Nhân Tông Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng đế
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Dần mồng 1, xuống chiếu đổi niên hiệu. Hoàng đế đọc chiếu, gào khóc rất lâu, nói với tả hữu rằng: "Trẫm không nỡ vội vàng thay đổi niên hiệu của Tiên đế."
Liêu chúa đi tuần đến Nạp Thủy, Lấy Da Luật Tàng Dẫn làm Bình chương sự.
Ngày Canh Ngọ, nước Liêu lần đầu sai sứ sang chúc mừng tiết Trường Ninh.
Từ khi niên hiệu Kiến Long trở về sau, các vùng Ngô, Thục, Giang Nam, Kinh Hồ, Nam Việt đều xưng là giàu mạnh, lần lượt quy thuận. Thái Tổ, Thái Tông nhân chỗ tích trữ của họ, dùng đức khiêm cung, tiết kiệm, giản dị mà giữ nước. Đương lúc ấy, dân số trong thiên hạ hãy còn ít, việc nuôi quân chưa nhiều, ngạch số quan lại chưa rườm rà, đạo Phật đạo Lão chưa thịnh, trăm họ ai nấy yên ổn với cuộc sống, không làm điều xảo trá, phóng túng xa xỉ, cho nên trên dưới đều đủ dùng, kho tàng phủ khố dư dật tràn đầy. Đến khi thái bình đã lâu, hộ khẩu mỗi năm một tăng, sổ quân càng rộng, số quan lại cũng đông, Phật, Lão và vùng ngoài ải hao tổn tiền của, đục khoét Trung Quốc, chi phí của quan lại trong ngoài gấp mấy lần trước, trăm họ cũng hơi buông mình vào xa xỉ, từ đó trên dưới bắt đầu khốn đốn vì tiền của. Quyền Tam ty sứ Lý Tư từng nói
Phán quan Diêm thiết, người Việt châu là Du Hiến Khanh cũng nói: "Thóc lụa trong thiên hạ mỗi ngày một hao, vật giá mỗi ngày một cao. Người ta đều nói: lúa chưa cấy đã bị ép bán cho quan, lá dâu chưa nảy đã bị ép bán cho quan. Từ vùng Kinh Hồ, Giang, Hoài trở xuống, dân oán sầu không nơi nương tựa. Chuyển vận sứ chăm chăm bóc lột để tăng số thu, năm sau hơn năm trước. Lại thêm các khoản điều phái, xây dựng trái thời, mọi chi phí đều lấy ở dân, vì thế vật giá càng cao, sức dân tích tụ mà khốn khổ. Từ niên hiệu Thiên Hy trở lại đây, mỗi ngày một xa xỉ, lại còn hơn trước. Chén không đầy là vì rò rỉ ở dưới, cây không tốt là vì mọt ở trong. Bệ hạ nên cùng công khanh đại thần sớm tối bàn bạc để cứu vãn, sửa cho đúng." Hoàng đế nghe theo lời họ. Ngày Quý Mùi, lệnh Ngự sử trung thừa Lưu Quân, Đề cử chư ty khố vụ Tiết Di Khoách cùng Tam ty bàn bạc cắt giảm các khoản chi phí rườm rà.
Xuống chiếu lệnh Trung thư, Khu mật viện cùng bàn việc ngăn sông vỡ ở Hoạt châu.
Trước đó, chế độ về trà, chỉ ở Xuyên, Hiệp, Quảng Nam cho dân tự mua bán, nhưng cấm đem ra khỏi cương vực, còn lại đều do nhà nước độc quyền, kẻ phạm thì có hình phạt. Ở Hoài Nam thì tại 6 châu Kì, Hoàng, Lư, Thư, Thọ, Quang, quan tự lập trường, đặt sứ để tổng quản, gọi là 13 "sơn trường", dân hái trà ở 6 châu đều thuộc vào đó, gọi là "viên hộ". Hằng năm định mức làm trà, nộp thuế, phần dư thì quan đều mua hết. Người bán trà cho quan đều nhận tiền trước rồi mới nộp trà, gọi là "bản tiền". Lại nữa, trăm họ mỗi năm nộp thuế, ai muốn nộp bằng trà thì gọi là "trà chiết thuế". Cộng lại, hằng năm thu được hơn 865 vạn cân, việc xuất bán đều tại bản trường.
