Tục tư trị thông giám

Chương 14: Quyển 14

Khoảng 34 phút đọc · 7.435 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Kỷ Mùi la mồng 1, không nhận triều hạ. Quần thần đến cửa cung dâng biểu chúc mừng.

Ngày Canh Thân, Liêu chúa đi Hoa Lâm Thiên Trụ.

Ngày Bính Dần, lấy Đại lý bình sự Vương Vũ Trừng (王禹偁) người Cự Dã làm Hữu Thập di, La Xử Ước (羅處約) người Hoa Dương làm Trứ tác tá lang, đều kiêm trực Sử quán, ban áo tía. Trước đây chỉ ban đai mạ vàng, lần này đặc biệt sai ban đai tê văn để sủng đãi. Vũ Trừng ngay trong ngày dâng bài "Đoan Củng Châm" để ngầm khuyên can, châm biếm.

Ngày Ất Hợi, tế Tiên Nông ở phía đông kinh thành, lấy Hậu Tắc phối hưởng, rồi đích thân cày ruộng tịch điền. Lúc đầu cày 3 đường, hữu ty tâu lễ đã xong, Hoàng đế nói: "Chí của trẫm ở khuyến nông, chỉ hận không thể cày hết ngàn mẫu, há lại lấy 3 đường làm hạn!" Bèn cày thêm mấy chục bước, các thị thần cố sức thỉnh cầu, bấy giờ mới dừng. Rồi ngự cửa Càn Nguyên, đại xá, đổi niên hiệu. Dân từ 70 tuổi trở lên, có đức hạnh, được hương lý tôn kính, ban tước 1 cấp. Ngày Bính Tý, Hoàng đế làm bài "Đông giao tịch điền thi" ban cho các cận thần.

Ngày Ất Dậu, cấm dùng hình phạt tàn khốc.

Hoàng đế cho rằng các quan Bổ khuyết, Thập di phần nhiều giữ thói im lặng, không làm tròn chức nghiệp, nên tháng 2, ngày Ất Mùi, đổi Tả Hữu Bổ khuyết thành Tả Hữu Tư gián, Tả Hữu Thập di thành Tả Hữu Chính ngôn.

Ngày Canh Tý, lấy Lý Phưởng (李昉) làm Thượng thư Hữu Bộc xạ, bãi chức Tham tri chính sự. Trước đó có người chép thuê là Trịch Dĩnh, tính hiểm trá khoác lác, thân mật với Tri chế cáo Hồ Đán (胡旦). Đán làm cho y một bản văn lời lẽ to tát, bảo Dĩnh dâng lên, lại đổi tên Dĩnh là Mã Chu, cho là Mã Chu đời Đường lại xuất hiện. Dĩnh bèn đánh trống Đăng văn, tố cáo Lý Phưởng thân giữ chức Nguyên tể, gặp lúc phương bắc nhiều báo động, mà không lo biên sự, nghĩ đến chức trách, chỉ làm thơ uống rượu, lại còn bày nữ nhạc. Hoàng đế vì đang chuyên tâm việc tịch điền, nên tạm dung thứ. Đến đây, triệu Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung (賈黃中) thảo chiếu bãi chức tể tướng của Phưởng, lại lệnh trách mắng nghiêm khắc. Hoàng Trung tâu: "Bộc xạ là thầy trưởng trăm quan, vốn là chức vụ của Tể tướng xưa. Nay từ Công bộ Thượng thư mà thăng lên chức này, không phải là ý trách phạt giáng chức. Nếu lấy cớ Văn Xương công vụ đơn giản, muốn san đều nhọc nhàn, thì còn tạm hợp lẽ." Hoàng đế cho là phải. Phưởng tính hòa hậu, nhiều khoan thứ, ở chức thì cẩn thận, thuần hậu, cung kính. Mỗi khi có người cầu xin tiến dụng, tuy biết tài năng có thể dùng, tất nghiêm mặt cự tuyệt, sau đó mới cất nhắc; hoặc người không đủ dùng, thì luôn hòa nhã, ôn tồn mà tiếp đãi. Con cháu hỏi nguyên do, Phưởng nói: "Dùng người hiền là việc của bậc quân chủ. Nếu ta nhận lời cầu xin của họ, tức là đem ân riêng ra mua bán, nên dứt khoát từ chối, để ân huệ quy về bề trên. Còn với người không dùng, nếu đã mất chỗ trông mong, lại không có lời hay, ấy là con đường chuốc oán vậy."

Lấy Triệu Phổ (趙普) làm Thái bảo kiêm Thị trung, Tham tri chính sự Lữ Mông Chính (呂蒙正) làm Trung thư Thị lang kiêm Hộ bộ Thượng thư, đều Đồng bình chương sự. Hoàng đế bảo Phổ: "Khanh chớ vì địa vị cao mà tự phóng túng, chớ vì quyền thế nặng mà tự kiêu. Chỉ cần cẩn thận việc thưởng phạt, dẹp bỏ yêu ghét riêng, thì việc quân quốc còn lo gì không trị!" Mông Chính chất phác, khoan hậu, giản dị, có uy vọng lớn, không kết đảng, gặp việc dám nói. Mỗi khi bàn chính sự, nếu có điều chưa thỏa đáng, tất kiên quyết nói là không thể. Hoàng đế khen ông ta không giấu giếm, nên cùng với Phổ đều được bổ nhiệm, mượn đức cũ của Phổ làm gương cho ông. Mông Chính xuất thân muộn, thăng tiến nhanh, ngang hàng với Phổ, Phổ rất đề cao ông ta.

Khai Phong doãn Trần vương Nguyên Hi (陳王元僖) tiến phong làm Hứa vương, Hàn vương Nguyên Khản (韓王元侃) tiến phong làm Tương vương, Ký vương Nguyên Phần (冀王元份) tiến phong làm Việt vương. Hoàng đế thân viết chiếu răn Nguyên Hi và những người khác rằng: "Chúng mày sinh trưởng nơi thâm cung, cần phải khắc kỷ, gắng sức, nghe lời kẻ dưới, tiếp nhận lời can gián. Mỗi khi mặc một áo, thì thương xót người đàn bà nuôi tằm; mỗi khi ăn một bữa, thì nghĩ đến người nông phu cày ruộng. Đến như lúc xét xử, chớ buông thả theo vui giận. Trâm mỗi khi lấy lễ tiếp đãi quần thần là để cầu họ mở bày can gián. Chúng mày chớ khinh điều dở của người, chớ cậy chỗ hơn của mình, như thế mới có thể giữ giàu sang lâu dài mà bảo toàn được kết cục tốt đẹp. Tiên hiền có nói: ‘Kẻ trái ý ta là thầy ta, kẻ thuận ý ta là kẻ ăn lộc của ta.’ Điều này không thể không xét kỹ vậy!"

