đi vừa hát những câu hay quá, chưa bao giờ chúng hát. Chúng hát đi hát lại, chỉ sợ rồi lại quên.

Bây giờ đến một cây vam. Thân thẳng và to, lá um tùm, ánh nắng không lọt qua kẽ được. Trinh đứng lại. Trạch làm theo. Hai đứa cùng ngắm-nghía:

— Cái cây này đẹp nhỉ!

— Ta chèo lên đây.

— Ừ, ta chèo lên cây vam này.

— Rúc vào đám lá kia thì thật mát.

— Mà kín đáo, đố còn ai trông thấy.

— Đố còn ai trông thấy!

— Chui giậu vào.

— Chui giậu vào, trèo lên.

Nhưng ba con chó rất to, xộc ra, nhe những cái răng trắng hớn. Chúng xủa ầm-ỹ, cắn những cái cột giậu tre sồn-sột. Có con lấy chân trước cào cào đất. Con nào cũng chực nhẩy sổ vào chúng nó. Lại có tiếng người trong nhà chạy ra. Trinh và Trạch sợ hãi, bỏ cây vam, chạy...

Bây giờ chúng ngừng lại trước một cái vườn tĩnh-mịch. Giậu rất thưa, chỉ khẽ giạch là chui vào được. Qua lỗ giậu, chúng thấy một cai nhà gianh, nhỏ bé. Không thấy chó. Hình như cũng chẳng có ai ở nhà. Vừa tiện! Chúng lẳng-lặng ra hiệu cho nhau chui vào. Chúng nhìn ngơ ngác một lúc, rồi lại một gốc chuối kín đáo hơn tất cả. Trinh hạ cái rổ sề. Hai đứa bước vào, ngồi khoanh chân lại, quay mặt vào với nhau. Chúng nói khe-khẽ như sợ có người nghe thấy. Hai đứa cùng lo-lắng. Chúng chỉ lo gặp người ta vào.

⁂

Cơm giọn xong rồi. Người ta gọi Trinh và Trạch. Không thấy đứa nào thưa. Chết thật! hay rơi xuống ao cả rồi? Người ta tìm khắp vườn. Chẳng thấy đâu. Người nọ hỏi người kia. Mẹ chúng đã rưng rưng nước mắt. Cả nhà nhớn-nhác, mỗi người chạy một ngả, đi tìm.

Khiết, chị lớn của Trinh và Trạch, đi ra phía hàng. Hàng không có người. Khiết đang phân-vân chưa biết đi ngả nào thì gặp bà Lai. Bà này bảo gặp chúng khoác cái rổ đi trong quãng đền Nhà-quan:

— Tôi tưởng chúng nó đi lấy ngọn mía ở nhà bà phó Nhuận. Cứ thấy chúng nó giở đi giở lại ba, bốn lần ở quãng từ tha-ma đến cầu gỗ.

Khiết chạy một mạch đến nhà bà phó Nhuận. Im ắng cả. Không chừng bà lại khóa cửa đi đâu rồi. Khiết gọi. Khiết mới gọi một tiếng, đã thấy trong vườn lắc rắc. Chắc con chó chạy ra cắn trộm. Khiết cúi xuống, phòng-bị sẵn. Nhưng không, Khiết thoáng thấy hai đứa trẻ chạy về phía sân. Một đứa cầm rổ sề úp lên đầu. Đích là chúng nó! Chúng nó vào làm gì đây?

Bà phó Nhuận, đang bế con, thiu thiu ngủ, mơ màng như có tiếng ai gọi ngoài ngõ. Bà vừa mở mắt, thì thấy Trinh và Trạch vào. Mắt chúng dại hẳn ra; mặt chúng xám ngắt. Chắc là chúng phải đòn, trốn vào đây. Trạch chạy nép vào một xó nhà. Trinh luống-cuống, lại ra ngoài xuống bếp. Nghe Khiết gọi, bà muốn giấu cho hai cháu, không lên tiếng. Không thấy thưa, Khiết vào. Trạch cuống quít, chạy vù ra. Khiết đuổi theo. Trạch hoảng-hốt ôm chầm lấy cây cau, mắt long lên, thét thật to như sợ đánh. Bà phó Nhuận nắm tay Khiết lại:

— Chị tha cho em. Đánh mãi nó sợ thất tinh lạc đi thì chết.

— Nào có ai đánh nó!

Trạch chạy vào trong bếp. Bà phó Nhuận ái ngại:

— Tội nghiệp! chúng nó là trẻ con; đe chúng nó qua loa, ai lại làm chúng nó thất kinh như thế ấy?

Khiết chạy theo vào bếp. Cả Trinh, cả Trạch, đang cuống-cuồng chui đầu vào đống gio. Khiết nắm chúng lôi ra. Chúng run rẩy và mắt nháo-nhác như sợ lắm. Đứa nào cũng xo người lại. Khiết quát to ba bốn tiếng. Chúng dần dần ngây người, đờ mặt ra. Một lúc lâu, Trạch tỉnh dần. Nó bẽn-lẽn, khe-khẽ kêu:

— Chị Khiết.

— Chúng mày đi đâu đấy.

Nó ngơ-ngác như không hiểu. Khiết hỏi:

— Chúng mày vào nhà bà phó làm gì đây?

Nó nhìn bà phó Nhuận, khe-khẽ chào:

— Bà.

— Sao đang làm cỏ, chúng mày bỏ đi như thế?

Trạch ngẩn mặt ra như cố nhớ. Nó lắc đầu...