Ở Giang Nam thì 10 châu Tuyên, Việt, Giang, Trì, Nhiêu, Tín, Hồng, Phủ, Quân, Viên, cùng 5 quân Quảng Đức, Hưng Quốc, Lâm Giang, Kiến Xương, Nam Khang; ở Lưỡng Chiết thì 12 châu Hàng, Tô, Minh, Việt, Vụ, Sở, Ôn, Đài, Hồ, Thường, Cù, Mục; ở Kinh Hồ thì Giang Lăng phủ, 7 châu Đàm, Đỉnh, Lễ, Ngạc, Nhạc, Quy, Hiệp cùng Kinh Môn quân; ở Phúc Kiến thì 2 châu Kiến, Kiếm. Hằng năm cũng như sơn trường, nộp thuế bằng trà, phần dư thì quan đều mua hết mà thu vào. Cộng thành số thu hằng năm: Giang Nam hơn 1027 vạn cân, Lưỡng Chiết hơn 127 vạn 9.000 cân, Kinh Hồ hơn 247 vạn cân, Phúc Kiến hơn 39 vạn 3000 cân. Tất cả đều chuyển đến các nơi trọng yếu về vận chuyển: Giang Lăng phủ, Chân châu, Hải châu, Hán Dương quân, Vô Vi quân, Kì châu chi Kì Khẩu, làm 6 ty chuyên trách độc quyền hàng hóa. Phàm dân muốn có trà, đều phải mua của quan; thứ dùng cho sinh hoạt hằng ngày gọi là "thực trà", nếu đem ra khỏi cương vực thì phải cấp phiếu. Thương nhân muốn buôn bán, thì đem tiền hoặc vàng lụa nộp cho ti độc quyền hàng hóa ở Kinh sư, để "bắn" (đấu giá) trà của 6 ti, 13 trường, cấp phiếu, tùy theo số trúng mà giao trà, gọi là "giao dẫn". Ai muốn ở ngay vùng Đông Nam nộp tiền hoặc vàng lụa thì cho phép tính giá mà cấp trà như ở Kinh sư. Phàm trà nhập vào quan thì định giá thấp, khi xuất ra thì định giá cao, lợi của quan rất lớn; mà thương nhân chở lên tây bắc, rồi tản ra ngoài ải, lợi lại càng dày. Quan bán trà, số tiền thu hằng năm tuy có tăng giảm, nhưng đến niên hiệu Cảnh Đức thì được hơn 360 vạn quan, đó là lúc lợi nhiều nhất. Nhưng từ khi quân trú đóng ở tây bắc ngày càng nhiều, lương bổng không đủ, bèn chiêu mộ thương nhân đem cỏ khô, thóc gạo vào cung ứng, căn cứ đường xa gần mà tăng giá ước tính, cấp phiếu, dùng trà trả lại. Sau lại thêm cả tiền ở Đông Nam, hương dược, ngà voi, gọi là "tam thuyết". Mà vùng ngoài ải gấp về lương thực quân đội, muốn mở rộng tích trữ, không nhận giá ước tính, người vào cung ứng dùng tiền ước mà được lợi thực, ai nấy tranh nhau. Đến khi nam bắc hòa hiếu, binh đao dừng, kho biên giới tạm đủ, vật giá hơi giảm, mà tiền ước trong giao dẫn vẫn chưa đổi, thì phép ấy đã hỏng, giá ước ngày càng cao, trà ngày càng rẻ, tiền thực, vàng lụa đem vào ngày càng ít, mà người vào cung ứng không phải đều là thương nhân đi đường dài, phần nhiều là dân bản xứ, đã không biết lợi lỗ của trà, lại gấp muốn bán tiền, được phiếu thì lại bán cho thương nhân trà, hoặc cho bọn ngồi buôn ở Kinh sư gọi là "giao dẫn phô", lợi thu chẳng được bao nhiêu. Thương nhân trà và giao dẫn phô hoặc dùng phiếu lấy trà, hoặc thu gom để buôn bán, nhằm trúng lợi dày, do đó lợi của giá ước đều vào tay hào thương đại cố, phiếu ứ đọng, dù hai ba năm trà cũng không đủ trả, mà người vào cung ứng vì lợi mỏng nên không đến, phòng bị biên giới ngày càng thu hẹp, phép trà hỏng nặng. Đến niên hiệu Cảnh Đức, Đinh Vị làm Tam ty sứ, từng tính toán được mất, cho rằng lương mua ở biên chỉ được 50 vạn, mà hơn 360 vạn phiếu trà ở Đông Nam đều vào tay thương nhân, lúc ấy người ta cho là lời bàn chí lý. Về sau tuy nhiều lần thay đổi để cứu vãn, nhưng không thể không có tệ. Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu đặt Kế trí ty, giao cho Khu mật phó sứ Trương Sĩ Tuấn, Tham tri chính sự Lữ Di Giản, Lỗ Tông Đạo tổng quản.