Tiền Thục (錢俶) đổi phong làm Đặng vương.

Ngày Giáp Thìn, đặt Kiến Ninh quân ở Kiến châu.

Ngày Bính Ngọ, chiếu: "Các đạo nếu dân có người khó khăn về ăn uống, thì nơi đó mở kho phát thóc cứu tế."

Triệu Phổ lần thứ hai vào làm tể tướng, khi sắp lập ban tuyên đọc chiếu, Công bộ Thị lang, Đồng tri Kinh triều quan khảo khóa Lôi Đức Tường (雷德驤) nghe tin, tay không tự chủ làm rơi hốt, vội dâng sớ xin về, lại xin được vào chầu, trình bày rõ nguyên do. Hoàng đế khuyên giải rất lâu, lại nói: "Khanh cứ về, trẫm rốt cuộc sẽ bảo toàn cho khanh." Đức Tường cố xin không thôi, ngày Nhâm Tý, bãi chức Tri Kinh triều quan khảo khóa, vẫn cho dự triều hầu, đặc biệt ban bạc trắng 30 lạng để an ủi.

Phó bố trí Nam Kinh Phó đô bộ thự của nước Liêu là Khi vương Thọ Ninh (奚王壽甯) ỷ quyền, đánh người vô tội là Lý Hạo đến chết. Hữu ty xét vì là bậc tôn quý, xin tha tội cho Thọ Ninh, chỉ bắt nộp tiền cấp dưỡng cho nhà Hạo, bèn theo đó.

Ngày Giáp Dần, Tiết độ sứ Đại Đồng quân, Đồng bình chương chính sự Lưu Cảnh (劉景) của nước Liêu cáo lão. Cảnh từng thờ Mục Tông, nhiều lần dâng lời ngay thẳng, Cảnh Tông cũng khen thưởng lòng trung thực của ông, con cháu ông đều hiển quý ở nước Liêu.

Tháng này, lấy Lý Kế Phụng (李繼捧) làm Tiết độ sứ Cảm Đức quân.

Tháng 3, ngày Giáp Tý, xuống chiếu răn bảo quan lại, cầu lời nói thẳng.

Hoàng đế từng bảo Hộ bộ sứ Lý Duy Thanh (李維清): "Trẫm đọc ‘Giả Nghị truyện’, nửa đêm mà không chán. Giả Nghị ở thời Hán Văn, thiên hạ trị bình, mà chỉ ra thời sự, đến nỗi than thở, khóc lóc, là muốn cảm động người chủ, không tránh chạm vào vảy rồng, thật là trung thần hiểu rõ thể thống quốc gia. Nay trong triều có người giống như thế chăng?" Duy Thanh nói: "Nếu bệ hạ ban thưởng, cất nhắc cho những lời tâu hợp lẽ, lại với người không biết kiêng dè mà vẫn khoan dung, thì hạng người như Giả Nghị ắt sẽ lại xuất hiện."

Phó Khu mật sứ Triệu Xương Ngôn (趙昌言) thân thiết với Phó Diêm thiết sứ Trần Tượng Dư (陳象輿); Phó Độ chi sứ Đổng Nghiễm (董儼), Tri chế cáo Hồ Đán, đều là bạn đồng khoa với Xương Ngôn; Hữu Chính ngôn Lương Hiệu (梁顥) từng ở trong mạc phủ Đại Danh dưới quyền ông. Bởi vậy 4 người ấy ngày đêm tụ họp ở nhà Xương Ngôn, trong kinh có câu nói: "Trần canh ba, Đổng nửa đêm." Trịch Mã Chu sau khi tố cáo khiến Lý Phưởng bị bãi, càng thân với Đán, thường bài xích, hủy báng thời chính, dâng thư tự tiến cử, lại liệt kê hơn chục người mà y cho là hiền tài đều là bậc có thể làm công khanh, Xương Ngôn ở trong ngầm giúp. Người ta phần nhiều nhận ra văn từ, giọng điệu đều do Đán soạn. Phưởng đã bị giáng, Triệu Phổ nắm chính sự, rất căm ghét bọn họ. Khai Phong doãn Hứa vương Triệu Nguyên Hi điều tra kín được việc này, tâu với Hoàng đế, bắt Mã Chu giam ngục, tra hỏi đến cùng, y đều nhận tội. Hoàng đế nổi giận, chiếu đánh trượng, đày ra hải đảo. Ngày Giáp Tuất, giáng Xương Ngôn làm Hành quân Tư mã Tiết độ sứ Sùng Tín quân, Tượng Dư làm Đoàn luyện phó sứ Phục châu, Nghiễm đi Hải châu, Đán đi Phường châu, Hiệu làm Tư hộ tham quân Hoạt châu.

Hoàng đế đối đãi Xương Ngôn rất hậu, suýt nữa phong làm tể tướng, gặp lúc Phổ vì công lao cũ lại vào triều, ghét Xương Ngôn cương trực khó chế, nhân đó xin gia thêm hình phạt. Xương Ngôn đã bị giáng chức, Phổ lại xin thi hành thêm chiếu sau, Hoàng đế không cho, bấy giờ mới thôi. Phổ lúc đầu làm Tiết độ sứ, gửi thư đến Đài các, thể thức đều như đơn xin, người nhận tất phong thư trả lại, chỉ có Tượng Dư không trả; Phổ cho là y khinh mình, nên cùng với Đán, Hiệu đều bị trách phạt nặng.