— Không khéo chúng bị ma đưa rồi.

— Phải đấy. Chúng nó bị ma đưa đây mà.

CHÚ KHÌ

Năm ấy, tôi mới đổi về trường phủ T. Đ. Vì có việc bất hòa với gia-đình, nên cuối năm tôi nhất-định ở lại trường, không về nhà ăn tết. Tính vốn ít giao-thiệp, nên tôi cũng chẳng đến chơi nhà nào, ngày ngày cứ ăn xong lại vùi đầu vào chăn ngủ. Mãi đến hôm mồng bốn, nhân thằng Ngô xin phép về nhà nó chơi suốt một ngày, còn mình tôi buồn quá, nên khoác áo, khóa trái cửa trường, bước ra đi. Lúc ấy đã bốn giờ chiều. Nắng úa lắm rồi, và ngày bảng lảng một cái buồn cô-tịch. Tôi thấy một thứ khó chịu gần như về thể-chất, một nỗi bứt rứt không đâu, và có lúc muốn vô cớ òa lên khóc như một đứa trẻ ngủ ngày vừa thức dậy. Tôi vừa đi vừa cau-có rủa thầm cả mọi người: sở Học-chính đã đổi tôi về cái trường khốn-nạn này, ông anh dở hơi đã làm tôi không về nhà ăn tết, cái huyện buồn như một cái tha-ma, bọn dân vùng này ngu như một đàn bò, và — vô lý quá! — cả cái thằng Ngô mất giậy mà chính tôi, sáng hôm nay, đã thuận cho đi chơi đến tối...

Bây giờ thì nắng tắt hẳn rồi. Suơng đè nặng trên sông và thả nỗi u-uất vào kẽ những cành cây ủ-rũ. Một vài người, tay thu bọc dáng điệu xo ro, đi ra từ những cái ngõ tối như hang. Họ vừa ở đám bạc ra về, hay đi tìm đám bạc... Tôi bỗng nẩy ra một ý: đến nhà ông chánh-hội làng L. Đ. đánh tổ tôm. Ông này có đứa con học lớp nhì, và hai ba lần đến chơi với tôi, khẩn-khoản mời tôi bao giờ quá bộ đến chơi nhà ông để ông, và mấy ông bạn tổ-tôm của ông được thừa-tiếp tôi mấy hội. Tôi hứa nhưng chưa bao giờ làm cả. Có chăng là hôm nay.

Quả nhiên, ông chánh-hội lấy làm hân-hạnh lắm! Và tôi đã được biết thế nào là uống rượu với các ngài nhà quê! Ấy là ông Chánh biết tính những nhà tây-học không ưa kề cà đấy; nếu không, có lẽ sau bữa rượu ấy, có lẽ tôi đã sục xuống đất và không bao giờ còn đứng lên. Sự thực thì chưa bao giờ tôi uống nhiều đến thế. Chén này, chén khác, tôi mềm môi uống mãi, muốn quấy tan sầu vào rượu. Mà hai ông được mời đến tiếp tôi, — một ông lý có cái mồm bèm-bẹp, và một ông đỗ nhất-trường cái mồm, trái hẳn lại, múm mím và mỗi khi cười thì vành môi đỏ chót cứ thụt vào lại nhô ra rồi lại thụt vào trông rất buồn cười, —

hai ông ấy, với chủ-nhân nữa, cố nhiên không phải là những người mới ba chén mặt đã đỏ gay lên rồi. Câu chuyện lúc đầu hết sức ôn-tồn, lễ-phép, dần dần đổi ra thân-mật, rồi xuồng-xã, sau cùng thì gần như thô-tục; một ông nói to hơn, ông khác làm theo, ông thứ ba đâm ra quát tháo; ai cũng hung-hăng đòi nói cả, thành ra chẳng ai nghe thấy gì. Riêng tôi, vẫn tỉnh-táo để giữ gìn miệng lưỡi, nhưng cũng đã thấy mặt nóng rừn-rựt, mắt dim-díp, mà cái đầu nặng quá chỉ muốn chùi vào trong mâm.

Nhưng rồi bữa rượu cũng phải xong. Sức chứa của mỗi cái bình đều có hạn; những cái bình chứa rượu là các ông kỳ mục cũng không thể thoát ra ngoài cái luật thiên-nhiên này. Rượu đã xong, thì người nhà có thể xếp giọn rồi: những người uống tợn không mấy ai ăn nhiều. Ông chánh-hội quát bọn đầy tớ nhà ông ầm ĩ vì chưa tìm ra một người thứ năm cho đủ chân tổ-tôm. Cụ Cán bên hàng sóm thì đi vắng mãi tự chiều; còn ông phó Cúc thì đã đang đánh xóc-đĩa rồi mà ông đã ngồi vào đám xóc-đĩa, thì — thằng nào nói giối cả nhà nhà nó chết! — cái nhà thờ tổ nhà ông có cháy ông cũng không đứng lên đâu mà hòng! Người ta đã nhắc cho ông chánh biết những điều ấy hai ba lần rồi nhưng hình như ông không nghe thấy gì, nên lại quát:

— Ô hay! chúng mày không đi mời cụ nào đánh tổ-tôm.

— Bẩm ông, không còn ai có nhà.

— Hừ! cụ Cán?

— Bẩm ông cụ Cán đi vắng.

Thấy ông chưa nghe hết câu đã quay vào nghe ông Lý với ông Nhất cãi nhau về một vế câu đối nhớ sai, thằng đầy tớ nói to:

— Bẩm ông ạ...

— Cái gì?