Ngày Canh Dần, Kế trí ty khảo xét lợi hại của phép trà, tâu rằng: "13 trường trà, số tiền thu hằng năm là 50 vạn quan. Đến năm Thiên Hy thứ 5, chỉ còn hơn 23 vạn quan. Mỗi phiếu trị giá 10 vạn tiền, khi bán chỉ được 5 vạn rưỡi, cộng lại thành số tiền thực là 13 vạn quan, trừ hơn 9 vạn quan làm bản tiền, thì mỗi năm chỉ được tiền lãi hơn 3 vạn quan, mà bổng lộc của quan lại không tính vào đó. Như vậy, số hư tuy nhiều, lợi thực lại rất ít." Nhân đó xin bãi "tam thuyết", thi hành phép "thiếp xạ". Phép ấy là: lấy vốn và lãi của việc mua bán trà ở 13 trường, tính gộp lại, bãi việc quan cấp bản tiền, để thương nhân và viên hộ tự giao dịch với nhau, nhất loạt định giá trung bình, còn quan chỉ thu tiền lãi. Như bán trà trường La Nguyên ở Thư châu, mỗi cân bán 56 tiền, vốn là 25, quan không cấp nữa, chỉ khiến thương nhân nộp 31 tiền lãi mà thôi. Nhưng nhất thiết phải khiêng trà nhập kho quan, tùy theo thương nhân chỉ định mà giao, cấp phiếu làm bằng, để phòng việc bán lậu, nên gọi là "thiếp xạ". Nếu số trà hằng năm dùng để thiếp xạ không hết, thì quan mua như cũ. Viên hộ quá hạn mà nộp không đủ, thì tính số còn thiếu, như thương nhân nộp lãi. Trước đây, nộp 100 cân trà, phải thêm 20 đến 35 cân, gọi là "hao trà", nay cũng đều bãi bỏ. Ai đem tiền để "bắn" trà ở 6 ti thì vẫn theo chế cũ. Đại lược là khiến trà và lương mua ở biên giới đều dùng tiền thực xuất nhập, không được làm nhẹ nặng lẫn nhau, để dứt tệ nạn giá ước hư. Chiếu theo đó mà làm.
Ngày Canh Tý, phát quân tăng xây thành Kinh đô.
Tháng 2, ngày Bính Thân, đúc tiền "Thiên Thánh Nguyên Bảo".
Trước đây, sau khi Thiên thư giáng xuống vào những năm Đại Trung Tường Phù, lập các tiết Thiên Khánh, Thiên Kì, Thiên Huống, Tiên Thiên Giáng Thánh, cùng tiết sinh nhật, bản mệnh, Tam nguyên của Chân Tông, dùng pháp Đạo gia, trong ngoài đều lập trai giới, tế lễ, trong ngoài Kinh thành, một đêm có mấy nơi cúng tế. Hoàng đế lên ngôi, đến tiết sinh nhật của Thái hậu cũng làm như thế, hao phí rất nhiều. Đến đây có người dâng lời, Tể tướng Phùng Chửng nhân đó tâu rằng thiên hạ lâu ngày yên ổn, chi dùng nên có tiết độ. Hoàng đế và Thái hậu nói: "Đó là ý của Tiên đế." Liền xuống chiếu lệnh Lễ nghi viện định lại. Lễ nghi viện xin đối với tiết sinh nhật, bản mệnh của Hoàng đế và Thái hậu thì theo như cũ, còn các tiết khác thì lệnh 8 cung quán thay phiên cúng tế. Trước đây mỗi năm tế 49 đàn, xin giảm còn 20; đại tế 2.400 phần, xin giảm còn 500, quan dự trai giới chỉ cấp nước nóng và trà. Chiếu cho tăng số phần tế lên 1.200, còn lại đều theo lời xin.
Nước Liêu lấy Đinh Chấn làm Tiết độ sứ Vũ Tín quân, tiến phong làm Lan Lăng quận vương.
Khi Tiêu Ba Nhã Nhĩ bại trận ở Cao Ly, Liêu chúa sai người trách mắng rằng: "Nhà ngươi khinh địch, tiến sâu, đến nỗi đại bại, còn mặt mũi nào đến gặp nữa! Trẫm sẽ lột da mặt rồi mới giết." Đến khi ông ta trở về, chỉ bị tội cách chức. Đến đây, Liêu chúa nhớ công ông ta khi nam phạt, lại cho làm Đô chiêu thảo Tây Nam diện, tiến phong Bân vương.
Tháng 3, ngày Kỷ Tị, Lễ nghi viện lại xin bãi việc ban yến khắp thiên hạ trong 5 tiết Thiên Khánh. Chiếu rằng: các châu phủ mới định đặt đàn cúng tế thì ban yến như cũ, còn lại đều bãi. Giảm số quân Thanh vệ ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, Cảnh Linh cung, Hội Linh quán, Tường Nguyên quán để phân phối cho các quân khác, việc công dịch giao cho Bát tác ty; Cảnh Linh cung, Thái Cực quán ở Côn châu cũng theo đó.
Ngày Tân Mão, bắt đầu thi hành phép "thiếp xạ trà" ở 13 sơn trường Hoài Nam.
