Mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Dậu, lệnh cho Triệu Duệ (晁迥), Lưu Tông (劉綜), Lý Duy (李維), Tôn Sức (孫奭) cùng đồng tri việc khoa cử, Hoàng đế làm thơ khuyến khích, bày tỏ ý muốn chọn lựa nhân tài. Bắt đầu sai 2 viên nội thần đảm nhiệm việc tiếp nhận, tâu báo.
Ngày Ất Hợi, Thượng thư bộ Binh đã về hưu là Tống Bạch (宋白) mất, truy tặng làm Tả Bộc xạ. Hữu ty bàn đặt thụy là Văn Hiến, trong cung đưa mật tấu nói Bạch vốn không có đức hạnh giữ mình, không đáng được thụy ấy, bèn đổi làm Văn An.
Ban thóc lụa cho tiến sĩ người Sở châu là Chu Khải Minh (周啟明), vì Chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tộ (陳堯佐) dâng biểu tâu về hạnh nghĩa của ông ta.
Ngày Mậu Dần, mưa đóng băng trên cây.
Ngày Nhâm Ngọ, sông Hoàng Hà vỡ đê ở Lệ châu.
Ngày Quý Mùi, thủ lĩnh bộ Nữ Chân sang cống nước Liêu, xin ban tước vị, chức phẩm.
Ngày Ất Dậu, Tịnh châu tâu số cỏ khô, thóc lúa tích trữ có thể cung cấp đủ dùng 4, 5 năm, Hoàng đế nói: "Hà Đông năm nào cũng được mùa, kho tàng tích trữ lại càng nhiều. Từ nay các lộ được mùa, nên kịp thời tích trữ thóc lúa, để làm dự bị cho năm mất mùa."
Ngày Mậu Tý, Liêu chúa đi săn ở rừng Mại Hợp Lỗ.
Ngày Canh Dần, Liêu chúa tế núi Mộc Diệp.
Ngày Mậu Tuất, Trước tác tá lang, người Liêu Thành là Lý Thùy (李垂) dâng 3 thiên sách "Đạo Hà hình thế thư" kèm bản đồ, đại lược nói
Chiếu cho Nhậm Trung Chính (任中正), Trần Bành Niên (陳彭年), Vương Tằng (王曾) khảo xét kỹ. Trung Chính và những người khác tâu rằng: "Xét kỹ điều Lý Thùy trình bày, khá chu đáo. Điều nói từ Hoạt Đài trở xuống, chia dòng làm 6 nhánh, thì theo dòng mà xuống thấp, nước chảy xiết khó khống chế, e thế nước tụ lại thành 1, không thể theo từng đường dẫn. Giả như nhất định thành 6 nhánh, thì là lại tăng thêm 6 cửa sông, lâu dài khó bề đắp đê phòng hộ. Cũng lo khi chảy vào sông Hồ Đà, sông Chương, dần dần làm 2 sông ấy bồi lấp, càng thêm tai hại cho dân. Lại đắp đê 700 dặm, dùng phu dịch 217.000 người, công việc đến 40 ngày, xâm chiếm ruộng dân, khá phiền tốn. Sách và bản đồ tuy việc thi hành không dễ, nhưng kiến thức rộng rãi đáng khen, xin đưa vào Sử quán." Chuẩn theo.
Tháng 2, ngày Nhâm Tý, Liêu chúa đóng quân ở Nguyên Thụy Lộc.
Ngày Quý Sửu, Hoàng đế bảo các Tể thần: "Nghe nói ở Cống viện khi khảo thí các khoa cử nhân, đều bắt cởi áo ra xem, lo họ giấu sách vở. Như thế khá trái với thể thống lấy người, nên lệnh đình chỉ." Trước đó, Trực Sử quán Lưu Khải (劉鍇) xin cho mang sách và người bảo lãnh cùng vào điện thi 1 lần. Năm ấy, các khoa có 18 người vì mang sách mà bị đuổi ra, cùng 93 người bảo lãnh, trong đó 12 người đáng được tâu tên, Hữu ty tâu lên. Hoàng đế đặc lệnh cho họ vào thi Điện, rồi chiếu bộ Lễ xét riêng, bãi chế độ người bảo lãnh cùng vào điện thi.
Ngày Nhâm Tuất, lệnh Cống viện bộ Lễ chép đề thi phát giải ở các châu dâng vào nội đình, Hoàng đế sẽ thân ra đề thi cho cống sĩ, ấy là lo đề bị trùng lặp nên làm vậy. Từ đó thành lệ.
Ngày Giáp Tý, lấy Thị ngự sử, người Tuyên Thành là Triệu Chẩn (趙稹) làm Viên ngoại lang bộ Binh, kiêm Chuyển vận sứ lộ Ích châu. Hoàng đế dụ Chẩn rằng: "Đất Thục cách xa triều đình, việc dân gian có điều gì có thể thay đổi, sắp đặt lại, thì đều liệt kê tâu lên." Chẩn đến nhiệm sở, việc không kể lớn nhỏ, đều hết lòng dò hỏi, đến nỗi 1 ngày dâng mấy bản tấu. Huyện Phù Giang bắt cướp không được, mà quan lại lại giam giữ mấy chục dân thường, tra khảo đánh đập, ép cung nhận tội, rồi ghép lời khai cho khớp, như không còn nghi ngờ. Chẩn nhân đi tuần đến đó, ngờ có oan khuất, bèn phi ngựa vào ngục huyện, nhờ đó tìm được hết tình trạng oan uổng, thả họ ra.
Ngày Kỷ Sửu, Hoàng đế thân ra đề thi cho cống cử nhân trúng cách của bộ Lễ, bắt đầu dùng bản in đề thơ, phú, luận ban cho, quan cấp giấy cho thí sinh làm nháp. Ban cho tiến sĩ người Kiến An là Từ Sức (徐奭) và những người khác đỗ Tiến sĩ, xuất thân có thứ bậc khác nhau.
Tháng 3, ngày Ất Hợi, Liêu chúa đến Vĩ Lạc.
Ngày Đinh Sửu, nước Liêu phong 8 Hoàng nữ làm Quận chúa.
Ngày Ất Dậu, Liêu chúa chiếu chọn ngày làm lễ bái sơn, đại xạ liễu, lệnh Bắc Tể tướng, Phò mã Lan Lăng quận vương Tiêu Ninh (蕭甯), Khu mật sứ Hình Bão Chất (邢抱質) đốc thúc Hữu ty chuẩn bị nghi trượng, lễ vật.
Ngày Đinh Hợi, Hoàng đệ nước Liêu là Sở vương Long Dụ (隆祐) được dời phong làm Tề vương, lưu thủ Đông Kinh.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Tý, Cao Ly vương Tuân (詢) sai Thái Trung Thuận (蔡忠順) dâng biểu sang nước Liêu, xin xưng thần như cũ. Liêu chúa lệnh Tuân thân hành sang chầu.
Ngày Nhâm Dần, Lý Đức Minh (李德明) dâng ngựa tốt cho nước Liêu.
Ngày Mậu Thân, lệnh Tư chính điện Đại học sĩ, Thượng thư bộ Hình là Hướng Mẫn Trung (向敏中) giữ nguyên chức, kiêm Bình chương sự. Mẫn Trung lần thứ hai nắm quyền lưu nhiệm, đôn hậu, trầm tĩnh, lòng người yên ổn, Hoàng đế khen ngợi, nên lại cho làm Tể tướng.
Tam ty xin: dân nào buôn bán trà trái phép, cho phép người nhà tố cáo để luận tội. Hoàng đế nói: "Đó là việc phạm giáo nghĩa, không phải điều triều đình nên nói." Không cho.