— Cụ Cán đi vắng ạ.

— Tao biết rồi. Thế ông phó Cúc?

— Bẩm ông, ông phó đang chơi sóc đĩa.

— Bảo ông ấy sang đây hầu tổ-tôm ông giáo.

— Bẩm ông, ông phó đang thua.

— Mặc kệ! Cứ nắm cổ ông ấy kéo sang đây.

— Con đã mời hai ba lượt...

— Để tao sang mới được.

Nói xong, ông xỏ giầy, thất-thểu đi ngay. Tôi nắm tay ông, kéo lại:

— Thôi, cụ chánh để cho ông ta gỡ.

— Bẩm vâng ạ, nhưng cháu phải bắt ông ấy sang đây hầu ngài vài hội đã...

— Thôi tôi xin cụ.

— Bẩm được, không sao; ngài cứ để cháu sang.

— Ông để cho khi khác...

— Được mà...

— Thôi cụ chánh...

Thấy hai ba người cùng can, ông đành lại ngồi xuống, nhưng có vẻ không bằng lòng. Nghĩ-ngợi một lát, ông bỗng khẽ hỏi chúng tôi:

— Hay mời ngay chú Khì?

Hai ông khách kia nghiêm nét mặt, nhìn tôi, do dự. Chắc kẻ ông chánh định mời là một người không chức tước, không tiện để ngồi cùng tôi chăng? Tôi thuận ngay:

— Bẩm được ạ. Ai cũng được... ai chả thế.

Ông chánh đưa mắt nhìn quanh nhà một cái, rồi bảo nhỏ tôi:

— Có điều này tôi phải dặn trước ông: chú Khì không phải là người như ông và tôi...

Tôi vội gạt đi:

— Cái đó không hề gì. Đã đánh bạc ai có tiền cứ đánh.

— Điều ấy thì ông không lo; chú có tiền thật như tiền của chúng ta tiêu vậy...

(Tôi nghĩ bụng: cái ông này khéo lẩn thẩn! chắc say bứ ra mất rồi...)

— ... mà chú phân minh lắm, không chằng bửa của ai một đồng. Nhưng ông phải hết sức giữ vẻ tự-nhiên mới được. Đừng tò mò, đừng giò hỏi lôi thôi, tính chú Khì rất ghét người ta cứ vừa đánh tổ-tôm vừa dò la truyện chú. Chú ấy thất ý lên thì đập cả đèn ra ngay.

Ông lý vội cướp lời:

— Như cái lần ở nhà cụ chánh Thư. Không biết ai nói lôi thôi gì mà chú Khì cầm cả nắm bài ném vào cái đèn ba giây vỡ đến « choang » một cái.

Tôi ngạc-nhiên, không hiểu cái người hay cáu kỉnh ấy là một người ra thế nào, mà ai cũng có vẻ kiêng nể thế? Ông chánh-hội lại co lấy cái quyền nói về phần ông:

— Thì hôm ở nhà ông thủ-quỹ Xiêm cũng thế...

Nhưng ông Nhất bỗng gạt đi:

— Ông chánh đừng nói nữa. Nói lôi thôi mãi chú ấy giận không thèm chơi đâu.

Rồi quay sang tôi ông dặn:

— Cả ông giáo nữa nhé. Ông nhớ cứ thản-nhiên như không cho. Hễ chúng tôi bảo đánh thì cứ đánh, đừng hỏi lôi-thôi gì.

Tôi tỏ ý ưng-thuận, nhưng thật ra sự tò-mò bị kích-thích ghê-gớm lắm.

⁂

Ông chánh-hội gọi người nhà đem bài ra chia. Cái ông này say quá đến nỗi đặt cái cầy trước con trâu! tôi nghĩ bụng thế vì chưa thấy ông sai đứa nào đi mời chú Khì cả. Nhưng bài chia xong, ông chánh nghiêm-trang, tay nọ nắm tay kia như một cậu học-trò khúm-núm, nhìn vào một góc nhà mà nói:

— Anh em chúng tôi mời chú Khì chơi vài hội tổ-tôm.

Tôi bật cười, chính vì cái trò đùa của ông vô-duyên quá. Nhưng ông Nhất nhìn tôi một cái trách-móc đến nỗi tôi phải ngừng ngay lại, mặt hơi bẽn-lẽn. Mọi người ngồi ngay-ngắn ra từng góc, như sẵn-sàng để đánh. Tôi vô tình làm theo. Ông chánh giao hẹn:

— Chú xong rồi đấy chứ? Nào ta chơi. Ta góp nhỏ hai đồng thôi: ù suông bốn hào, tôm lấy sáu, lèo tám, thập hồng kính cố một đồng, bạch định đồng hai... Mời ông giáo cho cái ạ.

Tôi ngập-ngừng, nhìn vào một chỗ ngồi còn trống. Ông lý bẹp mồm nháy mắt ra hiệu với tôi: « cứ bắt ». Tôi miễn-cưỡng phải nghe theo, nhưng ngượng-nghịu như bắt buộc phải dự vào một trò chơi quá trẻ con không hợp với cái tuổi và cái nghề của mình đạo-mạo. Con bài của tôi rút ở nọc, vật lên một phần bài rồi, mỗi người nhằm phần mình vơ lấy. Ông chánh vơ phần còn lại ném vào góc trống. Tôi nhìn theo, và rợn hẳn người: góc ấy tối hẳn đi, nắm bài biến vào đấy, không còn trông thấy nữa. Cái đèn bị muội che về phía giường ấy chăng? Ấy là cái óc chuộng khoa-học của tôi cố bám bíu lấy một cái gì để cắt nghĩa cái hiện-tượng vô-lý ấy. Nhưng con mắt ngơ-ngác của tôi gặp đôi mắt trừng trừng của ông Nhất; hình như ông muốn bảo: « ông phải bình-tĩnh lại; ông đừng lộ vẻ kinh-ngạc thế ». Tôi cúi mặt, ngồi lặng-lẽ, nhưng gần như ngạt thở. Sợ-hãi, tức-tối, hay chỉ vì cố đè nén sự tò-mò của mình thái quá?... Ông lý lên bài xong rồi, giục:

— Cái cụ nào, xin đánh đi cho.