Ty Tư thiên dâng lịch mới, ban tên là "Sùng Thiên", do bọn Bảo chương chính Trương Khuê, Linh đài lang Sở Diễn soạn.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Kỷ Hợi, lấy Lang trung bộ Lại, Long Đồ các đãi chế Tiết Khuê quyền Tri Khai Phong phủ. Khuê làm chính sự nghiêm mà nhanh nhẹn, xử đoán không dung tha, người ta đều sợ, gọi là "Tiết xuất du" (Tiết vắt dầu). Lời ấy truyền đến trên, Hoàng đế hỏi Khuê, ông tạ rằng: "Thần biết đánh kẻ gian, sao tránh được tiếng ấy!" Hoàng đế càng thêm kính trọng.
Ngày Tân Sửu, Trung thư tâu: "Các Chuyển vận sứ, phó sứ các đạo, các Đô bộ thự, Kiềm hạt, Đô giám ở Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, khi vâng mệnh đi sứ nước Khiết Đan, xin đều cho phép được vào điện tâu việc." Chiếu theo lời ấy.
Trước đây chỉ lệnh các đại thần hai phủ dâng sớ phụ tấu. Thái thường thừa, người Tường Phù là Đinh Độ nói: "Thần hạ ra ngoài, tất có điều muốn tâu, nay nhất loạt bắt phải phụ tấu, không phải là cách để phòng việc bưng bít." Vì thế Trung thư đem việc ấy tâu, rốt cuộc được chuẩn cho. Lúc Hoàng đế mới lên ngôi, Độ dâng thư luận 6 việc, lại từng dâng bài "Vương Phụng luận" lên Hoàng thái hậu, để răn bọn ngoại thích.
Bãi Lễ nghi viện, theo lời xin của bọn Khu mật phó sứ Trương Sĩ Tuấn, Thái thường lễ viện là nơi phát xuất các điển lễ, đến niên hiệu Đại Trung Tường Phù lại đặt thêm Lễ nghi viện, do phụ thần lĩnh việc ấy, đến nay mới bãi.
Ngày Đinh Tị, chiếu: "Từ Hàn lâm học sĩ đến Tam ty phó sứ, Tri Tạp Ngự sử, mỗi người tiến cử người có thể đảm nhiệm chức Gián quan, Ngự sử, dâng tên lên." Trước đó, người dâng thư vào Hộ phong xin khôi phục đặt 3 đến 5 viên Gián quan, Ngự sử. Bởi vì buổi đầu nhà Tống, Tả hữu gián nghị đại phu, Tư gián, Chính ngôn phần nhiều không chuyên trách việc can gián, còn Ngự sử hoặc kiêm lãnh ty khác. Đầu niên hiệu Thiên Hy, chiếu lệnh hai tỉnh đặt Gián quan, Ngự sử đài đặt từ Thị ngự sử trở xuống mỗi ban 6 viên, không kiêm chức vụ khác, mỗi tháng phải có 1 người vào tâu việc; về sau khuyết thì không bổ, nên người ta mới nhắc đến.
Khâm châu ở sâu trong núi khe, người dân khổ vì lam chướng. Thôi quan người Kiến An là Từ Địch xin dời châu đến gần sông. Chuyển vận sứ tâu lên, lại lưu Địch thêm một nhiệm kỳ để lo việc xây dựng. Ngày Tân Dậu, chiếu theo lời xin. Địch mặc áo ngắn, cầm gậy, cùng lao khổ với phu dịch, xây thành quách, dựng lầu gác, vạch đất chia chỗ ở cho quân dân, sửa phủ nha, kho tàng, mương rãnh, phố chợ, dân đều được tiện lợi.
Tháng 5, ngày Giáp Tý, thi hành phép dùng tiền hiện để nhận cỏ khô, lương thực ở Thiểm Tây, Hà Bắc.
Ngày Canh Dần, bàn định nghi vệ của Hoàng thái hậu, chế cho bằng với ngự giá.
Tháng này, Liêu chúa đến Miễn Sơn để tránh nóng; chẳng bao lâu, ban tên Miễn Sơn là Vĩnh An.
Tháng 6, ngày Mậu Thân, Hà Nam phủ tâu rằng lăng Vĩnh Định chiếm 18 khoảnh ruộng dân, tính giá là 70 vạn tiền. Hoàng đế nói: "Xây dựng lăng tẩm phụng thờ Tiên đế mà trả giá ruộng dân, há có thể câu nệ theo phép thường sao?" Đặc biệt cấp 100 vạn tiền.
Ngày Ất Mão, cấm phá tiền để đúc chuông.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Dần, nước Liêu lấy Nam phủ Tể tướng Da Luật Ha Ngạ làm Lưu thủ Thượng Kinh, phong là Thất Thủy quận vương.
Ngày Nhâm Ngọ, tha bỏ các khoản nợ đọng trong thiên hạ, lấy đó làm ân xá khi lên ngôi. Từ đây, nhân mỗi lần đại xá đều xóa nợ, thành lệ.
Ngày Bính Tuất, nước Liêu lấy ngày sinh của Hoàng hậu làm tiết Thuận Thiên.