Vương Tự Tông (王嗣宗) làm Tri Trấn châu, đổi với Trực học sĩ Khu mật viện, Cấp sự trung Biên Túc (邊肅). Hai người vốn không hợp nhau, Túc từng dùng công tiền buôn bán cầu lợi, lại sai thuộc lại ép dân bán đồ, Tự Tông tâu lên, có thể xin bắt giam. Hoàng đế nói: "Túc đang ở chức gần bên, trẫm không muốn khiến ông ta bị thuộc lại xét hỏi, lại nghĩ ông ta trước đây giữ Hình châu có công cố thủ chống giặc." Bèn lệnh Lưu Tông, Nhậm Trung Chính đem tấu chương của Tự Tông cho Túc xem, Túc đều nhận tội. Ngày Ất Sửu, Túc bị tước quan 3 cấp, cho làm Đoàn luyện phó sứ Nhạc châu, không ký việc châu. Tự Tông từng tự nói: dời giống cây phóng, đào cáo ở Bân, và xử án Túc là trừ được 3 hại.
Trước đó, Túc làm Tri Hình châu, trong chiến dịch Chiết châu, Hoàng đế mật chiếu cho Túc: "Nếu châu không thể giữ, cho phép lập tức rút về giữ thành khác ở phía nam." Túc giấu chiếu không phát đi, đốc thúc trai tráng lên thành, mở các cửa, bày binh sĩ dưới quyền thành trận để chờ địch. Kỵ binh địch đến sát chân thành, Túc giao chiến, thắng được trận nhỏ, quân Liêu rút đi.
Tháng 5, ngày Mậu Thìn mồng 1, chiếu bộ Lễ tạm đình khoa cử năm nay.
Liêu chúa trở về Thượng Kinh, lệnh Bùi Nguyên Cảm (裴元感), Hình Tường (邢祥) tri khoa cử bộ Lễ, cho 19 người đỗ Tiến sĩ.
Nước Liêu lấy Phò mã Tiêu Thiệu Tông (蕭紹宗) làm Phòng ngự sứ Trịnh châu.
Hoàng đế thấy các lộ Giang Hoài, Lưỡng Chiết hơi hạn là ruộng nước mất mùa, bèn sai sứ đến Phúc Kiến lấy 30.000 hộc lúa Chiêm chia cho 3 lộ, lệnh chọn ruộng cao của dân mà gieo, đó là lúa chịu hạn. Lại ban phương pháp gieo trồng cho Chuyển vận sứ, dán bảng cáo cho dân. Về sau lại lấy giống ở điện Ngọc Thần.
Ngày Ất Hợi, nước Liêu lấy Hình Bão Chất làm Tiết độ sứ quân Đại Đồng.
Ngày Mậu Dần, lấy Tu nghi Lưu thị làm Đức phi.
Tri Viên châu Hà Mông (何蒙) dâng tấu: "Hai thứ thuế ở bản châu, xin cho nộp bằng vàng." Hoàng đế nói: "Nếu thế, thì sẽ bỏ hết việc cày cấy." Không cho.
Tháng 6, ngày Nhâm Tý, Đinh Vị (丁謂) tâu: "Cột vọng ở các gác Thiên thư bốc lên hơn ngàn luồng khí, xanh, tía, vàng, trắng xen lẫn, lại phun ánh sáng trắng như tơ bạc, trên có mây trắng nhẹ phủ, chốc lát biến thành 5 màu." Hoàng đế làm thơ về điềm lành ban cho các cận thần họa lại.
Các châu tâu năm được mùa, thóc rẻ, đều xin mua rộng, Hoàng đế lo làm hại nông dân, bèn chiếu Tam ty sứ Đinh Vị quy hoạch rồi tâu. Vị tâu: không gì bằng hòa thị, nhưng tiền tích trữ ở các châu ít, nên ngày Quý Sửu, xuất 1.000.000 quan tiền kho Nội tàng giao cho Tam ty để giúp chi dùng.
Viện Tu Quốc sử tâu: "Bộ Lễ chí đang tu, lịch cũ chỉ còn đầu mối sự việc, đều lệnh Lễ viện tìm lấy các việc về lễ văn, sự thay đổi tăng giảm, chế tác, cùng lời nghị luận, phê định từ quốc sơ đến nay, e còn có điều sót, khiến quốc gia đại điển có chỗ không đủ. Long Đồ các đãi chế Tôn Sức (孫奭) hiện đang làm Phán Lễ viện, rất tinh thông kinh học, lễ nhạc uyên bác, xin chuyên ủy cho khảo cứu, cung cấp tài liệu." Chuẩn theo.
Lâm Bô (林逋) ở Tiền Đường, mồ côi từ nhỏ, gắng sức học, tính thanh đạm, ưa cổ, không chạy theo vinh lợi. Ban đầu phóng túng du ngoạn giữa sông hồ, lâu ngày, dựng lều ở Cô Sơn trên Tây Hồ, 20 năm chân không bước đến thành thị. Chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tộ tâu lên, ngày Canh Thân, chiếu ban thóc lụa, lệnh quan trưởng mỗi năm đến thăm hỏi.
Ngày Nhâm Tuất, lệnh Khu mật viện tu "Thời chính ký", mỗi tháng gửi Sử quán. Trước đó, Khu mật viện mỗi tháng ghi chép, kèm việc sử, gửi Trung thư, biên vào "Thời chính ký". Đến đây, Vương Khâm Nhược (王欽若), Trần Nghiêu Tộ (陳堯叟) xin soạn riêng, được chuẩn. "Khu mật viện Thời chính ký" bắt đầu từ đây.
Tháng này, Liêu chúa đóng quân ở Thượng Kinh.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thìn, mới mở cửa Bảo Khang ở phía đông cửa Chu Tước, dời cầu Quảng Tế trên Biện Hà đến trước chùa Đại Tướng Quốc, đề tên là Diên An, lại làm cầu bắc qua sông Huệ Dân, đề tên là An Quốc. Lúc ấy sắp xây quán để thờ Ngũ Nhạc, nên mở cửa này. Sau đó lệnh Đinh Vị và những người khác đến đất 3 doanh Phụng Tiết, Trí Viễn và phía tây đất Điền Canh để xây dựng, nội thị Đặng Thủ Ân (鄧守恩) đốc suất công dịch.
Long Đồ các đãi chế Trương Tri Bạch (張知白) dâng tấu: "Đời Đường, Lý Kiệu từng nói: ‘Muốn an dân, phải chọn Thứ sử. Trộm thấy triều đình trọng nội quan, khinh ngoại nhiệm, mỗi khi bổ nhiệm Mục bá, đều tránh mệnh, kêu ca. Gần đây sai đi ngoại nhiệm, phần nhiều là người bị giáng, phong tục không trong sạch, thực do đó. Xin ở Đài các chọn kỹ hiền lương, chia ra trông coi các đại châu, thần xin bớt việc hầu cận, làm gương cho đồng liêu.’ Phụng các Thị lang Vi Sĩ Lập (韋嗣立) nhân đó xin thi hành, bèn lệnh lấy bản chức ra lãnh châu quận. Thần thấy các đại quận Giang, Chiết đang cần chọn người, nếu có khuyết, thì cho người tạm quyền. Thần tuy bất tài, nguyện noi theo phép cũ." Hoàng đế cho rằng Tri Bạch đã nhiều lần ra ngoại nhiệm, nay đang ở chức trọng yếu, nên không cho. Ngày Tân Mùi, lệnh Tri Bạch cùng giám sát hình ngục ở Kinh sư.
Ngày Nhâm Thân, người dâng thư nói: "Các Tư pháp tham quân ở châu, quân phần nhiều không được người thích đáng, khiến hình pháp sai lệch, oan uổng, xin lệnh Ty tuyển dụng bộ Lại cẩn thận chọn người xuất thân Minh pháp mà bổ nhiệm." Hoàng đế đưa cho Phụ thần xem, Vương Đán (王旦) nói: "Người Minh pháp tuy quen thuộc luật văn, cũng cần có tài trí. Gần đây khi khuyết Pháp quan, phần nhiều lấy Bộc, Úy ở huyện thuộc, quen việc hình danh thay thế, nay xin lệnh Ty tuyển dụng tham khảo mà thi hành." Chuẩn theo.
Ngày Quý Mùi, miếu Đại Ninh cung ở Khánh Thành quân làm xong, tổng cộng 646 gian.
Tiến sĩ nước Liêu là Khang Văn Chiêu (康文昭) và những người khác, vì luận tội Tri cống cử Bùi Nguyên Cảm, Hình Tường lấy người thiên vị, Chính tự Thư mật tỉnh là Lý Vạn (李萬) vì trong thư có lời oán trách, đều bị đánh trượng rồi đuổi đi.