Ban đầu, Hầu Mạc Trần Lợi Dụng (侯莫陳利用) bán thuốc ở kinh thành, có nhiều thuật biến hóa, làm mê hoặc dân gian. Khu mật thừa chỉ Trần Tòng Tín (陳從信) tâu với Hoàng đế, lập tức được triệu kiến, thử thuật của y, khá linh nghiệm, liền cho làm Điện trực, ân sủng tăng dần, thăng dần đến Đoàn luyện sứ Trần châu, bèn phóng túng ngang ngược, không còn sợ hãi kiêng dè, đến chỗ chỗ ở, y phục, đồ dùng đều vượt quá chế độ xe ngự, cung điện. Kẻ nương nhờ y phần nhiều được tiến cử, sĩ quân tử sợ bè đảng của y mà không dám nói. Đến đây, Triệu Phổ điều tra kín được việc y tự tiện giết người và các việc phi pháp khác, đem hết tâu trước Hoàng đế. Bèn sai cận thần đến xét, Lợi Dụng đều nhận tội; ngày Ất Hợi, chiếu cách chức, đày ra Thương châu, lại tịch thu gia sản. Chẳng bao lâu lại chiếu gọi về, Phổ sợ y lại được dùng, bèn sai Điện trung thừa Đậu Diên (竇諲) lại tâu tội trạng vô lễ của y. Lại nữa, Kinh Tây chuyển vận sứ Tống Hãng (宋沆) tịch thu nhà Lợi Dụng, được mấy tờ thư, lời lẽ đều chỉ trích, độc hại, đều tâu lên. Phổ nhân đó khuyên Hoàng đế: "Tội Lợi Dụng lớn mà trách phạt nhẹ, chưa thỏa lòng thiên hạ, giữ y lại có ích gì!" Hoàng đế nói: "Há lại có bậc vạn thặng chi chủ mà không che chở nổi một người sao?" Phổ nói: "Bệ hạ không giết thì sẽ làm loạn phép nước. Pháp luật đáng tiếc, chứ một đứa tiểu nhân này, có gì đáng tiếc!" Hoàng đế bất đắc dĩ, lệnh giết ở Thương châu. Rồi lại sai sứ cưỡi trạm mã đi tha chết cho y, sứ giả đến Tân An, ngựa sa lầy ngã, khi ra khỏi bùn, đổi ngựa đến Thương châu thì y đã bị phanh thây giữa chợ. Người nghe đều hả dạ.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Mùi, Liêu chúa đi Nam Kinh. Ngày Đinh Dậu, Hàn Đức Nhượng (韓德讓) theo Thái hậu xem đánh cầu, Hồ Lý Thực Đột (瑚哩實突) làm Đức Nhượng ngã ngựa, Thái hậu nổi giận, lập tức ra lệnh chém.

Gia cho Tĩnh Hải Tiết độ sứ Lê Hoàn (黎桓) chức Kiểm hiệu Thái úy.

Tháng 5, ngày Tân Dậu, đặt Bí các ở Sùng Văn viện, chia hơn vạn quyển sách của Tam quán để vào đó. Sai Lại bộ Thị lang Lý Chí (李至) kiêm Bí thư giám. Hoàng đế bảo Chí: "Bậc nhân quân nên đạm nhiên vô dục, chớ để sở thích lộ ra ngoài, thì gian nịnh không có chỗ dựa. Trẫm không có sở thích khác, chỉ thích đọc sách, thấy nhiều chuyện thành bại xưa nay, điều hay thì theo, điều dở thì sửa, chỉ như thế mà thôi." Khi Chí và những người khác xem sách dưới gác, Hoàng đế tất sai sứ ban yến, lại lệnh các học sĩ Tam quán đều dự.

Ngày Quý Hợi, Tể tướng Nam phủ nước Liêu là Da Luật Sa (耶律沙) mất. Sa nhiều lần cầm quân, Thái hậu từng triệu, ban gậy, ghế để ưu đãi tuổi già, đến nay mất.

Triều đình nhiều lần dùng sắc thư chiêu dụ Lý Kế Thiên (李繼遷), Kế Thiên rốt cuộc không chịu hàng, càng ngày càng xâm lấn biên giới. Triệu Phổ dâng kế, muốn lại giao cho Lý Kế Phụng trông coi đất cũ Hạ châu, bảo ông ta mưu tính. Lúc ấy Kế Phụng làm Tiết độ sứ Cảm Đức, liền triệu vào kinh, ngày Nhâm Thân, phong làm Tiết độ sứ Định Nan, ban quốc tính, đổi tên là Bảo Trung (保忠), các khoản tiền lụa, cỏ rơm, ruộng vườn ở 5 châu thuộc quyền cai quản đều ban cho ông. Ngày Nhâm Ngọ, Bảo Trung từ biệt đi trấn nhậm, ban thưởng rất hậu, lệnh Đô Ngự hầu quân thứ 2 của Hữu vệ là Vương Cảo (王杲) đưa đi. Khi Cảo trở về, Bảo Trung lấy sản vật địa phương làm quà, Cảo từ chối không nhận, Hoàng đế biết, ban bạc trắng 100 lạng.

Tháng nhuận, ngày Kỷ Sửu, lấy Tương châu Nha nội Đô Ngự hầu Triệu Thừa Húc (趙承煦) làm Lục trạch sứ. Thừa Húc là con thứ của Triệu Phổ. Phổ lần thứ hai làm tể tướng, chưa từng xin chức cho con, Hoàng đế đặc biệt bổ nhiệm. Phổ từng răn con cháu: "Tao vốn là kẻ đọc sách, ngẫu nhiên gặp vận tốt, được sủng ái quá phần, vốn nên lấy thân báo quốc, việc nhà riêng ta không dự. Chúng mày nên tự gắng sức, chớ làm tăng thêm lỗi của tao."

Chế độ gần đây, con tể tướng khi khởi gia thì được bổ làm Thủy bộ Viên ngoại lang, gia cấp bậc Triều tán; Lữ Mông Chính kiên quyết nhường, chỉ nhận chức quan kinh sư phẩm bậc 6. Từ đó thành lệ.

Ngày Bính Thân, ban tước Công sĩ cho 127 người cao niên ở các đạo. Từ sau Tần, Hán, không còn ban tước cho dân, từ khi lễ tịch điền hoàn thành, mới lại ban tước.

Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ Thị lang Tống Bạch (宋白) coi việc thi cử, cho đỗ Tiến sĩ Trình Túc (程宿) và 28 người, các khoa khác 100 người. Bảng vừa treo, lời chê bai nổi lên như ong, có người đánh trống Đăng văn xin thi riêng. Hoàng đế cho là bỏ sót nhân tài, ngày Nhâm Dần, cho những người trượt thi lại ở điện Sùng Chính, lấy được Tiến sĩ Mã Quốc Tường (馬國祥) và những người khác, cùng các khoa tổng cộng 700 người. Hoàng đế bảo Phó Khu mật sứ Trương Hoằng (張宏): "Trẫm thân chọn cống sĩ, không để người tài bị bỏ. Khanh cùng Lữ Mông Chính trước đây bị các đại thần ngăn trở khá nhiều, nếu không phải trẫm tự quyết, thì không được như hôm nay." Hoằng dập đầu tạ.

Chế độ cũ, Sở Tỏa viện được cấp 100.000 tiền của Tả tàng khố để làm chi phí. Năm này, chiếu đổi sang lĩnh tiền của Thượng thư Tư bộ, lại tăng gấp đôi số ấy.