Ban đầu, Hoàng hậu được Duệ Trí Thái hậu rất yêu quý. Sau khi Thái hậu mất, Liêu chúa càng thêm ân lễ, lập Ty Cung vi, bổ quan thuộc, cho phép ban hành giáo lệnh. Nguyên phi thấy thế ghen ghét càng sâu. Trước đó, Liêu chúa nam phạt, bắt được một đứa trẻ ở Thâm châu là Triệu An Nhân, bắt làm hoạn quan, dần dần làm đến Nội thị tỉnh áp ban. Nguyên phi bí mật sai ông ta dò xét chỗ hay dở của Hoàng hậu, mọi động tĩnh trong hậu cung, Nguyên phi không gì không biết. Lâu ngày, không được gì. Hoàng hậu giỏi đàn tỳ bà, bèn vu cho Hoàng hậu tư thông với hai người đánh tỳ bà là Yến Văn Pha, Lý Văn Phúc, Liêu chúa không tin. Lại làm quốc thư ném vào trong trướng của Liêu chúa, Liêu chúa bắt được, nói: "Đây tất là Nguyên phi làm." Rồi sai đốt đi. An Nhân thấy lời gièm không được dùng, mà quyền thế của Hoàng hậu đang thịnh, sợ vạ lây, mưu trốn về nước Tống. Việc lộ ra, Hoàng hậu muốn giết ông ta, Nguyên phi lo liệu cầu xin Liêu chúa, nói: "Cha mẹ, anh em của An Nhân đều ở Nam triều, mỗi khi nghĩ đến, thần hồn rã rời. Nay vì nhớ cha mẹ mà trốn, cũng là lòng của người con hiếu, thật đáng thương xót." Liêu chúa tha cho.
Tháng 8, ngày Ất Tị, lấy Thái thường bác sĩ, người Kiến An là Tào Tu Cổ làm Giám sát ngự sử, Khổng Diên Lỗ, Lưu Tùy đều làm Tả chính ngôn. Diên Lỗ từng làm Quân sự thôi quan ở Ninh châu, nhiều lần tranh việc với châu tướng. Có con rắn xuất hiện trong điện Chân Vũ ở Thiên Khánh quán, châu tướng dẫn quan thuộc đến cúng tế, muốn tâu việc ấy lên. Diên Lỗ liền bước tới dùng hốt đánh rắn, nát đầu, người xem đều kinh sợ, sau đó không ai không than phục. Ông được thăng làm Thừa Tự khanh Đại lý tự, Tri Tiên Nguyên huyện, chủ việc tế tự họ Khổng. Họ Khổng vốn nhiều người phóng túng, Diên Lỗ dùng pháp luật ràng buộc. Ông tâu rằng miếu thờ chế tác thấp kém, xin cho tu sửa tôn nghiêm, được chuẩn. Về sau Diên Lỗ đổi tên là Đạo Phụ.
Ngày Giáp Dần, có nấm linh chi mọc trên cột điện Thiên An, triệu các phụ thần đến xem, rồi dâng biểu chúc mừng. Ngày Ất Mão, chiếu cho quần thần đến xem. Giám sát ngự sử Khai Phong là Cúc Vịnh nói: "Bệ hạ mới lên ngôi, sông vỡ chưa lấp, mưa dầm hại lúa, nên nghĩ cách ứng với tai biến. Thần mong Bệ hạ lấy việc nâng đỡ, tiến dùng trung lương, bãi truất gian nịnh làm quốc bảo, lấy việc dạy dỗ quân nông, làm cho kho tàng phong túc làm điềm lành của trời, còn những điều quái lạ ở cỏ cây, đâu đáng coi trọng!"
Trước đó, Tiền Duy Diễn từ Hà Dương đến Hạo châu, nhân đó vào triều ở Kinh sư, mưu vào làm Tể tướng. Vịnh tâu: "Duy Diễn hiểm độc, từng kết thân với Đinh Vị, nhờ đó mà được trọng dụng; sau đoán biết tội trạng gian tà của Vị đã lộ, sợ bị liên lụy, bèn hết sức công kích Vị. Nay nếu cho làm Tể tướng, tất sẽ rất trái với lòng mong của thiên hạ." Thái hậu sai nội thị đem tờ tấu cho ông ta xem, Duy Diễn vẫn do dự không đi. Vịnh nói với Hữu chính ngôn Lưu Tùy rằng: "Nếu phong Duy Diễn làm Tể tướng, ta sẽ lấy tờ bạch ma mà xé bỏ ngay giữa triều." Duy Diễn nghe được, bèn vội bỏ đi.