Nước Liêu từ khi Tiêu Thác Vân (蕭托雲) xin đặt Tiết độ sứ Chuẩn Bố, dân trong bộ khổ vì Tiết độ sứ tàn bạo, rủ nhau mưu loạn. Tháng này, Xá Lý Thái sư A Lặc Đãi (阿勒岱) nhân lòng oán của mọi người mà giết Tiết độ sứ Ba An (巴安) cũng cả nhà ông ta mà làm phản. Thác Vân đánh dẹp, A Lặc Đãi chạy đến thành Ô Lỗ Đa, tức là thành Long Đình Thiền Vu xưa. Các bộ Chuẩn Bố bắt A Lặc Đãi dâng nộp. Rồi các bộ đều phản, vây Thác Vân ở thành Ha Thôn, thanh thế rất mạnh; Thác Vân sai các quân đồng loạt bắn đuổi, đóng quân ở thành Ô Lỗ Đa.
Tháng 8, ngày Bính Thân mồng 1, nhật thực.
Ngày Đinh Dậu, chiếu Học sĩ viện: các bài văn tế ở Thanh từ, trai giới, chỉ xưng Hoàng đế, không liệt tôn hiệu.
Ngày Mậu Tuất, Tả Bộc xạ Trương Tề Hiền (張齊賢) lấy chức Tư không về hưu, trở về Lạc Dương, vào chầu từ biệt, vừa lạy thì ngã. Hoàng đế vội ngăn lại, cho phép 2 con trai đỡ lên điện, lệnh thêm 3 lớp nệm cho ông ngồi để tỏ sự ưu đãi.
Tri Thăng châu Trương Vịnh (張詠), đầu bị nhọt nặng, ăn uống thì ngày một đau đớn, tính tình không khoan hòa, với thuộc hạ, khách liêu hơi có điều không vừa ý là mắng chửi, người ta phần nhiều chê trách. Vịnh nhiều lần xin chuyển nhiệm vụ sang Tây Lạc, ngày Nhâm Dần, lệnh Thị lang bộ Công Tiết Ánh (薛映) thay ông. Vịnh về rồi, không thể vào chầu, bèn lệnh làm Tri Trần châu. Ánh đến Thăng châu, tâu: quan lại đặt thuế trâu, dân thuê trâu, trâu chết thì thuế không được miễn. Hoàng đế xem, giật mình nói: "Đây há là điều triều đình biết sao!" Bèn chiếu các châu liệt kê tâu lên, đều miễn cả.
Ban đầu bàn việc đúc tượng Thánh ở chính điện Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, lệnh Giang Hoài phát vận sứ Lý Phổ (李溥) tìm thợ khéo, được dân Hàng châu là Trương Văn Dực (張文昱) và những người khác, đặt lò ở ngọn núi nhỏ phía tây bắc quân Kiến An, Phổ trông coi. Ngày Bính Ngọ, Phổ tâu: ở đạo tràng có điềm chim sẻ thần, ánh sáng lạ, mây lành, chiếu lệnh Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ Đinh Vị phi ngựa đến tế tạ. Phổ và Vị trong ngoài cấu kết, chở nhiều gỗ lạ, đá kỳ, gom thợ khéo phương Đông Nam để phụ họa ý Hoàng đế. Vị lại nói Phổ giám đúc tượng Thánh, ăn chay 1 năm, chiếu khen thưởng.
Hoàng đế làm "Tường Thụy luận", "Cần chính luận", "Tục lại biện", ban cho mỗi Phụ thần 1 bản, nhân đó nói: "Nghe nói trong ngoài có người bàn triều đình sùng bái điềm lành, thân làm việc vụn vặt, nên soạn đây để giải thích." Phụ thần xin cho bày cho bách quan xem, khắc đá ở Quốc học. Hoàng đế làm nhiều việc giả dối, lòng không yên, nên mới có những bài luận này.
Ngày Bính Thìn, Tri chế cáo Vương Tằng (王曾) làm Phán Đại lý tự. Trước đây, Phán tự thường dùng Lang quan, Hoàng đế muốn trọng trách ấy, nên đặc lệnh Tằng. Khi yết kiến ở tiện điện, dụ rằng: "Mệnh sống chết trong thiên hạ buộc vào ngục tụng, nay làm phiền khanh." Tằng dập đầu tạ. Lại ban 30 vạn quan tiền. Nhân đó xin được chọn thuộc lại tâu trình, bèn ghi thành lệ.
Ngày Kỷ Mùi, Cao Ly vương Tuân sai Thị lang bộ Hình Điền Cung Chi (田供之) dâng biểu sang nước Liêu, nói bệnh không thể vào chầu. Liêu chúa nổi giận, lệnh lấy 6 thành Hưng Hóa, Thông châu, Long châu, Thiết châu, Quách châu, Quy châu.
Ngày Giáp Tý, người dâng thư nói: "Thần thấy văn võ nhân dịp tế Giao, sinh nhật Hoàng đế mà bổ nhiệm con cháu làm quan, nhiều người còn nhỏ, ngồi không ăn lương. Có những kẻ cùng khốn, đọc sách đến bạc đầu, và những người quan thấp bị giam hãm, thường thêm than thở. Xin lập điều lệ." Hoàng đế lệnh Phụ thần bàn việc ấy, đặc biệt hạn định tuổi mà lập chế, nhưng rồi không thi hành.
Tháng này, Hoàng đệ nước Liêu là Tề quốc vương Long Dụ mất, ngưng triều 5 ngày, truy tặng Thủ Thái sư, thụy Nhân Hiếu.
Tháng 9, ngày Mậu Tý, lấy Thượng thư bộ Lại, Tri Khu mật viện sự Vương Khâm Nhược, Thượng thư bộ Hộ, Tri Khu mật viện sự Trần Nghiêu Tộ, đều theo chức cũ gia Kiểm hiệu Thái phó, Đồng Bình chương sự, sung Khu mật viện sứ, Kiêm ký Khu mật viện sự Mã Triết (馬知節) làm Phó sứ. Nho thần vào Khu mật kiêm làm Tể tướng, bắt đầu từ Khâm Nhược, Nghiêu Tộ.
Tham tri chính sự Triệu An Nhân (趙安仁) bị bãi, làm Thượng thư bộ Binh. An Nhân cẩn thận, tinh xét, đặc biệt chú ý hình danh, các thư chiếu trong ngoài quan trọng đều giao cho An Nhân sửa bớt. Trước đó, Hoàng đế bàn lập Hoàng hậu, An Nhân cho rằng Lưu Đức phi xuất thân hàn vi, không bằng Thẩm Tài nhân xuất thân từ nhà Tể tướng. Hoàng đế tuy không vui, nhưng xét ông liêm chính, không xét tội. Một hôm, cùng Vương Khâm Nhược thong thả bàn đại thần ai là bậc trưởng giả, Khâm Nhược muốn gạt An Nhân, bèn khen rằng: "Không ai bằng Triệu An Nhân." Hoàng đế hỏi: "Vì sao nói thế?" Khâm Nhược nói: "An Nhân xưa được cố Tể tướng Thẩm Nghĩa Luân (沈義倫) biết đến, đến nay không quên ơn cũ, thường muốn báo đáp." Hoàng đế im lặng, bắt đầu có ý gạt An Nhân. Từng dụ Vương Đán: "Nghe nói An Nhân ở Trung thư không thân việc, khi tâu đối cũng chưa từng nói 1 lời, có thể bãi." Đán tâu: "An Nhân khá biết đại thể, thường ngày các bản tấu đều do đồng liêu bàn định rồi mới dám xin chỉ. Thần thường thấy những người thay đổi lời nói trước mặt Hoàng thượng, đều là chiều đón ý bệ hạ. An Nhân không có ý khác, ấy là có chỗ giữ." Hoàng đế nói: "Có thể như thế sao? Khanh hãy bảo ông ta, khiến càng tận lực." Đán lui, nói lại với An Nhân. An Nhân nói: "Quan gia nhầm nhỡ cất nhắc tôi đến đây, vì bất tài mà bị bãi là phải. Nếu bắt tôi cùng mọi người tranh biện để lấy lòng, An Nhân này không làm." Đến khi bãi chức Chính sự, vẫn lệnh ông kiêm Sử tướng. An Nhân tuy quý hiển, nhưng giản dị như thường, lại rất ham đọc sách, bổng lộc phần nhiều dùng mua sách, tự tay đối chiếu, việc thay đổi gần đây của triều đình, y quan nhân vật, đều nhớ được.