Ông chánh-hội, chẳng nói chẳng rằng, vật đến đét một con bài về chỗ trống. Mắt tôi hoa chăng? Rõ ràng tôi thấy từ bóng tối rơi xuống hai con bài khác, và một con thứ ba, vật về khe đầu cánh. Ông Nhất ăn, và vất một con về khe ông Lý. Đến lượt ông này đánh cho tôi. Tôi bốc một con, chẳng còn tâm-trí nào xem có ăn được hay không, quăng cho ông chánh. Tôi chỉ nóng-nẩy xem ông này đánh lại một lần thứ hai cho người chơi tổ-tôm vô hình. Lần này quân bài của ông chánh ném qua vẫn nằm trơ một mình, không có hai quân sa xuống tiếp. Tôi nghĩ bụng: « cái phép lạ chỉ đến đây là phải hết! » Nhưng ông Nhất bảo:

— Chú không ăn? tôi bốc hộ.

Và ông rút một quân trong nọc ném vào chỗ « chú ». Tức thì hai con bài lại kế tiếp nhau, từ khoảng không rơi xuống. Và một thoáng sau, một con nữa vật về khe cụ nhất... Tôi không còn sức nào chịu được! đầu tôi quay cuồng, Tôi phải dụi mắt hai ba lượt. Tôi lần tay vào túi áo pardessus. Họ tưởng tôi tìm diêm thuốc, Quân bài đến khe tôi. Tôi không cần nhìn, rút một con ở nọc ném cho ông chánh. Tôi thấy đây rồi. Và đột nhiên trong lúc chẳng ai ngờ, tôi chĩa về góc chú Khì vô hình một cái đèn bấm. Ông Nhất kêu lên. Ông chánh nắm vội lấy cổ tay tôi. Và « soạt » một tiếng, cả một nắm bài ném vào mặt tôi, túi bụi. Tôi đưa tay vuốt mặt. Tiếp theo một tiếng « choang ». Đèn tắt phụt. Những mảnh thủy-tinh rơi.

— Đã biết mà! khổ quá! khổ quá!

— Thôi ông giáo mới đến đây không biết. Tôi xin chú. Chúng tôi xin chú...

— Cầm cái đèn con lên đây, chúng mày!

Mọi người nhộn-nhạo lên. Tôi không biết chui vào đâu được. Thỉnh-thoảng tôi lại xo người lại. Tôi tưởng như một bàn tay bí-mật nào sắp nắm lấy cổ tôi. Bỗng tôi thét to lên. Một cái bàn tay cứng rắn vừa chạm phải vai tôi. Cái bàn tay rụt lại. Trong lúc cuống-quít, tôi ngã lăn xuống đất... nhưng thằng ở đã cầm đèn con lên. Rồi một cái đèn búp măng, ngọn to hơn. Người ta đỡ tôi lên. Bọn đầy-tớ quét và thu giọn những vật đổ vỡ bừa-bộn trên giường lại. Ông chánh-hội cười khanh-khách:

— Ông giáo bị một bữa hết hồn.

Tôi thú thật rằng sợ quá. Nhưng một ý nghi ngờ rụt-rè ở miệng tôi:

— Có lẽ các cụ dùng « phép ngoại » trêu tôi một bữa.

Ông chánh vẫn cười:

— Ngài giậy thế, chứ chúng cháu có phải là thầy phù-thủy đâu? Mà cho rằng có phù-phép nữa, chả lẽ dùng để trêu ngài hay sao?

Rồi ông kể cho tôi nghe truyện của con người bí-mật hay giận-dỗi kia: chú Khì.

⁂

Đến bây giờ tôi vẫn phân-vân, không biết có thể tin được hay không, cái truyện thậm vô-lý ấy?

« Chú Khì là một ông thầy thuốc Tầu, đến vùng này cách đây đã lâu năm. Khi mới đến, tiếng Nam chú đã thạo lắm rồi. Một thân một mình ở chỗ đất khách quê người, chú tìm cách làm thân với bọn chức-dịch các làng để có thể làm ăn yên ổn. Vì thế chú quen hầu hết các người tai mặt ở quanh đây. Và cũng vì thế chú học đánh tổ-tôm, và về sau chơi mãi thành ra nghiện. Ở đâu có tổ-tôm là đến liền.

Cách đây ba, bốn năm, chú ốm giằng-giai đến hơn một tháng, uống đủ mặt thuốc mà không qua khỏi được, đành phải chết. Biết mình không có ai thân thích, trước khi chết chú cho tìm ông tổng Trung — hồi ấy đang làm lý-trưởng — và ông cựu Cát đến, giao cho một trăm tám, nhờ lo liệu chôn cất giùm. Hai ông nhận tiền, đứng ra làm ma cho chú. Cố nhiên là hai ngài cũng có chấm mút ít nhiều chứ chẳng không. Dẫu ai thì cũng thế!