Trước đây, Khai Phong phủ phát giải (tuyển chọn, tiến cử) giống như chế độ các châu, đều do quan phủ chuyên trách. Mùa thu năm nay, vì việc phủ phiền phức, mới đặc chiếu sai triều thần chủ trì, sau khi định danh sách, giao cho phủ phát giải như lệ.

Ngự sử Trung thừa từng hặc tấu Khai Phong doãn Hứa vương Triệu Nguyên Hi, Nguyên Hi bất bình, kêu với Hoàng đế: "Thần là con Thiên tử, vì phạm Trung thừa mà bị tra xét, xin bệ hạ khoan dung." Hoàng đế nói: "Đó là nghi chế của triều đình, ai dám trái! Nếu trẫm có lỗi, bề tôi còn phải hặc tấu; nay mày làm Khai Phong phủ doãn, há có thể không tuân pháp sao?" Bèn luận phạt theo đúng phép.

Tháng 6, ngày Bính Thìn là mồng 1, Hữu Lĩnh quân vệ Đại tướng quân Trần Đình Sơn (陳廷山) vì mưu phản mà bị xử tử.

Lại lấy Hồ Nam làm Tiết độ sứ Vũ An quân.

Hoàng đế đã cất nhắc Mã Quốc Tường và những người khác, vẫn sợ còn sót nhân tài, lại sai Hữu Chính ngôn Vương Thế Tắc (王世則) và những người khác triệu các Tiến sĩ trượt và các khoa đến miếu Vũ Thành vương thi lại, được mấy trăm người trúng cách. Ngày Đinh Sửu, Hoàng đế lại ra đề thơ phú cho thi, lại lấy được Tiến sĩ Diệp Tề (葉齊) và 31 người khác, các khoa 89 người, đều ban cho đỗ.

Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tuất, Hoàng đế bảo Triệu Phổ: "Khanh tuổi cao, chịu nóng thật không dễ. Từ nay sau khi chầu ở điện Trường Xuân xong, nên lập tức về tư đệ dưỡng lão, đợi trời hơi mát rồi hãy đến Trung thư làm việc."

Ngày Bính Ngọ, bãi lệnh cấm muối ở các châu Tây Xuyên.

Tháng 8, ngày Giáp Tý, lấy Tuyên huy Nam viện sứ Quách Thủ Văn (郭守文) làm Đô bộ thự lộ Trấn châu.

Ngày Mậu Dần, Vũ Thắng Tiết độ sứ Đặng vương Tiền Thục mất, đình triều 7 ngày, truy phong Tần quốc vương, thụy Trung Ý, sai Trung sứ hộ tang, táng ở Lạc Dương. Thục giữ chức Thái sư, Thượng thư lệnh kiêm Trung thư lệnh 40 năm, làm Nguyên soái 35 năm, giàu sang tột bậc, phúc lộc thịnh vượng, đời gần đây không ai sánh bằng.

Ngày Canh Thìn, Hoàng đế ngự Quốc tử giám, chiếu lệnh Bác sĩ Lý Giác (李覺) giảng quẻ Thái trong "Chu Dịch", Giác được đặt chỗ ngồi riêng, các thị thần đều ngồi xếp hàng. Giác trình bày ý nghĩa trời đất cảm thông, vua tôi ứng hợp, Hoàng đế rất vui, đặc ban 100 tấm lụa.

Ngày Đinh Dậu, Liêu Thái hậu đến trướng Hàn Đức Nhượng, ban thưởng rất hậu, lệnh các thị thần chia phe đánh song lục cho vui hết mình.

Tháng này, phượng hoàng xuất hiện trên cây Hợp hoan ở huyện Thanh Viễn, Quảng châu, dưới gốc cây mọc 3 cây linh chi.

Tháng 9, ngày Ất Dậu là mồng 1, lấy Lý Kế Long (李繼隆) làm Đô bộ thự Định châu.

Ký danh Thư mật viện sự Dương Thủ Nhất (楊守一) mất. Thủ Nhất vốn là người hầu trong phủ Tấn vương, không có tài năng gì khác, nhờ tố cáo chuyện kín của Đình Mỹ mà được địa vị hiển đạt. Truy tặng Thái úy.

Ngày Đinh Mùi, Bí thư giám Lý Chí tâu: "Văn từ do Trứ tác cục soạn để cáo tế tông miếu và các từ miếu, lời chúc đều xưng tôn hiệu. Đời Đường chỉ có ‘Khai Nguyên lễ’ làm như thế, người khảo cứu cổ lễ cho là không hợp lễ. Xin theo điển cũ, khi tế tông miếu thì xưng ‘Tự Hoàng đế thần mỗ’, các từ miếu thì xưng ‘Hoàng đế’." Chiếu y theo.

Ngày Canh Tuất, Liêu chúa đến đóng quân ở Trác châu, bắn tên mang thư vào thành dụ hàng, không nghe. Ngày Ất Mão, quân Liêu bốn mặt tấn công, thành vỡ, bấy giờ mới hàng, rồi vỗ về quân dân. Phò mã Tiêu Cần Đức (蕭勤德), Đại sư Tiêu Đạt Lan (蕭達蘭) đều trúng tên, Cần Đức chở Liêu chúa trên xe mà về. Sau nghe tin quân Nam rút, bèn sai Da Luật Sắc Trân (耶律色珍) và những người khác truy kích, đại phá quân ta. Mùa đông, tháng 10, ngày Mậu Ngọ, quân Liêu phá dịch trạm Sa Đôi. Ngày Canh Ngọ, chia quân hàng làm 7 chỉ huy, gọi là Quy Thánh quân. Hành quân tham mưu Mã Đắc Thần (馬得臣) nói: "Dụ hàng quân Tống, e rốt cuộc không dùng được, xin thả về." Liêu chúa không cho. Ngày Tân Tị, Khi vương Thọ Ninh đánh bại quân Nam ở ải Ích Tân. Ngày Quý Mùi, tiến quân đến cửa Trường Thành, tướng giữ Định châu là Lý Hưng (李興) đánh, bị Da Luật Hưu Cách (耶律休格) đánh bại.

Hoàng đế bảo thị thần: "Trẫm mỗi khi nhớ lời răn 'cầm thú làm hại' của người xưa, từ nay ngoài việc hữu ty theo thời làm lễ, sẽ không đi săn bắn ở vùng gần kinh nữa." Năm phòng nuôi chim ưng, chó săn đều thả hết, chiếu thiên hạ không được dâng nữa.