Lấy Tam ty sứ Đinh Vị làm Thị lang bộ Hộ, Tham tri chính sự, vẫn kiêm Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ.
Ban đầu, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc (李宗諤) thân với Vương Đán, Đán muốn tiến cử Tông Ngạc làm Tham tri chính sự, từng nói với Vương Khâm Nhược, Khâm Nhược chỉ ậm ừ. Nhà Tông Ngạc nghèo, bổng lộc không đủ lo cưới gả, Đán trước sau giúp đỡ rất nhiều, Khâm Nhược có biết. Theo lệ, ngày Tham tri chính sự vào tạ, vật ban thưởng gần 3.000 quan. Khâm Nhược nhân đó mật tấu: "Tông Ngạc nợ tiền riêng của Vương Đán, Đán muốn tiến cử Tông Ngạc làm Tham tri chính sự, để được vật ban thưởng mà trả nợ, không phải chọn hiền." Hôm sau, Đán quả đem tên Tông Ngạc tâu lên. Hoàng đế biến sắc, không cho. Đến khi Triệu An Nhân bị bãi, Đinh Vị lúc ấy phụng chiếu đến Thái Thanh cung ở Bạc châu chưa về, liền lệnh Vị thay, ấy là do Khâm Nhược tiến cử.
Khâm Nhược giao du với Lưu Thừa Khuê (劉承珪), Trần Bành Niên, Lâm Đặc (林特) và Đinh Vị, hành vi quái dị, đương thời gọi là "Ngũ quỷ".
Ngày Kỷ Sửu, lấy Phó sứ Diêm thiết, Hữu gián nghị đại phu Lâm Đặc quyền Tam ty sứ.
Ngày Nhâm Thìn, Điện tiền ty tâu: "Các quân tố cáo quân hiệu trưởng của bản quân thu tiền để trang hoàng doanh xá, đồ dùng, số ít, xin lệnh Ty trống không nhận." Hoàng đế nói: "Quân dân tố cáo việc vụn vặt, trẫm thường bỏ qua không thi hành. Nếu bảo rõ cho Hữu ty, thì tình dưới sẽ bị bưng bít." Không cho.
Ngày Quý Tị, Hàn lâm học sĩ Dương Ức (楊億) vì bệnh được ban nghỉ. Ức cương trực, ít giao du, ở Thư cục chỉ thân với Lý Duy, Lộ Chấn (路振), Điêu Khản (刁衎), Trần Việt (陳越), Lưu Quân (劉筠). Văn sĩ đương thời đều nhờ ông bình phẩm, ai bị ông chê, lui ra thường oán trách. Vương Khâm Nhược đột nhiên được quý, Ức vốn coi nhẹ con người ông ta, Khâm Nhược ghi hận, Trần Bành Niên đang dùng văn sử để tiến thân, ghen vì danh Ức vượt mình, cùng nhau hủy báng trước Hoàng đế. Hoàng đế vốn trọng Ức, Ức xin giải chức gần bên, chiếu ưu đãi không cho.
Giang Nam Đông, Tây, Bắc năm ấy được mùa kém, cứu tế gấp đôi, mà người bàn việc cho là dân lưu tán vô số; đến khi Đinh Vị đi sứ quân Kiến An, nhân đó lệnh khảo thực số. Mùa đông, tháng 10, ngày Mậu Thân, Vị tâu: "Chuyển vận sứ ty đã phân tích dân trốn ở 15 châu, quân từ ngày 15 tháng 4 năm Đại Trung Tường Phù thứ 3, nơi nhiều thì đến 100 hộ, còn lại chỉ 30 hộ, sau đó lại có người trở về làm ăn." Lúc ấy Vương Tùy (王隨) làm Chuyển vận sứ, dặn thuộc hạ xuất tiền kho cho dân vay mua lương, giống, cuối năm hẹn nộp lụa để trả, nên người lưu tán phần nhiều trở về làm ăn.
Lý Tông Chính (李宗政), người thừa nhận công việc ở hai châu Đại, Tịnh, tâu: "Lửa phát ra ở phía nam quân 5, 7 dặm, hoặc đào đất hơn 1 thước thì lửa bốc lên, đó là ứng với Hỏa đức, xin lập miếu." Hoàng đế nói: "Núi này có lửa, nên quân lấy đó đặt tên, đã có từ xưa, Tông Chính nói tầm bậy." Đương thời những điều nói về điềm lành đều như thế, chỉ Tông Chính là bị Hoàng đế bác bỏ.
Ngày Kỷ Dậu, lấy Chủ khách lang trung, Tri chế cáo Vương Tằng làm Sứ chúc sinh nhật Liêu chúa, Cung uyển sứ Cao Kế Huân (高繼勳) làm Phó. Theo lệ cũ, đi sứ tất phải gia quan, Kế Huân vốn chức đã cao, không gia quan nữa. Từ đó thành lệ.
Ngày Tân Hợi, Liêu chúa đến Trung Kinh.
Ngày Đinh Tị, lấy Tri chế cáo Trần Nghiêu Tư (陳堯諮) quyền Đồng phán Lại bộ Lưu nội tuyển. Theo lệ cũ, người dự tuyển đều phải nhờ tấu cử mới được làm quan kinh, mà sĩ có người cô hàn, không ai biết đến, Nghiêu Tư đặc biệt tâu rõ tình trạng mà cất nhắc.
Từ khi bàn việc Thiên thư, bốn phương dâng lời nịnh hót ngày càng nhiều, Hoàng đế càng ưa thích. Ngày Mậu Ngọ, Cửu thiên Tư mệnh Thượng khanh Bảo sinh Thiên tôn giáng xuống điện Diên Ân. Trước đó 8 ngày, Hoàng đế tự nói mộng thấy thần nhân từng hiện trong niên hiệu Cảnh Đức, truyền mệnh của Ngọc Hoàng rằng: "Trước sai tổ ngươi là Triệu nào đó trao Thiên thư cho ngươi, sẽ lại hiện ra, như đời Đường cung phụng Huyền Nguyên Hoàng đế." Hôm sau, lại mộng thần nhân truyền lời Thiên tôn: "Ta ngồi phía tây, nên đặt 6 chỗ ngồi chếch." Liền lập đạo tràng ở điện Diên Ân. Ngày ấy, canh năm, trước nghe mùi hương lạ, chốc lát, ánh vàng từ đông nam đến, che lấp đèn nến. Lát sau, thấy linh tiên, nghi vệ Thiên tôn đến, Hoàng đế hai lần bái dưới thềm. Lại có mây vàng nổi lên, chốc lát mây tan, Thiên tôn cùng 6 người đều vào chỗ ngồi, thị tùng ở đông giai. Hoàng đế lên tây giai, hai lần bái. Lại muốn bái 6 người, Thiên tôn lệnh chỉ vái, không bái, sai đặt giường, gọi Hoàng đế ngồi, cho uống "bích ngọc thang", vị ngọt trắng như sữa. Thiên tôn nói: "Ta là 1 trong 9 người Nhân hoàng, là thủy tổ của họ Triệu, lần giáng thứ hai là Hoàng đế Hiên Viên. Phàm đời sau biết là con của Thiếu Điển, không phải. Mẹ cảm sét, mộng thấy thiên nhân, sinh ta ở Thọ Khâu. Đời Hậu Đường, ngày mồng 1 tháng 7 giáng xuống, cai trị hạ giới, chủ họ Triệu, đến nay đã 100 năm. Hoàng đế nên khéo vỗ nuôi sinh dân, chớ lười chí trước!" Rồi rời chỗ ngồi, cưỡi mây mà đi. Đến sáng, triệu Phụ thần đến điện, chỉ chỗ giáng lâm, lại triệu Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung Phó sứ Lý Tông Ngạc, Lưu Thừa Khuê, Đô giám Lam Kế Tông (藍繼宗) cùng xem.
Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu cho trong ngoài, đại xá thiên hạ, những tội thường không được tha trong đại xá đều bỏ. Hai Kinh năm sau miễn 2 phần 10 thuế mùa hạ, các lộ miễn 1 phần 10. Ban cho quan về hưu đủ bổng 1 năm, Mạc chức, quan châu huyện từng bị tỉnh giảm trước đây tạm tăng 500 người, mãn nhiệm thì dừng.
Lệnh Đinh Vị, Lý Tông Ngạc, Trần Bành Niên cùng quan Khảo thảo Thái thường Lễ viện xét định nghi chế sùng phụng Thiên tôn rồi tâu.
Ngày Canh Thân, quần thần đến điện Sùng Chính chúc mừng, nhân đó ban rượu 5 tuần rồi lui. Yến các thân thích tông thất ở điện Vạn Tuế.
Ngày Tân Dậu, Hoàng đế đem "Sùng Nho thuật luận", "Vi quân nan, vi thần bất dị luận" cho Vương Đán và những người khác xem, Đán và các quan xin khắc đá ở Quốc tử giám.
Chiếu vì Thiên tôn giáng lâm, chia sai Phụ thần cáo tế Trời Đất, Tông miếu, Xã Tắc.
Tháng nhuận, ngày Đinh Mão, lệnh Vương Đán làm Sứ thân đến Thái miếu làm đại lễ tạ, Hướng Mẫn Trung làm Lễ nghi sứ, Vương Khâm Nhược làm Nghi trượng sứ, Trần Nghiêu Tộ làm Lỗ bộ sứ, Mã Triết làm Kiều đạo đốn dịch sứ. Loan giá, nghi trượng trước dùng 2.000 người, Hữu ty xin tăng lên 7.000 người, được chuẩn.
Ngày Kỷ Tị, tôn hiệu Thiên tôn là Thánh Tổ Thượng linh Cao đạo Cửu thiên Tư mệnh Bảo sinh Thiên tôn Đại đế. Hữu ty xin lấy điện Ngọc Hoàng hậu ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung làm chính điện Thánh Tổ, điện Tư mệnh ở phía đông làm nơi xử lý công việc.
Ngày Tân Mùi, Hoàng đế thân đến tạ lễ tại 6 miếu trong Thái miếu. Ra chiếu: "Thánh Tổ, chữ tên ở trên là Huyền, ở dưới là Lãng, không được gọi thẳng mà phạm húy. Lấy ngày 1 tháng 7 làm Tiên Thiên tiết, ngày 24 tháng 10 làm Giáng Thánh tiết, đều được nghỉ 5 ngày; ở hai kinh và các châu, trước đó 7 ngày đều lập đạo tràng, thiết lễ chay, trong thời gian ấy cấm giết mổ trong nội cấm, đình chỉ thi hành hình phạt, cho phép sĩ dân yến ẩm vui chơi, trong kinh thành treo đèn 1 đêm." Đổi điện Diên Ân làm điện Chân Du, lại tu sửa trang hoàng thêm.
Ngày Quý Dậu, ra chiếu: "Ở các châu, phủ, quân, giám trong thiên hạ, tại Thiên Khánh quán đều tăng lập điện thờ Thánh Tổ."
Ngày Ất Hợi, ra chiếu tôn thụy hiệu cho Thánh Mẫu là Nguyên Thiên Đại Thánh Hậu.
Ban đầu, các Tể thần cho rằng thụy hiệu của Thái Tổ có chữ trùng với tên Thánh Tổ, định bàn đổi đi. Hoàng đế nói: "Chân Tổ giáng lâm, là đại khánh của hoàng gia, thì 6 miếu đều nên gia tăng thụy hiệu." Bèn ra chiếu, 6 miếu trong Thái miếu mỗi nơi đều phụng thêm 2 chữ tôn thụy.
Hữu ty tâu rằng Thánh Tổ mẫu chưa có cung điện, xin sai quan đến Thọ Khâu, huyện Khúc Phụ, châu Yên tâu cáo, Hoàng đế cho theo.
Ngày Bính Tý, quần thần dâng tôn hiệu là Sùng Văn Quảng Vũ Cảm Thiên Tôn Đạo Ứng Chân Hựu Đức Thượng Thánh Khâm Minh Nhân Hiếu, Hoàng đế không cho; biểu dâng đến 3 lần, mới thuận theo. Ra chiếu đợi sau khi sách phong Thánh Tổ xong rồi mới nhận sách tôn hiệu.
Ngày Đinh Sửu, Hoàng đế đến điện Thần Ngự của Thái Tông ở Khải Thánh viện làm lễ tạ. Lễ xong, ra chiếu lấy tảng đá khắc chữ Chí Công thu được ở Thư châu vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, hiện để tại Long Đồ các, đem cho các Phụ thần xem, gia phong thụy hiệu cho Chí Công là Chân Giác, sai Tri chế cáo Trần Nghiêu Tư đến Giáng Sơn tế lễ; sau lại gia thụy là Đạo Lâm Chân Giác, lệnh trong triều ngoài dân đều không được gọi thẳng tên Chí Công.
Ngày Mậu Dần, đổi huyện Khúc Phụ, Yên châu làm huyện Tiên Nguyên, dựng Cảnh Linh cung và Thái Cực quán ở Thọ Khâu, để phụng thờ Thánh Tổ và Thánh Tổ mẫu.
Hữu ty tâu: "Nhạc chương của Thái Thanh cung nhà Đường đều do Minh Hoàng soạn, nay tôn sùng Ngọc Hoàng, Thánh Tổ và các Tổ tông phối vị, xin Hoàng đế tự soạn nhạc chương." Ngày Mậu Tý, trong cung ban ra 16 khúc nhạc chương cho các Phụ thần xem, vũ văn gọi là "Phát Tường Lưu Khánh", vũ võ gọi là "Giáng Chân Quán Đức".
Tháng 11, ngày Giáp Ngọ mồng 1, quần thần nước Liêu dâng tôn hiệu cho Liêu chúa là Hoằng Văn Tuyên Vũ Tôn Đạo Chí Đức Sùng Nhân Quảng Hiếu Thông Duệ Chiêu Thánh Thần Tán Thiên Phụ Hoàng đế, đại xá, đổi niên hiệu là Khai Thái, đổi U Đô phủ làm Tích Tân phủ, huyện Kế Bắc làm huyện Tích Tân, huyện U Đô làm huyện Uyển Bình, ân trạch ban khắp trong ngoài.
Ngày Quý Mão, nước Liêu vì Trương Đình Mỹ, Lục sự trước đây ở Liêu châu, 6 đời cùng chung sống, và Lưu Hưng Doãn ở Nghi Khôn châu, 4 đời cùng chung sống, đều cho miễn sưu dịch 3 năm.
Ngày Giáp Thìn, Tiêu Thác Vân, Tây Bắc chiêu thảo sứ nước Liêu, tâu rằng các bộ tộc Chuẩn Bố dọc biên giới đều phản, Tiêu Hiếu Mục, Đô giám Tây Bắc lộ chiêu thảo, tiến quân đến thành Ha Tun, bọn Chuẩn Bố kết với 5 mục trưởng là Trát Lạp A Đô v.v., mưu trong ngoài ứng hợp, Hiếu Mục giết sạch bọn chúng, rồi nghiêm phòng giữ để chờ địch, dư đảng đều tan vỡ.
Ngày Kỷ Dậu, ra chiếu: "Theo điển cố Hoàng Đế, từ nay phàm chiếu thư ban xuống, ngoài những chữ dùng cho Thánh Mẫu, không được dẫn dụng." Lúc ấy Học sĩ viện soạn bài từ yến ở Giáo phường nhân tiết Thừa Thiên, trong đó có câu "đại điện nhiễu xu", Hoàng đế lệnh Thừa tướng truyền ý đổi đi, nhân đó ban ra chiếu này.
Ngày Nhâm Tý, đổi Lãng châu làm Đỉnh châu.
Tháng này, lần đầu đặt chức Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, lệnh Tể thần Vương Đán đảm nhiệm.