Ba, bốn tháng sau, một đêm mưa, chúng tôi chơi ở nhà ông tổng Trung; muốn đánh tổ tôm chơi, nhưng thiếu chân, mà mưa to quá, không tìm ai được. Tôi nói đùa:

— Giá chú Khì mà còn sống thì có bão chú ấy cũng lò dò tới ngay.

Một người nói:

— Tội nghiệp! thế mà đã ra ma rồi.

Ông tổng vừa ngáp vừa kêu lên:

— Chú Khì ơi! ở đâu thì về mà đánh tổ-tôm.

Bỗng ngọn đèn bị gió thổi tắt phụt đi. Ông tổng gọi con lấy bao diêm. Nhưng tự nhiên ngọn đèn lại cháy. Người ta đoán rằng gió mới thổi hắt ngọn lửa xuống, chưa tắt hẳn. Im gió, thì ngọn lửa lại nhô lên. Không cắt nghĩa cách nào có lý hơn, người ta đành nhận như thế là có lý. Nhưng bỗng chẳng có tí gió nào, ngọn đèn cũng lại tắt đi. Có lẽ hết dầu? Không phải, vừa đổ đầy phao từ chập tối; ít nhất phải ba đêm mới hết. Người ta chực đánh diêm. Nhưng diêm chửa cháy thì đèn lại cháy. Mọi người đã đâm ngờ rồi. Tôi trèo lên bàn, xem lại cái đèn; tôi vặn lên vặn xuống, bấc tốt lắm, chẳng làm sao. Tôi vừa bước xuống cái đèn lại tắt. Bây giờ thì không ai cần diêm nữa; ai cũng tin rằng rồi tự nhiên lại cháy lên như thường. Quả nhiên. Cứ thế, luôn năm, sáu lần. Tôi bỗng nẩy ra một ý; tôi hỏi to:

— Có phải chú Khì đấy không?

Đèn tắt.

— Có phải chú muốn đánh tổ-tôm thì đốt cho đèn sáng lên.

Đèn sáng lên. Hai ba người cùng sửng sốt.

— Đánh góp mấy đồng?

Đèn tắt đi, sáng lên thật nhanh, bốn lần.

— Bốn đồng!.. Bốn đồng hở? chúng tôi không đủ tiền. Đánh nhỏ thôi.

Tôi đợi một phút. Cái đèn tắt đi sáng lên hai lần. Mọi người đang sợ-hãi, thấy thế cũng phải bật cười. Tôi bảo ông tổng cho chia bài...

Hôm ấy, vong-linh chú Khì đánh tổ-tôm với chúng tôi lần đầu. Lần thứ nhì chú đánh ở nhà tôi. Rồi đến nhà ông cựu Cát, ông phó Cúc, ông lý Lực... Lâu dần, khắp bọn tổng lý vùng này đều có chơi với chú, như hồi chú còn sống vậy. Có điều này, ai cũng phải nhận là có thật: là chú chơi rất tử-tế, được ăn thua chịu — tiền thật hẳn hoi, không biết lấy ở đâu? — miễn là đừng ai kể-lể gì động đến chú trong khi chơi, là được rồi....

Ông chánh-hội vừa ngừng, ông Nhất đã bảo tôi:

— Hôm nay ông giáo làm thế, Chú Khì giận lắm. Lần sau đố còn mời được chú.

Đó là một điều mà tôi càng nghĩ càng tiếc ngơ tiếc ngẩn.

⁂

Một buổi tối cách đấy ít lâu, tôi lại đến chơi nhà ông chánh-hội; tôi thú thật ngay với ông cái ý định của tôi:

— Tôi muốn cụ cố nói khéo mời chú Khì về cho tôi được hầu vài hội...

Không đợi tôi nói hết, ông lắc đầu cười:

— Chẳng may cho ông rồi. Chú Khì không còn bên An-nam; Chú về Tầu được đến mươi hôm rồi.

— Sao cụ biết?

— Đêm hôm ấy, tôi đang mơ-màng giở thức giở ngủ, chợt nghe như có tiếng người gọi:

« — Chào ông chánh-hội nhé...

« — Ai đấy?

« — Tôi đây. Chú Khì đây. Chào ông chánh-hội, tôi đi về Tầu ».

Tôi giật mình ngồi nhỏm dậy, và cứ tưởng là mình nằm mơ. Hôm sau tôi kể lại chuyện chiêm-bao ấy với ông phó Cúc. Không ngờ ông này cũng nghe thấy thế. Cả ông tổng Trung, ông cựu Cát, ông lý Lực... gần khắp mặt dân tổ-tôm vùng này...

Thấy tôi ngơ-ngẩn tiếc, ông an-ủi:

— Vả lại, nếu chú Khì còn ở lại, cũng không chịu chơi với ông đâu; chú ấy sợ ông lại chiếu đèn « pin » vào mặt chú.

Tôi mỉm cười. Và trong khi đỡ chén nước ông mời, tôi nghĩ bụng: « Thật thế hay không? hay đó chỉ là một ngón « bịp » khéo của ông chánh-hội? »

Buổi chiều rất nặng-nề. Trời oi bức lạ. Một gợn gió cũng không. Vũ-trụ như chín nẫu, âm ỉ tan ra thành một thứ nước đặc, hâm-hấp nóng. Người ta chìm trong cái nồng-nực ẩm-ướt ấy như con sâu uể-oải bơi trong quả thối.