Lấy Hữu Gián nghị Đại phu Phàn Tri Cổ (樊知古) làm Đô chuyển vận sứ hai lộ Hà Bắc Đông, Tây. Chức Đô chuyển vận sứ bắt đầu từ Tri Cổ. Tri Cổ vốn tên Nhược Thủy, Hoàng đế đổi tên cho.

Tháng 11, ngày Giáp Thân là mồng 1, Liêu chúa lệnh các quân chuẩn bị khí cụ công thành, ngày Canh Dần, tự mình đánh cửa Trường Thành, bốn mặt cùng tiến. Tướng sĩ phá vòng vây chạy về phía nam, Da Luật Sắc Trân gọi hàng, không chịu, Liêu chúa cùng Hàn Đức Nhượng chặn đánh, chém bắt gần hết. Ngày Giáp Ngọ, chiếm Mãn Thành. Ngày Mậu Tuất, hạ Kỳ châu, thả quân cướp bóc lớn. Ngày Kỷ Hợi, chiếm Tân Lạc. Ngày Canh Tý, phá trại Tiểu Lang Sơn. Quân Liêu đến bờ bắc sông Đường, các tướng muốn theo chiếu mà làm, cố thủ thành lũy, vườn không nhà trống, không giao chiến. Giám quân Định châu Viên Kế Trung (袁繼忠) nói: "Kỵ binh địch ở gần, trong thành ta đóng quân nặng mà không thể tiêu diệt, để chúng thẳng tiến sâu vào, há phải là công dụng ‘bẻ mũi tên, chống nhục’ sao! Ta sẽ thân làm tiên phong, chết ở trước địch vậy!" Lời lẽ hào sảng, mọi người đều phục. Trung hoàng môn Lâm Diên Thọ (林延壽) và 4 người khác vẫn cầm chiếu ngăn cản, Đô bộ thự Lý Kế Long nói: "Việc ngoài ải, tướng soái được tự quyết. Năm trước ở Hà Gian không chết ngay, vốn là để có ngày báo quốc gia đó thôi." Bèn cùng Kế Trung đem quân ra đánh. Trước đó, kỵ binh Tĩnh Tắc ở Dịch châu rất dũng mãnh, Kế Long lấy về thuộc dưới trướng, để vợ con họ trong thành. Kế Trung nói với Kế Long: "Đây là tinh binh, chỉ nên cho giữ thành, vạn nhất giặc đến, trong thành ai chống địch!" Kế Long không nghe. Rồi quân Liêu quả đến, Dịch châu liền mất, vợ con quân sĩ đều bị bắt. Kế Long muốn chia quân ấy cho các quân khác, Kế Trung nói: "Không được, chỉ nên tâu xin tăng biên chế cho quân ấy, ưu đãi lương bổng, khiến họ tận trung là được." Kế Long nghe theo, mọi người đều cảm kích vui mừng, Kế Long nhân đó xin cho họ thuộc dưới trướng mình. Đến đây, họ xông pha trước, quân Liêu đại bại, truy kích đến sông Tào. Tin thắng trận báo về, ban chiếu khen ngợi, ban thưởng rất hậu.

Tháng 12, ngày Tân Mùi, lấy Lý Kế Thiên làm Ngân châu Thứ sử, kiêm Lạc Uyển sứ.

Quốc tử Bác sĩ Lý Giác dâng tấu: "Vùng Ký Bắc, Yên, Đại là nơi sinh ngựa. Việc chế ngự địch, thật cần dựa vào kỵ binh. Người bàn luận cho rằng muốn nước nhiều ngựa, phải lấy lợi mà dụ người biên, khiến họ chở ngựa đến qua nhiều chặng. Nhưng phí mua ngựa mỗi năm càng tăng mà số ngựa trong chuồng không thêm, là vì trái với lẽ sinh sôi của chúng. Người biên chăn nuôi thì dời đổi, đuổi theo nước cỏ. Ngựa đực, ngựa cái tự do giao phối, thuận theo tính loài, nên dần dần sinh sôi. Đến khi ngựa mua bán đến Trung Quốc, thì bị buộc, bị cột, cho ăn rơm khô, tách rời đực cái, kìm hãm tính sinh sản, nên gầy yếu, hao hụt, là lẽ tất nhiên. Nay trong quân ngũ, ngựa cái rất nhiều, mà số sinh sản lại rất ít, vì sao? Đều nói tiền cỏ của quan cấp không đủ, lại sợ ngựa đẻ nhiều thì gầy yếu, ngựa con ăn được thì hao cỏ rơm, mẹ ngựa càng gầy, lính nuôi ngựa có tội mà không có lợi, nên khi ngựa con sinh ra liền đuổi cho ngửi tro mà chết. Sau đó quan lại biết có tệ ấy, bèn bàn thưởng tiền cho lính nuôi ngựa con, nhưng số thưởng chẳng bao nhiêu, mà thói cũ vẫn còn. Nay thần ước tính ngựa biên mà triều đình mua, giá rẻ cũng không dưới 20.000 tiền một con, việc chi dùng, ban thưởng lại còn ngoài số ấy, tức là mua đắt ở biên mà bỏ rẻ ở trong, không hợp lẽ. Dù triều đình chưa rảnh để riêng chọn ngựa cái chia cho chăn nuôi, cũng nên giảm một nửa giá mua ngựa, ban cho tướng sĩ nuôi ngựa con, tăng làm tiền cấp hàng tháng, đợi sau khi họ nộp ngựa thì thôi, như thế là của cải không ra khỏi nước mà ngựa lại sinh sôi. Đại để 20.000 ngựa cái mà ngựa con thu được một nửa, cũng có thể mỗi năm được 10.000 con, huống chi ngựa cái lại sinh ngựa con, mười mấy năm sau, ngựa tất sẽ gấp bội. Xưa Nghi Độn vốn là kẻ nghèo, Đào Chu công dạy ông ta nuôi 5 con bò, rồi đến Tây Hà, nuôi nhiều trâu bò, dê ở phía nam ấp Nghi, mười năm sau, số sinh sản không kể xiết, huống chi là ngựa của thiên hạ mà sinh sôi ư!" Hoàng đế xem và khen.