Tháng 12, ngày Bính Dần, nước Liêu rước dời tượng đá các Hoàng đế ở Nam Kinh đến đặt tại điện Quán Đức ở Trung Kinh, còn Cảnh Tông và Tuyên Hiến Hoàng hậu thì rước đến điện Ngũ Loan ở Thượng Kinh.
Trước đó có chiếu sai Đinh Vị cùng những người khác chọn đất trong kinh thành xây cung để phụng thờ Thánh Tổ, Đinh Vị tâu: "Vương Hy Nguyên, Thiếu giám Ty Thiên, nói: theo ‘Thiên văn chí’, phía nam Thái Vi cung có sao Thiên Miếu, tức là tông miếu của đế vương, nên chọn chỗ Bính trong Đại Nội." Bèn được đất tốt ở Tích Khánh viện, liền lệnh Đinh Vị cùng Nội thị Đặng Thủ Ân tu sửa xây dựng. Ngày Mậu Thìn, ra chiếu đặt tên cung mới là Cảnh Linh.
Hữu ty xin đổi các chữ Huyền Vũ, Huyền Minh, Huyền Dực, Huyền Hào đều thành chữ "Chân", chiếu cho phép.
Ngày Nhâm Thân, đổi thụy hiệu Văn Tuyên vương Huyền Thánh thành Chí Thánh Văn Tuyên vương.
Nước Liêu phát chẩn cứu đói cho Phụng Thánh châu.
Ngày Kỷ Mão, Khấu Chuẩn, Tri Thiên Hùng quân, tâu rằng ngục trống, Hoàng đế ra chiếu khen thưởng.
Ngày Canh Thìn, nước Liêu ban cho Hoàng đệ Tần Tấn quốc vương Long Khánh một thiết khoán.
Ngày Quý Mùi, Lưu Thần tâu rằng Cao Khả Thản ở Điện trung và Lý Khả Cử, Thôi quan Lưu thủ Trung Kinh, xử án sáng suốt công bằng, Liêu chúa thăng chức vượt bậc cho họ.
Ngày Giáp Thân, nước Liêu ra chiếu: "Ở các đạo bị thủy tai, dân nào đem con trai con gái đi cầm cố, thì từ tháng Giêng năm sau trở đi, mỗi ngày tính tiền công 10 văn, đến khi tiền công trừ hết giá chuộc thì trả họ về nhà."
Quy châu tâu rằng dân cư ở đó vốn là người Tân La dời đến, chưa quen chữ nghĩa, xin lập trường học; Hoàng đế cho theo.
Ngày Đinh Hợi, lập Đức phi Lưu thị làm Hoàng hậu. Hoàng hậu tính tình lanh lợi, hiểu sách sử, nghe việc triều đình, có thể nhớ rõ đầu đuôi; mỗi khi Hoàng đế tuần du, tất cho theo hầu. Y phục không xa xỉ cầu kỳ, không khác gì các cung nhân khác. Sau khi Trang Mục Hoàng hậu băng, ngôi Trung cung bỏ trống, Hoàng đế liền muốn lập bà, Hoàng hậu cố từ chối. Lâu sau, sắp ban chiếu, Thừa tướng Vương Đán bỗng cáo bệnh, Hoàng hậu nghi Vương Đán có ý khác, lại cố từ chối. Bấy giờ Trung thư, Môn hạ xin sớm chính mẫu nghi, Hoàng hậu cuối cùng được lập. Phàm xử trí việc trong cung, phần nhiều dựa theo điển cố bên ngoài, không việc nào không thích đáng. Hoàng đế lui chầu, xem tấu chương phong kín trong thiên hạ, thường đến nửa đêm, Hoàng hậu đều được nghe qua.
Ngày Kỷ Sửu, nước Liêu lệnh các trấn dựng lầu Tuyên Sắc.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Tỵ mồng 1, Ty Thiên tâu rằng 5 ngôi sao đều cùng một sắc.
Nước Liêu, nhân lễ đại sách phong đã thành, thăng Khinh Bão Chất làm Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thủ Tư không kiêm Thị trung; Vương Kế Trung làm Lưu thủ Trung Kinh, Kiểm giáo Thái sư; Lưu Kinh, Thị lang Bộ Hộ, thăng Thượng thư Bộ Công; Phò mã Tiêu Thiệu Tông thăng Kiểm giáo Thái sư; Da Luật Khang Ôn thăng Chính sự lệnh, phong làm U vương; lấy Bùi Nguyên Cảm làm Hàn lâm Thừa chỉ, Hình Tường làm Cấp sự trung, Lữ Dụng Trung làm Hàn lâm học sĩ, Lữ Đức Thôi làm Khu mật Trực học sĩ.
Trước đó, Liêu chúa đi săn ở Vân Trung, theo lệ cũ, xa giá đi qua, các Trưởng quan phải có vật dâng tiến, Tiết độ sứ Vân Trung dâng rằng: "Trong cõi của thần không có sản vật gì khác, chỉ có mạc liêu Trương Kiệm là báu vật một đời, xin dâng làm cống." Liêu chúa từng mộng thấy 4 người hầu bên, ban ăn, mỗi người 2 miếng, đến đây nghe tên Kiệm, mới hiểu ra, bèn triệu kiến, thấy dung mạo chất phác quê mùa, hỏi đến việc đời, ông ta trình bày hơn 30 việc, từ đó được đối đãi đặc biệt, bổ làm Chính sự xá nhân.
Ngày Canh Tý, ra chiếu: "Từ nay phàm việc sửa đổi, định lại các điều nên làm, đều lệnh Trung thư và Khu mật viện cùng bàn bạc thi hành."
Ngày Đinh Mùi, Liêu chúa đến Như Ý Lộc nguyên. Da Luật Hoa Cách, Khu mật sứ Bắc viện, thăng Chính sự lệnh, phong Bân vương.
Ngày Mậu Thân, ra chiếu: "Nội thần mang mệnh đi ra ngoài, nếu can dự công việc ở châu, huyện, và quan lại sở tại không lập tức tâu báo, đều phải luận tội. Phàm nội thần ra sứ, đều buộc phải rõ ràng nhiệm vụ được giao, kẻ nào dám bịa tấu việc khác, phải chịu quân pháp." Đó là chế cũ từ thời Tổ tông.
Ngày Giáp Dần, Hoàng đế bảo Tể thần: "Quần thần ra nhận chức, sau khi thụ mệnh phần nhiều lấy cớ Nam Bắc không tiện mà kêu ca." Hướng Mẫn Trung nói: "Nhà nước dùng người, há cho phép họ tự tiện chọn chỗ! Cần phải chỉnh đốn lại." Hoàng đế nói: "Nếu nơi được bổ nhiệm không hợp ý, thì lòng họ không yên; lòng đã không yên, thì làm sao lâu bền với chức vụ được?" Vương Đán nói: "Cúi theo ý muốn của người, thật là do lòng nhân từ của Hoàng thượng."
Ngày Đinh Tỵ, lấy Đường Túc, Giám sát ngự sử người Tiền Đường, làm Đề điểm hình ngục lộ Tử châu. Túc giữ pháp công chính, trong ngục không có oan uổng, nên được thăng nhiệm như thế.
Ngày Kỷ Mùi, Liêu chúa xét tù.
Bộ Ô Khố Địch Lý làm phản, Hữu Bì Thất Tường Cổn Diên Thọ suất binh đi đánh.
Ngày Canh Thân, đặt các chức Thục Nghi, Thục Dung, Thuận Nghi, Thuận Dung, Uyển Nghi, Uyển Dung, đều tòng nhất phẩm, trên bậc Chiêu Nghi. Lại đặt chức Ty Cung lệnh, chánh tứ phẩm, trên bậc Thượng cung. Ghi vào luật lệnh. Lấy Tiệp dư Dương thị làm Uyển Nghi.
Ngày Tân Dậu, ra chiếu lệnh Tông chính tự lấy sổ hoàng thuộc làm Ngọc điệp của Hoàng Tống.