Tuyên dâm-dấp bồ-hôi. Chàng thở nặng-nề như đắm trong một bể dầu nhớp và âm ấm. Thân-thể rã-rời, muốn rữa ra cùng mọi vật. Trái-tim, rụng giữa cảnh tàn-phá ấy, đập khẽ và hấp-tấp như một kẻ thất-vọng gần kiệt sức. Gân óc trùng ra. Ý-nghĩ mất sáng-suốt, hỗn-loạn như trong cơn sốt. Những đau-đớn, phẫn-uất, oán-hờn bứt-rứt quằn-quại trong một trái-tim cũng bắt đầu thối luỗng.

Thao vẫn chưa về! Chàng nghĩ thế và thấy trời nực thêm lên chút nữa. Bao nhiêu những việc xưa trở lại. Không phải từng việc — chàng đã mất sáng suốt — nhưng mà tất cả. Tất cả rữa ra, tràn lên những nỗi đau-đớn đang quằn-quại. Sự bứt-rứt cứ mỗi phút một gấp nghìn lên, vì chàng không còn buồn giẫy giọn. Không một cái đập tay, không một cái nghiến răng, không một tiếng tục-tằn. Đến cả một tiếng thở dài hay một tia mắt giận-dữ cũng không có nữa. Mắt chàng nặng trĩu đã dim díp rồi. Sự khổ-não càng âm-ỉ.

Âm-ỉ nhiều giờ như thế. Vì đến tận chín giờ đêm. Thao mới về. Nàng cũng chỉ còn là một cái xác rã-rời. Một con người uể-oải chứa nỗi ray-rứt tối tăm của người tê-liệt.

Tuyên tưởng cần giữ vẻ thản-nhiên khinh-bỉ. Sự rũ-liệt của chàng xui chàng thế. Và chàng nằm im, chỉ cố mở hai mắt to hơn ngó trần nhà. Thao cảm thấy — rất nhanh — một sự rửng-rưng khó chịu. Rất nhanh, vì nàng sẵn khó chịu rồi. Nàng tưởng cần phải đáp lại bằng sự lặng-thinh hờ-hững. Nàng chỉ hơi cau mặt

Chẳng ai nói với ai, Thao lặng-lẽ ngả mình bên Tuyên. Hai nỗi đau thầm-lặng cứ âm-ỷ trong hai trái tim chín nẫu. Nỗi bực bội chất nặng thêm, cũng như ngoài trời, sự oi bức thêm dầy đặc.

Mọi vật sống trong sự đợi chờ. Sự đợi chờ bứt rứt một nỗi đau phải đến. Của con rộng đón ngày biến thành ngài. Của con ve sắp trút lần da cứng để non trẻ lại. Và của cái mầm sống sắp xé lòng mẹ để ra đời...

Trời nặng trĩu đợi một làn chớp mạnh,

Một tiếng sấm rung, lay chuyển sự yên-lặng nặng-nề. Vũ-trụ run lên trong một cái đau-đớn đầy sảng khoái. Gió vùng nổi dậy vần đi cái khí nặng nẫu người. Từng làn điện chớp quất không-gian thanh-thoát. Mọi vật đều thức dậy. Và đầu tiên thức dậy cái dữ-dội điên cuồng. Mây trút giận thành mưa. Không khí vùng-vằng, vặn cành, rứt lá.

Tuyên thấy gân, thịt mình sống lại, nỗi oán hờn rõ-rệt ra, và bật lên một cử-chỉ phũ-phàng giải-thoát: chàng đạp mạnh Thao một cái. Tiếng sét đã nổ rồi! những lời giận-dữ, những tiếng chua cay, những oán-hận ghen tuông được dịp trút ra như mưa như gió...

Rồi hai người cùng khóc. Hai người cùng thấy nhẹ lòng. Và cùng lịm đi trong một giấc ngủ ngon lành, mát-mẻ.

Mưa đã dứt, khi Tuyên bừng mắt dậy. Vừa mới sáng. Trời xanh và dịu như ở ngày mới có trời. Không-khí mát và trong. Cây cối, còn đọng mưa đêm, tươi lại. Bên những lá dập những mầm cỏ, những búp non rướn lên cao. Chim ríu-rít như lần đầu chúng hót... Chàng thấy lòng êm-dịu lạ. Người nhẹ-nhõm, như vừa tắm xong, thay một cái áo mỏng thênh-thang. Một nụ cười tự-nhiên nở trên môi. Chàng ngồi dậy nhìn Thao. Mắt nàng còn đọng lệ tựa giọt nước trong đượm lá. Nhưng mặt nàng bình-tĩnh, tươi trẻ như cây cỏ chung quanh. Khí lạnh làm da nàng trắng mát như hoa huệ. Chàng có cảm-tưởng như nàng lột xác để trẻ ra. Sung-sướng, chàng cúi xuống, đặt trên môi nàng một cái hôn; chàng thấy tươi mát như môi nàng còn trinh bạch. Thao cười vẫn nhắm mắt, như một đứa bé cười với cơn mơ. Nàng đưa hai cánh tay trần mát rượi lên vòng lấy cổ chàng. Hai người bâng-khuâng như mới bắt đầu sống sang kiếp khác.

Bạn Thanh-Tường! sao bạn lại bi-quan? Nhân-loại chẳng tự-sát bằng chiến-tranh đâu. Nhân-loại đang quằn-quại trong nỗi đau-đớn của thời-kỳ lột xác.