Phùng Chửng bị bệnh, Thái hậu có ý lại dùng Vương Khâm Nhược làm Tể tướng. Lúc ấy Khâm Nhược làm Thượng thư bộ Hình, Tri Giang Ninh phủ, Hoàng đế viết chữ "Vương Khâm Nhược" bằng lối phi bạch. Đúng lúc Khâm Nhược có tấu dâng lên, Thái hậu bèn lấy chữ ấy gói trong thang thuốc, sai nội nhân đem ban cho, lại truyền miệng triệu ông ta, các phụ thần đều không hay biết. Ngày Kỷ Mùi, Khâm Nhược đến cửa Quốc Đô, ngày Canh Thân vào chầu. Tháng 9, ngày Bính Dần, Phùng Chửng bị bãi, làm Tiết độ sứ Vũ Thắng quân kiêm Thị trung, phán Hà Nam phủ; Khâm Nhược giữ chức Tư đồ kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự, Chiêu Văn quán Đại học sĩ.
Trước đó, Chửng 5 lần dâng biểu xin bãi chức Tể tướng, bèn sai sứ đến an ủi. Khi về, tâu rằng nhà ông ta giản lược, áo quần rất mộc mạc, Thái hậu ban cho chăn gối, màn gấm. Nhưng Chửng thường ngày tự mình hưởng dụng xa xỉ, chỉ là trong cung không biết đó thôi. Khi làm Tể tướng, khí sắc nghiêm trọng, hoạn quan truyền chiếu đến Trung thư, ông không mời ngồi. Lâm Đặc thường đến nhà Chửng, nhiều ngày không được vào; ông ta nói có việc muốn hỏi, Chửng bảo đến Trung thư, đến nơi lại sai đường quan nói với ông ta rằng: "Việc công, sao không tự tâu với triều đình?" Rốt cuộc không cho gặp.
Vương Khâm Nhược lần thứ hai vào Trung thư, nói rằng bình thời việc thăng tiến của bách quan đều có phép thường, bèn làm "Thiên tự đồ" dâng lên, mong tiện cho việc xem xét, nhưng cũng không thể được dùng quyền lớn như thời Chân Tông nữa. Đồng liêu thường hay bác nghị, Khâm Nhược không chịu nổi, nói: "Khi Vương Tử Minh ở trong phủ chính, không như thế này." Lỗ Tông Đạo nói: "Vương Văn Chính được trọng đức ở triều trước, vốn không phải người khác có thể sánh. Nếu công khi chấp chính mà công bằng, Tông Đạo nào dám không phục!"
Tháng nhuận, ngày Mậu Tuất, Khấu Chuẩn mất ở Lôi châu.
Phùng Chửng bệnh, không thể đến Hà Nam, ngày Kỷ Hợi thì mất. Truy tặng Thái sư, Trung thư lệnh, thụy là Văn Ý.
Ngày Quý Mão, mới hạ lệnh bổ nhiệm Khấu Chuẩn làm Hành châu Tư mã, nhưng Chuẩn đã mất, không kịp biết. Vợ ông ta là Tống thị xin đưa linh cữu về táng ở Tây Kinh, được cho phép. Đường đi qua huyện Công An, Kinh Nam, người ta đều lập tế bên đường, bẻ tre cắm xuống đất, treo giấy tiền mà đốt. Hơn một tháng, tre khô đều mọc măng, mọi người nhân đó lập miếu, gọi là Túc Lâm Khấu công từ.
Chế trí phát vận sứ các lộ Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ là Triệu Hạ ở Phong Khâu tâu rằng bờ đê hồ Thái Hồ ở Tô châu bị hư hại, các chi lưu ven biển bị bồi lấp, nước tràn vào ruộng dân. Liền xuống chiếu cho Hạ cùng Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết là Từ Thích đảm nhiệm việc ấy, đốn đá đắp thêm đê, đào thông nước đọng, từ Ngô Giang chảy về phía đông ra biển; dân lưu tán trở về đăng hộ là 26.000 hộ, mỗi năm thu tô mạ 30 vạn.
Trước đó, Hạ làm Thông phán Hán châu, quan lại đất Thục ưa giở trò luật lệ, mà Hạ tinh minh, quan lại không dám dối, người ta gọi là "Triệu gia quan", ý nói như cửa ải không thể vượt. Sau làm Chế trí phát vận sứ Giang Hoài, các thuyền vận lương thuộc quyền ông, trước đây đều do chủ lại tự phái, nhận hối lộ không công bằng, hoặc nhiều lần đến các quận giàu có, nhân đó buôn bán, kẻ nghèo đến nỗi không kham nổi việc dịch. Hạ bèn kê chép sản vật dồi dào hay ít ỏi của các châu, chia nặng nhẹ làm 3 hạng, căn cứ công quá mà tự định, do đó mánh khóe của quan lại không thi thố được.
Ngày Quý Sửu, chiếu lệnh Ty Thẩm quan: từ nay những người làm Tri châu, quân, Đồng phán, Tri huyện đều được dẫn kiến ở Tiện điện.
Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Dậu mồng 1, dời quân ngựa ở vùng biên Thiểm Tây vào đóng trong nội địa.