Trứ tác lang, Trực Sử quán La Xử Ước dâng sớ: "Nghe nói trong Thượng thư tỉnh tâu, muốn trong Tam ty lại đặt 12 viên Phán quan, kiêm lãnh chức vụ, mỗi người coi một cục. Thần cho rằng chế độ Tam ty không phải của thời cổ, là từ giữa đời Đường về sau, binh địch liên miên, nên lấy nơi thu thuế, tiền, lương, muối, sắt mà chia từ Thượng thư tỉnh ra làm Tam ty để coi. Nhưng tệ nạn nối tiếp, đã lâu ngày. Theo chỗ thiển kiến của thần, không gì bằng khôi phục chế độ Đô tỉnh Thượng thư, các chức Thượng thư thừa, lang, Chính lang, Viên ngoại lang, Chủ sự, Lệnh sử, xin theo nghi cũ trong ‘Lục điển’, đem việc tiền, dao, thóc, lụa, muối, sắt, độ chi của Tam ty hiện nay, chia đều vào 24 ty. Như thế, mỗi ty đều có chức trách, có thể buộc họ hoàn thành công việc. Nay thì Thương bộ, Kim bộ, làm sao biết được kho tàng, trữ lẫm đầy vơi; Ty Điền, Ty Xuyên, ai biết được đồn điền, sông ngòi xa gần! Có tên mà không thực, thói quen tích tụ thành thường, sổ sách chất đầy án, bàn, nào từng xem xét được! Nếu lại trong Tam ty mà chia đặt thêm thuộc lại, thì càng xa rời gốc rễ."

Năm ấy, Thiếu phủ giám tâu: "Người bị phối dịch ở bản giám là Quách Miện (郭冕) và những người khác đều từng giữ chức Kinh triều quan, gặp ân xá, xin cho được bổ dụng." Hoàng đế nói: "Đó đều là kẻ tham ô, chỉ có thể miễn cho lao dịch, không thể lại đứng vào hàng triều thần."

Nước Liêu lần đầu đặt chế độ cống cử, cho người đỗ đầu bảng.

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Tị, chiếu lệnh văn võ quần thần mỗi người trình bày kế sách phòng bị biên cương.

Cùng ngày, Liêu chúa lệnh các quân tiến gấp đến Dịch châu; ngày Quý Mão, tấn công thành. Mãn Thành đem quân ra cứu, bị Thiết Lâm quân của Liêu đánh lui, có 5 Chỉ huy sứ bị bắt. Ngày Giáp Thìn, quân Liêu đồng loạt tiến công, con của Đông Kinh kỵ tướng Hạ Trinh Hiển (夏貞顯) là Tiên Thọ (仙壽) xung phong trước, Dịch châu liền vỡ, Thứ sử Lưu Trì (劉墀) hàng Liêu. Tướng sĩ giữ thành bỏ chạy về nam, Liêu chúa dẫn quân chặn đánh, không ai thoát. Liền lấy Mã Chất (馬質) làm Thứ sử, Triệu Chất (趙質) làm Binh mã Đô giám, dời quân dân Dịch châu đến Yên Kinh, phong Tiên Thọ làm Cao châu Thứ sử. Ngày Ất Tị, Liêu chúa lên lầu Ngũ Hoa ở Dịch châu, vỗ về, dụ bảo sĩ dân.

Hộ bộ Lang trung Trương Tế (張洎) tâu

Điều Trung Quốc có thể dựa vào, chỉ là hiểm trở mà thôi. Phía nam biên ải, địa thế trùng điệp, núi sâu, khe lớn, liên miên vạn dặm, là chỗ trời đất dùng để ngăn cách trong ngoài. Nay từ Phi Hồ trở về đông, các ải trọng yếu, núi non chồng chất, thành lũy hiểm trở đều thuộc về Khiết Đan; phía nam Yên, Ký là đồng bằng ngàn dặm, không có núi lớn, sông lớn làm chướng ngại, đó là lý do mất địa lợi mà làm Trung Quốc khốn đốn. Đạo chế ngự của quốc gia, cốt ở xét rõ lợi hại, đề ra kế sách vạn toàn. Nay các quận huyện Hà Sóc, thành lũy nối nhau, triều đình không kể thành lớn nhỏ, đều đào hào, đắp lũy, chia quân giữ. Đến khi kỵ binh địch từ bắc phóng xuống, thẳng tiến sâu vào, mọi người đều đóng cửa thành tự giữ, không dám ra đánh, địch thản nhiên tự đắc, ra vào Yên, Triệu như giẫm lên chốn không người. Đến khi chúng nhân thế, thừa cơ, tấn công, chiếm thành lũy, quốc gia thường lấy dân một ấp mà chống với quân một nước của địch, đã là ít nhiều không tương xứng, nên bại vong nối tiếp. Nguyên do không gì khác, chính là lỗi chia tán binh lực. Thần xin gom hết quân Hà Sóc, dựng 3 đại trấn dọc biên, mỗi trấn thống lĩnh 10 vạn quân, đứng vững như chân vạc mà giữ; lại vây quanh thành cũ, rộng rãi dựng trại mới, để sĩ, ngựa tiện bề ra vào. Rồi bày đặt phong hỏa, cẩn thận canh gác sớm tối, chọn kỵ binh tinh nhuệ làm quân do thám, đường xa ngàn dặm mà như nhìn trong lòng bàn tay, động tĩnh của địch ta tất biết trước. Lại sai thân vương đến đóng ở Nguỵ phủ, nắm chỗ yếu Hà Sóc, làm bức tường sau lưng tiền quân. Các quận huyện khác thì chọn trai tráng trong thành, cấp cho giáo giáp, để quan quân thống lĩnh mà giữ thành. Ba trấn chia nhau đứng vững, sừng sững như Trường Thành, đại quân tụ như mây, hổ thị Yên, Triệu, thần biết rằng Khiết Đan tuy binh tinh, giáp sắc, rốt cuộc không dám vượt qua 30 vạn quân mà nam xâm Bối, Ký vậy.

Sách Quân chí nói

Lại nữa, các quận huyện dọc biên giới lâu nay bị đốt phá, cướp bóc, thần xin bệ hạ đều cho miễn nộp thuế mùa thu, mùa hạ, đợi đến ngày việc yên ổn rồi, mới lại theo lệ cũ. Số tô thuế triều đình mất đi, chưa đến mảy may, mà lại có thể làm nhụt mưu dụ dỗ, lôi kéo của địch, an ủi trăm họ, vỗ về lòng mong mỏi được yên ổn.