Vinh vương Triệu Nguyên Nghiễm từng dự yến, nói năng khá nhiều. Lại từng bảo Thạch Bảo Cát, kép hát mới sung vào Giáo phường, diễn trò; đến khi dự yến ở Bắc viên, có kép hát hơi không vừa ý, Nguyên Nghiễm liền quát mắng, định đánh đập, các quan trong cung đều không dám can, sau đó vào chầu Hoàng đế, lại xin kép hát ấy diễn trò. Hoàng đế không vui, hôm khác, đem việc ấy nói với Vương Đán và những người khác. Vương Đán nói: "Nay nên triệu Ký thất, Thư ký là Thôi Hỗ, bảo rằng sự vui giận của thân vương quá đáng, tất phải khuyên răn cho đúng." Hướng Mẫn Trung nói: "Bệ hạ yêu kính thân hiền, nếu có chỗ hơi không phải, tất dùng lễ mà ước thúc, thật là ý sâu dần dần mài giũa." Vương Đán nói: "Nghe nói Vương ít khi gặp gỡ khách thuộc." Hoàng đế nói: "Trẫm khi còn ở Đông cung, từng thân mật tiếp đãi các quan trong cung, Dương Lệ, Hình Bỉnh ngày đêm giảng đọc, nay phải răn nhắc ông ta vậy."
Tháng 2, ngày Mậu Thìn, Hoàng đế ngự lầu Càn Nguyên xem cuộc vui uống rượu, kéo dài 5 ngày.
Ngày Ất Hợi, Thái châu tâu rằng ở cỏ vùng Hải Lăng sinh ra "thánh mễ", có thể cứu đói.
Ngày Nhâm Ngọ, nước Liêu sai Cao Chính, Phó Khu mật sứ Bắc viện, đi xem xét các ngục ở các đạo.
Khi các bộ Chuẩn Bố làm phản, Tiêu Thác Vân chỉ có thể đóng quân tự thủ, Da Luật Hoa Cách, Khu mật sứ Bắc viện, đem quân cứu, Thác Vân sai người chiêu dụ, các bộ đều hàng. Liêu chúa cho rằng Thác Vân lúc đầu tuy tính sai, nhưng sau được lòng người, nên tha tội, vẫn lệnh lãnh các bộ. Thác Vân xin thêm quân, Liêu chúa ra chiếu quở trách rằng: "Kẻ phản đã phục, quân cần gì thêm! Trận chiến hôm trước, chết bị thương rất nhiều, nếu theo mưu của ngươi, thì họa biên giới đến bao giờ mới dứt!" Bèn không phát binh. Tháng 3, ngày Nhâm Thìn mồng 1, Hoa Cách vì đường Tây Bắc đã gần yên, để quân lại trấn thủ Trấn châu, còn mình đến hành tại.
Lư Hoản, Chuyển vận sứ Hà Bắc, Hữu Gián nghị đại phu, mắc bệnh. Hoản siêng năng việc quan, đến đâu cũng nổi tiếng giỏi tổ chức, Hoàng đế ra chiếu sai Trung sứ mang Thái y đến xem bệnh. Đến khi ông mất, Hoàng đế rất thương tiếc. Lúc ấy mẹ Hoản hơn 80 tuổi, vẫn mạnh khỏe, có chiếu cho con trai Hoản là Lư Sĩ Tông, Thái thường bác sĩ, đặc cách rút lại mệnh lệnh cũ, cho làm Tri Hoài châu; con thứ là Lư Sĩ Luân, Thư ký thừa, làm Thái thường bác sĩ, cho hưởng bổng lộc đến hết tang.
Ngày Kỷ Hợi, Cáp môn tâu rằng trong cuộc yến ngắm hoa ở Hậu uyển, quần thần có người lễ nghi lơi lỏng, Hoàng đế nói: "Cho họ uống rượu mà lại đòi họ giữ đủ lễ, đó là điều khó với người ta. Nên dùng chiếu hạ để răn bảo."
Ra chiếu: tuần tra trong kinh thành nên kiêm dùng quân bộ và quân kỵ. Lúc ấy có 2 lính tuần, nhân tiết Hàn thực, đem quân trang đi cầm cố đánh bạc, thua không chuộc được, bèn mưu nhân lúc canh 5 chưa hết, rình đánh người đi đường trên bãi, vứt xác xuống sông, lấy y phục đem đổi để chuộc đồ đã cầm. Hoàng đế nói: "Đời Thái Tông, tuần cảnh kiêm dùng bộ binh và kỵ binh, vì doanh ngũ khác nhau, có thể giám sát lẫn nhau." Bèn phục lại chế độ ấy.
Lưu Tông, Quyền Tri Khai Phong phủ, tâu: "Kẻ quyền quý có giao kết với phú dân, thay họ cầu xin, hoặc mượn danh thân thuộc, tâu xin ban tước chức, nhân đó ra vào gặp gỡ quan lại, làm rối loạn chính sự, xin nghiêm cấm." Ngày Canh Tuất, ban chiếu răn rắp, lệnh mỗi người tự đổi mới, từ nay về sau nếu lại như thế, sẽ xử tội nặng.
Ra chiếu: "Phú dân được thử làm quan hàm, không được gặp gỡ quan thuộc châu, huyện và sứ thần; nếu từng dự khoa cử hoặc thuộc dòng dõi sĩ đại phu, thì không thuộc hạn chế này."
Ngày Giáp Dần, Hồ Tắc, Đề điểm bạc, đồng, chì, thiếc lộ Giang Nam, tâu rằng ở huyện Khai Phóng, Tín châu, mở hầm mỏ, binh lính chết bị thương rất nhiều, Hoàng đế ra chiếu sai sứ đàn hặc tội Chuyển vận ty vì quy hoạch sai trái, và Đề điểm hình ngục ty vì không lập tức tâu báo, cho phu dịch được nghỉ ngơi.
Ở Giám đúc tiền phát hiện viên lại giấu đồng mấy vạn cân, viên lại sợ sắp chết, Hồ Tắc nói: "Mã Phục Ba thương xót trọng tù mà tha cho, ta há lại vì trọng của cải mà khinh mạng sống của mấy người!" Bèn kê số đồng ấy làm thặng dư, tha không giết.
Ngày Kỷ Mão, quân Kiến An đúc xong tượng tôn thờ Ngọc Hoàng, Thánh Tổ, Thái Tổ, Thái Tông, lấy Đinh Vị làm sứ nghênh phụng, Lý Tông Ngạc làm phó.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Thìn, lấy Lý Sĩ Hành, Khu mật Trực học sĩ, làm Chuyển vận sứ Hà Bắc. Hoàng đế từng bảo cận thần: "Có người nói Sĩ Hành dùng 50 vạn quan tiền Hà Bắc để giúp việc Đông phong, khiến trong hạt thiếu thốn." Đinh Vị nói: "Sĩ Hành dâng tiền mặt cho Đông phong chỉ hơn 10 phương, tính cả củi rơm mới đến 50 vạn." Hoàng đế nói: "Quan lại khó khăn trong việc tính toán, liền lấy đó làm cớ, nên lại giao cho Sĩ Hành, buộc ông ta gom việc cho xong, để chặn miệng nhiều người." Vì thế có mệnh này. Về sau tích trữ thóc ở vùng biên đến hàng chục vạn hộc.
Ngày Nhâm Ngọ, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Tháng 5, ngày Tân Mão mồng 1, Liêu chúa lại lệnh Bắc viện Khu mật sứ Da Luật Hoa Cách đi đánh phía Tây. Hoa Cách vừa từ Chuẩn Bố trở về, Liêu chúa định bãi binh, Đô giám Da Luật Thế Lương dâng thư nói: "Hoa Cách cho rằng không có việc nên trở về, không nghĩ rằng quân đã mệt, lương đã thiếu, địch đã đi, sao có thể giữ lâu? Nếu thêm quân, ắt có thể thắng." Liêu chúa cho là phải, nên có mệnh này.
Ngày Tân Sửu, gác Ngự thư mới tu sửa ở Quốc tử giám có ánh sáng đỏ bốc lên chiếu sáng, dài hơn 1 trượng, bèn do Cao Thân và những người ở Sử quán tâu lên.