Giám sát ngự sử Cúc Vịnh ghét Vương Khâm Nhược a dua dựa dẫm, nhiều lần vạch chỗ xấu của ông ta, Khâm Nhược trong lòng e sợ. Gặp lúc Vịnh kiêm Tả tuần, dẫn Phủ suất An Sùng Tuấn vào triều thất nghi, Vịnh nói Sùng Tuấn từ nhỏ ở biên giới có công lao, việc ấy không đáng tội. Khâm Nhược tâu rằng Vịnh làm hỏng nghi lễ triều đình, giáng làm Thái thường bác sĩ, Đồng phán Tín châu.
Liêu chúa từ mùa thu đi săn ở Xích Sơn, tháng này đóng quân ở Liêu Hà.
Tháng 11, ngày Tân Mão mồng 1, nước Liêu lấy Hoàng điệt Tông Phạm làm Tiết độ sứ Quy Đức quân, Bắc phủ Tể tướng Tiêu Hiếu Mục làm Lưu thủ Nam Kinh, phong Yên vương, Lưu thủ Nam Kinh là Da Luật Chế Tâm làm Nam viện Đại vương, Binh mã Đô tổng quản Cừu Chính làm Chuyển vận sứ Yên Kinh.
Ngày Mậu Tuất, chiếu cấm các đường Giang Nam dùng thầy phù thủy, tà thuật. Trước đó, Tri Hồng châu là Hạ Tốc, lục soát trong hạt được hơn 1.900 hộ thầy phù thủy, bắt buộc họ về làm ruộng, phá bỏ miếu thờ dâm tà, nhân đó tâu xin triều đình ban điều lệ nghiêm khắc, nên mới có chiếu này.
Ban đầu, dân Thục vì tiền sắt nặng, tự làm phiếu, gọi là "giao tử", để tiện buôn bán, 16 nhà giàu cùng chủ trì. Về sau, người giàu dần suy, không thể trả nợ, tranh tụng nổi lên nhiều. Cuối niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Tiết Điền làm Chuyển vận sứ, xin triều đình đặt Ty Giao tử để độc quyền việc xuất nhập, lâu ngày không được trả lời. Khấu Toàn giữ đất Thục, bèn xin bãi giao tử, không dùng nữa. Gặp lúc Toàn rời chức, Điền thay, chiếu lệnh Điền cùng Chuyển vận sứ Trương Nhược Cốc tính toán lợi hại. Điền, Nhược Cốc bàn rằng: "Nếu bãi giao tử không dùng nữa, thì việc đổi chác không tiện, chỉ xin triều đình lập ty để quản, cấm dân tự làm." Ngày Mậu Ngọ, chiếu theo lời xin, bắt đầu đặt Ty Giao tử ở Ích châu, lấy số tiền 1.256.340 làm hạn mức. Toàn là người Lâm Nhữ, Nhược Cốc là người Nam Kiếm.
Thừa Đại lý tự, Tri Bành Sơn huyện Lư Sát xin bổ nhiệm đến Tương châu để quét dọn phần mộ, Hoàng đế cho phép.
Tháng 12, ngày Nhâm Tuất, nước Liêu lấy Hoàng điệt Tông Phạm làm Bình chương sự, phong Tam Hàn quận vương.
Giang châu có Trần Uẩn, dòng họ tụ cư đã 200 năm, miệng ăn 2.000 người, mà Uẩn đã 80 tuổi, lại có hạnh kiểm, châu đem việc tâu lên. Hoàng đế nói: "Lương dân là tiêu biểu của một làng, nêu khen thì người thiện sẽ được khuyến khích." Ngày Giáp Tý, ban cho Uẩn chức Trợ giáo bản châu.
Ngày Đinh Mão, nước Liêu lấy Tiêu Vĩnh làm Thái tử Thái sư.
Ngày Tân Mùi, chiếu lệnh bộ Lại, Lưu nội tuyển các quan Mạc chức làm Tri đại huyện, vì thiếu quan Kinh triều.
Ngày Kỷ Mão, Hoàng tử nước Liêu là Trọng Nguyên được phong Tần quốc vương. Trọng Nguyên là con út của Nguyên phi.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Mão, lệnh Ngự sử trung thừa Lưu Quân cùng 4 người quyền Tri cống cử.
Chiếu tu sửa điện Vạn Thọ ở Cảnh Linh cung để phụng thờ Chân Tông, đề tên là "Phụng Chân"; ngày Canh Thìn, lệnh Vương Khâm Nhược làm Lễ nghi sứ.
Liêu chúa đi đến Áp Tử Hà; tháng 2, ngày Kỷ Mùi mồng 1, đi săn ở Đạt Lỗ Hà, đổi tên Áp Tử Hà thành Hỗn Đồng Giang, Đạt Lỗ Hà thành Trường Xuân Hà.
Tháng 3, ngày Mậu Tý mồng 1, chiếu lệnh bộ Lễ: "Các sĩ tử dự khoa thi, nếu không thể đối sách, thì không được lập tức đánh hỏng." Trước đó, người dâng thư vào Hộ phong nói: "Học kinh mà không hiểu nghĩa kinh, xin trong khoa ấy hỏi một đạo sách." Đến đây, người đối sách phần nhiều sai lầm, Hoàng đế đặc biệt xuống chiếu khoan dung.