Sử cũ có nói: ‘Thánh nhân lấy thiên hạ làm chuẩn mực, không vì giận riêng mà làm tổn thương công nghĩa.’ Nay binh đao liên miên, tai họa kết dồn, nên dùng quyền biến để cứu vãn. Xin bệ hạ tạm thời hạ bớt tôn nghiêm, cất nhắc kế sách thông hòa; nếu bên kia quay về với nhân nghĩa, hối lỗi, phụng theo hòa ước vui vẻ với đại quốc, kết hiếu, nghỉ binh, để yên châu huyện, thì đó là điều mong mỏi để củng cố xã tắc. Nếu như địch nhân không biết chán, chỉ ham tàn bạo, tham tàn làm việc, ép buộc mệnh lệnh của đại bang mà không theo, thì lẽ cong thực ở nơi họ, ta lại có lỗi gì! Thần biết rằng phụ nữ chốn khuê phòng trong thiên hạ cũng sẽ vì bệ hạ mà vác mác cầm kích, liều chết nơi chiến trường, huống chi là người trong lục quân vậy!"

Hữu chính ngôn, Trực Sử quán Vương Vũ Trừng (王禹偁) dâng sớ rằng: "Kế sách phòng bị biên cương, ở ngoài là giao phó cho người thích đáng, ở trong là sửa đức mà thôi. Ở ngoài, một là thế quân lo ở chỗ không hiệp, tướng thần lo ở chỗ không có quyền. Xin ở những nơi trọng yếu dọc biên giới lập ba quân để phòng bị, như loại thành Thụ hàng đời Đường. Nếu quốc gia có 30 vạn quân, thì mỗi quân 10 vạn người, khiến họ cứu viện lẫn nhau, buộc trách nhiệm thành công, ai lập công thì thi hành thưởng, ai không có công thì rõ ràng trừng phạt. Hai là việc trinh la biên sự, bãi bỏ việc dùng tiểu thần. Tiểu thần tuy có tiếng là yêu vua mà không có thực lòng yêu vua, biên cương lầm than mà không tâu hết, dân biên ải ai khổ mà không nói hết. Thật nên dùng lão thần, đại liêu, đi lại tuyên phủ, ban cho sắc mặt ôn hòa, khiến họ dốc hết tình, không giấu giếm, thì việc biên cương sẽ thành. Ba là thi hành gián điệp để chia rẽ họ, nhân lúc rạn nứt mà lấy họ. Thần nghe phong thanh rằng trong nước Khiết Đan, phụ nữ nắm quyền chính, lòng người không phục. Nên bỏ ra lợi hậu, dùng để nhử các bộ trưởng của họ, để chia rẽ lòng họ. Bốn là người biên giới tự đánh lẫn nhau, ấy là lợi của Trung Quốc. Nay quốc gia ở phía tây có Triệu Bảo Trung, Chiết Ngự Khanh làm tâm phúc của nước, nên sắc cho hai soái suất lĩnh 5 châu Lân, Phủ, Ngân, Hạ, Tùy, giăng thế ỷ giốc, lên tiếng nói thẳng là sẽ đánh thẳng vào Thắng châu, thì Khiết Đan sẽ sợ mà rút về giữ phía bắc. Năm là ban chiếu thư bi ai, đau xót để cảm kích dân biên. Gần đây năm trước điếu phạt Yên, Ký, vốn vì đó là đất Hán, thật nên thu phục, nhưng dân biên không biết thánh ý, đều cho là tham đất đai của họ, khiến Khiết Đan nam mục. Bệ hạ nên ban chiếu thư bi ai, đau xót, cáo dụ dân biên, ai chém được 1 thủ cấp thì ban lụa, bắt được 1 con ngựa thì trả giá, bắt được bộ soái thì ban tản quan. Như thế thì người sẽ gấp trăm lần dũng cảm, sĩ sẽ đồng một lòng. Ở trong là ở chỗ quan lại trong các tỉnh, phải thận trọng việc tuyển cử, tin dùng đại thần, cấm chỉ du đãng, lười biếng. Mong bệ hạ bớt độ tăng ni, bớt sùng bái chùa quán, khuyến khích phong tục, chăm việc điền nông, thì sức người mạnh mà dùng cho biên cương sẽ đầy đủ. Nếu quân vận lao nhọc ở ngoài, du đãng hao tổn ở trong, sức người ngày một suy, chi dùng biên cương ngày một nhiều, chẳng may có tai họa thủy hạn, thì giặc không ở ngoài mà ở trong vậy. Xin bệ hạ suy tính kỹ."

Hoàng đế xem sớ, rất khen ngợi, Thừa tướng Triệu Phổ lại càng coi trọng ông ta.

Tri Chế cáo Điền Tích (田錫) dâng sớ rằng

Thần nghe năm trước xuất quân, lệnh cho Tào Bân đánh lấy U châu, ấy là bọn Hầu Mạc Trần Lợi Dụng, Hạ Lệnh Đồ làm rối loạn thánh thính, mà Lý Phảng v.v. lại không biết. Năm ngoái chiêu mộ nghĩa quân, chia đặt quân phần, Triệu Phổ v.v. cũng không biết. Nếu Thừa tướng không có tài, thì bãi chức là được. Thừa tướng có thể giao phó, há lại có chuyện bàn việc biên thùy, phát động sư lữ, mà không cho họ được dự biết hay sao! Lời nói rằng: ‘Tin lệch sinh gian, một mình nắm hết thì thành loạn.’ Lợi Dụng, Lệnh Đồ v.v. đã lầm cơ nghi của bệ hạ trước đây, xin chớ để những người giống như hai kẻ ấy lại lầm cơ nghi của bệ hạ về sau.

Binh thư nói: ‘Việc không gì kín bằng gián, thưởng không gì nặng bằng gián.’ Khiết Đan vốn có nhiều nước chư hầu, chưa rõ bệ hạ đã từng dò xét được có bao nhiêu nước thù địch với chúng chưa? Nếu biết hết, thì có thể dùng trọng thưởng, thi hành gián điệp. Gián điệp nếu thi hành, thì Khiết Đan tự loạn; Khiết Đan tự loạn, thì biên thùy tự yên. Xưa Lý Tĩnh dùng gián, phá được tâm phúc của người Đột Quyết. Như bọn Trần Thang, Phó Giới Tử đời Hán, thì không nhọc sư đồ, tự nhiên người ta quy hóa. Đó là có thể làm dịu bớt nỗi lo biên cương của bệ hạ vậy.