Ngày Giáp Thìn, tượng Thánh đến nơi, Hoàng đế trai giới ở điện Trường Xuân, bách quan trai giới ngủ lại ở triều đường. Ngày Ất Tỵ, Hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện triều bái, quần thần mặc triều phục, bày ngọc tệ, sách văn, rót rượu cúng, bày đủ nghi trượng đại giá, rước đến Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, chọn ngày lần lượt đưa lên các chính điện. Ngày Bính Ngọ, quần thần dâng lời chúc mừng. Thăng quân Kiến An làm Chân châu, chỗ đúc khuôn tượng Thánh đặc biệt dựng làm Nghi Chân quán.
Ngày Kỷ Mùi, Lý Tông Ngạc, Hàn lâm học sĩ, Hữu Gián nghị đại phu, Tri chế cáo, qua đời. Hoàng đế rất thương tiếc, bảo Tể tướng: "Trong các con nhà tướng của bản triều, có thể tự lập danh tiếng, không làm suy kém môn hộ, chỉ có nhà Lý Phưởng và nhà Tào Bân mà thôi." Nhân đó hậu cấp tiền phúng điếu. Tông Ngạc phong lưu nho nhã, đức hạnh trong nhà thuần hậu đến cùng cực, thờ mẹ kế lấy hiếu tiếng. Hai anh mất sớm, ông phụng dưỡng chị dâu, nuôi dạy cháu côi, trong cửa nhà, con cái không có cha cố định, ân huệ ban đến, tất ưu tiên cho anh em con chú bác, đến khi ông mất mà con ruột còn có người chưa được làm quan. Ông ưa người hiền, khuyến khích điều thiện, tiến cử kẻ hàn sĩ, dư luận sĩ phu đều quy về ông.
Da Luật Tư Trung nước Liêu, em của Quốc Lưu, học rộng, giỏi văn chương. Quốc Lưu bị Thái hậu giết, Tư Trung 40 tuổi vẫn chưa được làm quan. Liêu chúa biết, triệu vào sung túc vệ, thường hỏi ông về trị loạn xưa nay, Tư Trung đối đáp không giấu giếm, được thăng đến Trung thừa, được sủng đãi ngày càng sâu. Lúc ấy Cao Ly cống hiến không đúng kỳ hạn, đến tháng 6, ngày Tân Dậu mồng 1, Liêu chúa sai Tư Trung sang sứ Cao Ly, đòi lại 6 châu đất cũ, đến khi về, Cao Ly không có ý trả đất, vì thế ông bị quyền quý gièm pha.
Ngày Giáp Tý, Giám sát ngự sử Trương Khoát dâng tấu: "Đất hoang trong thiên hạ rất nhiều, xin theo điều tâu của Vũ Văn Dung đời Đường, sai quan đi kiểm kê ruộng đất." Hoàng đế nói: "Việc này chưa thể vội làm. Nhưng nay thuế khóa trong thiên hạ không đều, kẻ giàu thì đất rộng mà tô nhẹ, kẻ nghèo thì đất hẹp mà tô nặng, do đó người giàu càng giàu, người nghèo càng nghèo, đó là tệ lớn." Vương Đán và những người khác nói: "Thuế ruộng không đều, quả như thánh chỉ. Nhưng phép sửa đổi cũng phải dần dần dẫn dắt. Hoặc lệnh một vị cận thần chuyên trách, giao cho ông ta chọn người, bảo họ từ một châu một huyện mà quy định từng điều, thì dân không bị quấy nhiễu mà việc tất thành."
Dương Ức, Hàn lâm học sĩ, Lang trung Bộ Hộ, Tri chế cáo, từng thảo thư trả lời người Liêu, viết "láng giềng cùng cõi (lân nhượng giao hoan)", Hoàng đế tự ghi bên cạnh, viết các chữ "thối thổ", "thử thổ", "phẩn thổ" v.v., Ức vội sửa thành "lân cảnh". Hôm sau, Hoàng đế dẫn chuyện đời Đường, nói học sĩ thảo chế mà bị sửa đổi thì là không xứng chức, liền xin bãi chức, Hoàng đế an ủi khuyên giải. Hôm khác, bảo các Phụ thần: "Dương Ức thật có tính khí, không chịu thương lượng." Đến khi bàn việc sách phong Hoàng hậu, Hoàng đế muốn Dương Ức thảo chế, sai Đinh Vị truyền ý, Ức khó xử. Đinh Vị nói: "Cố gắng làm việc này, không lo không phú quý." Ức nói: "Phú quý như thế, cũng không phải điều tôi mong." Bèn lệnh học sĩ khác thảo chế.
Dù Ức nhiều lần trái ý chỉ, ân lễ vẫn không giảm. Bọn Vương Khâm Nhược, Trần Bành Niên rất ganh ghét ông, lại thêm gièm pha, ý Hoàng đế dần nguội. Ức từng vào trực, bỗng được triệu vào cấm trung, ban ngồi hỏi han, đem mấy hòm bản thảo văn chương ra cho Ức xem, nói: "Khanh nhận ra bút tích của trẫm chăng? Đây đều là trẫm tự thảo, chưa từng sai thần hạ làm thay." Ức hoảng sợ không biết đáp thế nào, dập đầu 2 lần rồi vội lui ra, biết lời gièm đã được nghe theo, liền mưu tính lui ẩn.
Ức có biệt thự ở Dương Trịch, mẹ Ức đến xem, gặp lúc lâm bệnh, Ức bèn ở lại, để tờ xin nghỉ và bảng báo với Khổng mục lại, nửa đêm bỏ đi. Trước đó 1 ngày, Hoàng đế nghe tin mẹ Ức bệnh, sai sứ mang thuốc thang, vàng lụa đến ban, sứ đến cửa thì Ức đã đi mất. Bàn luận trong triều xôn xao, cho là không được. Hoàng đế cũng bảo Phụ thần Vương Đán: "Ức là quan thị tòng, sao lại tự tiện như thế!" Vương Đán nói: "Ức vốn là hàn sĩ, Tiên đế thưởng văn học của ông, đặt vào các điện các, Bệ hạ lại cất nhắc đến địa vị nay. Nếu xét theo công luận, thật là có tội; nhờ Bệ hạ khoan dung, nếu không, ông ta đã vấp ngã từ lâu. Nhưng chức gần vua không thể ở ngoài kinh, nay nên bãi." Hoàng đế rốt cuộc vẫn yêu tài ông, hơn 1 tháng, lệnh chưa ban xuống. Ức vốn thân thể yếu, bèn lấy cớ bệnh, xin bỏ chức. Ngày Tân Mùi, lấy Ức làm Thiếu khanh Thái thường, phân ty ở Tây Kinh, vẫn cho phép ở chỗ mình dưỡng bệnh, đợi khi khá hơn sẽ đến nhậm chức.
Trung thư, Môn hạ xin theo điều Tông chính tự tâu, đem tên họ 3 đời cha mẹ của Hoàng hậu ghi vào hoàng thuộc tịch, chiếu cho theo.
Nhân ngày Tiên Thiên Giáng Thánh tiết, lệnh thiên hạ dùng đai Diên thọ, sợi Tục mệnh, rượu Bảo sinh tặng nhau.
Lấy Hữu Gián nghị đại phu Trần Bành Niên làm Hàn lâm học sĩ kiêm Long Đồ các học sĩ. Học sĩ kiêm chức, bắt đầu từ Bành Niên.
Ngày Giáp Tuất, Hoàng đế làm bài ca ban cho Bành Niên, nhân bảo Hướng Mẫn Trung và những người khác: "Bành Niên văn bút ưu tú, được cất nhắc đến chỗ thanh gần, càng lâu càng cẩn mật. Thường lệnh ông ta khảo cứu điển cố, đối chiếu văn nghĩa, mỗi việc tất ghi đủ xuất xứ trong Kinh, Sử, Tử, Tập, đầy đủ rồi mới thôi, nếu không phải là người nhớ dai, sao làm được như thế!" Hướng Mẫn Trung nói: "Bành Niên lại có khí độ, kiến thức." Đinh Vị nói: "Bành Niên là toàn tài, há chỉ dùng văn nhã ung dung để làm thị tòng! Như việc tham xét thời vụ, tìm hiểu kỹ lẽ vật, đều vượt ngoài ý người." Hoàng đế rất tán thành.