Người ta định giết Mực đã lâu rồi. Mực là con già hơn trong hai con chó của nhà. Nhưng lại cũng là con nhiều nết xấu. Nó tục ăn: cũng là thường, vì nó là con chó. Nó nhiều vắt: thì nó khổ! Nó hay cắn càn: ấy là cái khó chịu của bọn ăn mày. Nhưng nó lại xủa như một con gà gáy: cái này thì không thể tha-thứ được.

Thoạt tiên, người ta định ngày chết cho nó vào dịp thanh-minh. May cho nó, bà chủ nhà bị ốm. Rồi thì là tết tháng năm. Bỗng nhiên đứa con út của bà hơi ươn mình: bà phải kiêng để lấy sữa lành cho con bú. Sau hết người ta nhất định thịt nó vào ngày rằm tháng bẩy, ai ốm mặc. Nhưng lần này Mực vẫn còn thoát nạn. Và thoát nạn là vì nhờ có Du. Người con cả ở xa xôi ấy vừa viết giấy báo: sắp về. Bà mẹ mừng như tìm được một vật quý bị rơi. Thế là người ta nhất định lùi ngày xử con Mực lại...

Bây giờ thì Du đã về rồi. Chiều hôm qua, con người phóng-đãng ấy đã khệ-nệ xách cái va-ly rất nặng bước vào sân, miệng nở cười, mặt đỏ. Cái nhà tranh, mấy cây cau hình như đứng thẳng lên để chào chàng. Rồi đến lũ em ầm-ỹ ẩy mành

chạy òa ra, và bà mẹ, mừng quá, cười và khóc. Nhưng kẻ lên tiếng trước nhất là con Mực. Con chó già nua ấy rít lên cái thứ tiếng gà gáy của nó và chạy lại phía Du. Bà mẹ thét lên; lũ em chửi những câu thô tục. Du thấy mắt hình như ướt nước. Chàng bỡ ngỡ nhìn mọi người...

— Hình như mẹ không được khỏe... Ồ, các em lớn cả rồi: Thanh, Tú... đứa nào đây? à Thảo, con chuột nhắt! trông Thảo xinh quá nhỉ?.. Ồ con Mực! Vẫn con ngày ấy đây à? trông con Mực già đi tệ!...

Con chó đã nhận ra người chủ cũ. Nó đứng lặng vẫy đuôi, đầu cúi xuống, hai mắt nhoèn ướt nhìn đất, như tủi phận. Du ái-ngại: đó là người bạn lặng-lẽ, thui-thủi bên chàng những năm xưa, khi đêm vắng chàng ngồi nhìn trăng mà mộng. Chàng muốn vuốt-ve nó, nhưng nó bẩn ghê-gớm quá: lông rụng từng mảng, thịt trắng lộ ra, có khi sần mụn đỏ. Dáng-điệu thì già nua, ảo-não buồn, len-lén như phòng-bị một cách hơi yếu ớt. Không còn những cái vẫy duôi mạnh-dạn, những cái nhìn rất bạn-bè, những cái hít chân vồ-vập của một con chó vui và không ngờ-vực. Du thấy lòng nặng thay! Chàng lấy chân khẽ chạm vào con chó để tỏ tình thương. Con Mực vẫy đuôi mạnh hơn nhưng nhẹ nhẹ lánh ra: dáng-điệu của một kẻ sợ cố cười với người mình sợ. Và tức khắc nó vặn mình đi một cái, rít lên một tiếng ngắn và to: đứa em tưởng anh đá hụt trả thù cho anh bằng một cái đá mạnh vào cạnh sườn con vật. Nó lấm-lét lảng dần, cũng không dám thẳng-thắn ra mặt tránh. Du khẽ trách:

— Sao Thanh ác thế?

— Cần gì? mai làm thịt nó cho anh ăn đấy.

Du thấy cái vui đoàn-tụ giảm đi rất nhiều..

⁂

Hình-ảnh con chó ghẻ với một cái buồn rất mơ-hồ cứ lảng-vảng trong óc chàng mãi mãi. Sáng hôm sau, lúc ăn cơm, chàng thấy mực len-lén đi qua cửa, đuôi cúp, đầu cúi xuống, mắt nhìn nghiêng như những người có tính gian. chàng muốn gọi nó vào, muốn để nó đứng giữa hai chân, muốn vừa ăn vừa gẩy cho nó những miếng cơm chung một bát. Nhưng mà không thế được: dịu-dàng quá là yếu linh-hồn, và ai hiểu được rằng chàng lại có thể phí tình thương cho một con chó bẩn ghê-gớm thế?

Bữa ăn xong, con Hoa ra sân, một tay cầm một bát cơm, tay kia nhắc cái thúng tựa ở gốc cau gần đấy, như để rồi sếp bát. Trông thấy cơm, tất cả thú-tính của con vật hoàn-toàn nổi dậy. Nó nhẩy tới, vẫy đuôi, hếch mõm nhìn và đợi. Cơm vừa đổ xuống nó đã vội-vàng chúi mõn ăn ngay. Miếng ăn chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp mạnh trên lưng nó. Nó rít lên một tiếng, vùng mạnh cái thân; nhưng Hoa đã tỳ cả người lên cái thúng rồi; con Mực bị thu gọn ở trong vừa-vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con chạy ùa ra. Chúng lấy sẵn sàng giao, thớt và giây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông bố vắng nhà thì cả nhà chỉ còn chàng là kẻ đàn ông, mà không lẽ lại đi mượn hàng xóm trói dùm một con chó đã úp gọn-gàng trong thúng? Nhưng thật-thà Du chẳng quen những việc thế này; người ta phải dậy cách cho chàng bắt; cũng chẳng khó khăn gì; chàng chỉ việc hé cạp thúng lên khỏi mặt đất để con chó lách đầu ra; một đứa em sẽ đặt gậy lên cổ chó và chàng phải lấy chân dận xuống... Nào chàng hãy nhích cạp thúng lên! Tí nữa! Tí nữa! mà vững tay một chút! Nhưng tay chàng lại run run. Và khi chó thò được đầu ra thì nó quẫy luôn một cái và vùng ra mất. Nó hoảng-hốt quay lộn mấy vòng, vừa quay vừa ẳng ẳng. Kịp khi Hoa nắm gậy phang chạm phải đuôi, nó mới chợt tỉnh; cắm đầu chạy biến

Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ-ngác tiếc. Còn Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng đã yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng hơn một người con gái! Và tự nhiên chàng giận Mực. Người ta còn sợ nó đi mất nữa.... Quả nhiên, suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vơ-vẩn ở vườn hàng xóm, lẩn-lút như một con chó dại. Buổi trưa, khi nghe tiếng Hoa gọi về để ăn cơm, nó lút cút cắm đầu chạy xa hơn nữa. Người ta đã tưởng thế là toi. Nhưng tối hôm ấy, khi đã vào giường, Du lại nghe cái thứ tiếng gà gáy của nó rống lên ngoài phía ngõ.

⁂

Sáng hôm sau, nó vẫn bỏ cơm. Trưa hôm sau cũng thế. Hễ cứ thấy bóng người là nó lại vừa vẫy đuôi vừa len-lén chạy. Cái vẫy đuôi của nó, Du trông mà thương hại! Chàng sai người đem cơm đổ ra vườn rồi lảng xa đi. Một lúc lâu sau, Mực mới dám lại gần. Nó trông trước trông sau, rón-rén đưa mõm rê trên những hạt cơm, rồi bỗng vô cớ giật nẩy mình, cắm đầu chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ-niệm bị úp lần ăn trước loè ra mạnh quá đã quất vào thần-kinh nó như luồng điện chăng? Du thấy bồn xồn rất vẩn-vơ: chàng thương Mực hay sợ nó đi mà chết đói? hay là thẹn sự mình vụng tay? Sau cùng thì chàng bực-bội: chàng tấm-tức nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình-tĩnh của tâm-hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm.

Chàng còn làm nên trò gì nữa, nếu chỉ giết một con chó mà trái-tim cũng đập?

Sự do-dự đã hết rồi. Khi chỉ có một ý-định thì ý-định dễ thành mạnh-mẽ. Du cứng lòng, và hung-dữ, và muốn giết say-sưa. Chàng tưởng đến cái thú dí lưỡi dao lạnh giá vào súc thịt giẫy lên đành-đạch, và ấn mạnh, ấn mạnh, cái nắm tay gân-guốc, để máu ấm vọt ra từng tia lên cổ tay, lên ngực, lên mặt mình. Vì thế, chiều hôm ấy, khi thấy con chó ở vườn, thì chàng gần reo lên.

Con vật khốn-nạn chống với đói và lo ròng-rã hai hôm nên đã mệt lử rồi. Nó lịm ngủ đi bên bờ giậu. Du cầm cái gậy thật to rón-rén lại gần. Đến tận nơi, giơ gậy lên, chàng bỗng thấy tim run một cái; hơi thở tưởng đột-nhiên muốn tắc, và chàng đành ngừng lại một giây để nhìn con chó. Giấc ngủ của nó đầy ác mộng: thỉnh-thoảng khắp mình nó lại giật lên, Du thấy sự cứng cỏi tiêu-tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Sợ nó chạy, Du thẳng cánh vụt mạnh gậy xuống. Bụng nó thót vào rồi lại phình ra như một khối cao-su. Nó kêu rống lên, chạy quanh mấy vòng, rồi chui bừa qua giậu trong khi Du rắm mắt vụt cuống-cuồng mặt đất....

Đêm đã khuya, Du mới lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng bồi-hồi quá, và nhất định không giết con chó còm ấy nữa.

⁂

Nhưng gần sáng, chàng còn mơ mơ màng màng thì Hoa đã gọi rối lên. Con vật khốn-nạn không biết mỏi mệt đến bực nào mà ngủ quên ở ngay sân để đến nỗi Hoa chụp được. Lần này người ta cẩn-thận hơn. Hai, ba người du vào một cái gậy tre ngáng sẵn bên cạnh thúng, rồi Hoa mới ý tứ nhích cạp thúng lên. Thấy sáng. Mực nhô ra cái đầu mõm đen và ướt, thở phì-phì. Hoa tì một đầu gối lên mặt thúng rồi mới nhích lên tí nữa. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy tre đè xuống. Mực không còn đủ thì giờ để kêu...

— Đè chặt đấy! đè thật chặt! đừng thương nó, buông ra giờ nó cắn!...

Du kêu lên thế nhưng tiếng đã run run. Con chó phì ra một cái nữa; hơi thở mới thoát một nửa thì bị tắc. Cái gậy đè sát đất. Mắt nó trợn lên. Tròng đen ươn-ướt cứ đờ dần, đờ dần, rồi ngược lên, lẩn một nửa vào mí mắt. Tròng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả trân trước, chân sau thì con chó đã mềm rũ ra. Du quay đi lau nước mắt.

Novembre 1941

NAM-CAO

Hết chương 7

Đây là chương mới nhất. Thêm truyện vào tủ để được báo khi có chương mới.

Bình luận về truyệnTrang truyện