Phàm việc trưng phát quân sĩ, dự trữ lương thảo, cũng nên trấn tĩnh, chớ để ồn ào phiền nhiễu. Thần nghe năm ngoái trên thuế hộ mà trừ bớt để thu cỏ ngựa, và trong quan trung hòa mua, đến khi việc mua nộp chưa đủ, thì đã có sứ thần thúc giục, nhà nghèo dưới hạng có phụ nữ bị đi kiểm tra, khảo xét. Lại nghe sông Biện cạn nông, muốn chia nước sông Nam Hà để thêm vào sông Biện cho thông đường vận lương. Kế hoạch của quốc gia ở đâu, mà đến lúc lâm thời lại đến nỗi như thế! Thần thật không biết quân trữ của quốc gia đủ dùng được mấy năm; nếu không có lương 9 năm, thì thật là không có chuẩn bị; nếu không có lương 3 năm, thì thật là quẫn bách. Nếu không quẫn bách, sao lại phải kiểm tra phụ nữ để nộp cỏ, thêm nước vào sông để vận chuyển lương thực như thế?

Xưa Ngô Khởi làm tướng, đã từng hút nhọt cho sĩ tốt. Hoắc Khứ Bệnh làm tướng, Hán đế muốn làm nhà cho ông ta, Khứ Bệnh nói: ‘Hung Nô chưa diệt, lấy gì mà nói đến nhà cửa!’ Nay tướng soái có ai được như Ngô Khởi, Hoắc Khứ Bệnh chăng? Theo chỗ thần thấy, thì tướng soái thật không có người như thế. Tướng soái không có tài, thì không có uy danh, lấy gì khiến địch nhân trông gió mà sợ!

Theo chỗ thần thấy, việc nhỏ không cần bệ hạ nhọc lòng; còn như đại kế xã tắc, mưu tính lâu dài cho con cháu, thì ở chỗ cất nhắc đại lược, cầu tướng tướng, chăm lo đại thể của đế vương vậy. Giả như người muốn trị thân, thì trước hết trị tâm, tâm không tà thì thân tự ngay; muốn trị ngoài, thì trước hết trị trong, trong đã trị thì ngoài tự yên. Thần cho rằng biên thượng động, là do triều đình làm cho động; biên thượng tĩnh, là do triều đình làm cho tĩnh. Dùng hiền tướng ở trong, thì kỷ cương ngay ngắn; ủy thác lương tướng ở ngoài, thì biên thùy yên ổn vậy.

Đổi Quân đầu ty thành Ngự tiền trung tá quân đầu ty, Dẫn kiến ty thành Ngự tiền trung tá dẫn kiến ty.

Tháng 2, ngày Nhâm Tý là mồng 1, lệnh ở hai lộ Hà Bắc Đông, Tây chiêu mộ đặt doanh điền, lấy Trần Thứ v.v. làm Doanh điền sứ.

Hạ chiếu tự trách.

Liêu chúa ngự điện Nguyên Hòa, nhận bách quan chúc mừng. Vì ngày Nguyên đán ở trong doanh, đến nay thắng trận, trở về Nam Kinh làm bù lễ ấy.

Ngày Quý Sửu, chiếu: "Các quân Bình Tái, Thiên Uy, Bình Định, Uy Lỗ, Tĩnh Nhung, Bảo Tái, Ninh Biên, cùng dân các châu Kỳ, Dịch, Bảo, Định, Trấn, Hình, Triệu, ngoài việc đã được miễn theo chiếu ngày Bính Tuất tháng Giêng năm Ung Hy thứ 4, lại cho miễn thêm 2 năm; các châu Bá, Đại, Minh, Hùng, Mạc, Thâm, cùng các quân Bình Lư, Khả Lam, lại cho miễn thêm 1 năm."

Ngày Ất Mão, Liêu đại yến quân sĩ, tước thưởng có phân bậc. Khu mật sứ Hàn Đức Nhượng phong Sở quốc vương, Phò mã đô úy Tiêu Ninh Viễn đồng chính sự Môn hạ Bình chương sự. Ngày Giáp Tý, Liêu chúa lệnh những người bị bắt trong cuộc nam chinh, có thân thuộc bị phân tán vào các trướng, thì cấp tiền quan cho chuộc, để họ được theo nhau.

Ngày Bính Dần, nước Liêu cấm cử nhân dùng thư nặc danh bay đi để phỉ báng triều chính.

Ngày Mậu Thìn, đổi Quốc tử giám thành Quốc tử học.

Tháng này, làm Phương điền.

Tháng 3, thân chấm thi cử nhân trúng cách, lấy tiến sĩ Trần Nghiêu Tẩu (陳堯叟) người Lãng Trung trở xuống 186 người, các khoa khác Tôn Sức (孫奭) người Bác Bình trở xuống 450 người, đều ban cho đỗ, 73 người đồng xuất thân. Ban yến, bắt đầu cho cả văn thần Lưỡng chế, Tam quán đều được dự. Ban cho bọn Nghiêu Tẩu mỗi người một bài Khâm. Tiến sĩ Việt châu Lưu Thiếu Dật, 13 tuổi, trúng tuyển, sau khi phúc thí, lại riêng ban đề ngự chế cho làm phú, thơ mấy chương, bổ làm Giáo thư lang, lệnh vào Tam quán đọc sách. Lúc ấy Trung thư lệnh sử, Thủ đương quan Trần Di Khánh cử một người học "Chu Dịch" đỗ học sĩ xuất thân, sau đó Hoàng đế biết, lệnh truy thu sắc điệp đã ban, tha tội cho, bắt trở về bản cục, cấm lại việc quan lại, lại nhân ứng cử.

Lúc ấy có 17 người tiến sĩ dắt cả nhà sang quy phụ nước Liêu, Liêu chúa lệnh hữu ty khảo xét, ai có người đỗ thì bổ làm quan Quốc học, số còn lại cho làm Huyện chủ bạ, Úy.

Ngày Đinh Hợi, nước Liêu lệnh Tri Dịch châu Triệu Chất thu nhặt hài cốt sĩ tốt tử trận, đắp Kinh quan. Ngày Mậu Tý, ban cho Dụ Duyệt Sở quốc vương Gia Luật Hưu Cách chu tuyến hồng châu, lệnh vào Nội thần trướng hành lễ "tái sinh", Thái hậu ban vật rất hậu. Chế độ nước Liêu, chỉ Hoàng đế và Thái hậu mới được hành lễ "tái sinh", Hưu Cách được làm, là ngoại lệ.

Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu miễn thu thuế nợ đọng ở Vân châu.

Ngày Bính Thân, nước Liêu mở đường Kỳ Phong, thông đến Dịch châu trị sở.

Mùa xuân năm ấy, Liêu chúa đóng quân ở Diên Phương Điện.

Hết chương 14

Chương sauQuyển 15

Đọc chương 15 →

Bình luận về truyệnTrang truyện