Ngày Kỷ Sửu, Đồng đề điểm công việc Khai Phong phủ là Trương Quân Bình, người Trác châu tâu rằng: "Các châu Nam Kinh, Trần, Hứa, Từ, Túc, Hạo, Tào, Đan, Thái, Nhuệ, các đường mương cổ xưa nối liền với vùng Kinh nội, lâu ngày không được tu sửa, nên Kinh sư nhiều lần bị nạn nước, xin giao cho quan đào thông." Chiếu theo lời xin.
Ngày Đinh Dậu, rước ngự dung của Chân Tông an trí ở điện Phụng Chân trong Cảnh Linh cung.
Hoàng thái hậu bảo các Tể thần rằng: "Gần đây chọn Nho thần hầu bên cạnh Quan gia giảng đọc, rất có ích cho việc mở mang." Tể tướng nhân đó nói: Lang trung bộ Công là Mã Tông Nguyên người Đan Phụ, thông kinh, có hạnh kiểm, có thể cho vào hầu Kinh diên. Ngày Tân Sửu, lệnh Tông Nguyên trực Long Đồ các.
Ngày Quý Mão, bọn Vương Khâm Nhược dâng "Thực lục Chân Tông" 150 quyển, xuống chiếu khen ngợi.
Ngày Ất Tị, ngự điện Sùng Chính, ban cho Tiến sĩ là Tống Giao người An Lục, Diệp Thanh Thần người Trường Châu, Trịnh Tiển người Ngô huyện tổng cộng 154 người đỗ cập đệ, 46 người đồng xuất thân. Những người không trúng cách có 6 người, vì từng dự Chân Tông ngự thí, đặc biệt ban cho đồng xuất thân khoa "Tam lễ". Ngày Bính Ngọ, lại ban cho các khoa 196 người đỗ cập đệ, 81 người đồng xuất thân.
Giao cùng em là Kì đều nổi tiếng về từ phú, bộ Lễ tâu xếp Kì thứ 3, Thái hậu không muốn để em trước anh, bèn nâng Giao lên đệ nhất, đặt Kì thứ 10; người ta gọi là "Nhị Tống", phân biệt là Tống lớn, Tống nhỏ. Lưu Quân được bài đối sách của Thanh Thần, lấy làm lạ, nên xếp thứ 2. Từ việc dùng bài sách để chọn đỗ cao, bắt đầu từ Thanh Thần.
Ngày Nhâm Tý, ban cho Hương cống Tiến sĩ Trương Tường, Thái thường tự Thái chúc Lữ Tông Giản đỗ Tiến sĩ cập đệ, lại cho ghi thêm vào bảng xuân. Tường là cháu nội của Tường, con rể của Tể tướng Vương Khâm Nhược; Tông Giản là em của Tham tri chính sự Di Giản.
Mùa hạ, tháng 4, Tri Trì châu Lý Hư Kỷ tâu rằng châu huyện vào đầu xuân ứng trước tiền để mua lụa, gấm, dân có người không muốn, nếu ép buộc thì thành nhiễu loạn. Ngày Tân Dậu, chiếu lệnh Tam ty bảo các châu huyện không được cưỡng ép phân phối, những thứ không phải sản vật bản thổ thì bãi.
Ban đầu, nhũ mẫu của Hoàng đế là Hứa thị, bị cung nhân gièm pha mà bị đuổi khỏi cung, gả cho Miêu Kế Tông. Đến nay, bà chặn xa giá tự bày tỏ. Ngày Bính Dần, phong làm Lâm Vĩnh huyện quân, lấy Kế Tông làm Hữu ban điện trực. Sau đó gia phong Hứa thị làm Đương Dương quận phu nhân, lại cho vào cung.
Tháng 5, ngày Đinh Hợi mồng 1, Ty Tư thiên tâu rằng ngày ấy lẽ ra có nhật thực mà không xảy ra, Tể tướng dâng biểu chúc mừng.
Ngày Ất Mùi, xét giảm tội nhân bị giam.
Tháng 6, ngày Ất Mùi, bách quan dâng biểu xin cho dùng nhạc, không cho; biểu dâng đến 5 lần, mới cho phép. Nhân đó bảo Vương Khâm Nhược rằng: "Nay tuy miễn cưỡng theo lời xin của mọi người, nhưng yến hội mùa thu chỉ nên dùng một nửa số nhạc, còn các cuộc du ngoạn, thì lòng trẫm vẫn chưa nỡ vậy."
Nam viện Đại vương nước Liêu là Da Luật Chế Tâm (耶律制心) mất. Chế Tâm trấn giữ Thượng Kinh, thi hành nhiều chính lệnh khoan hậu. Khi ấy lệnh cấm rượu đang rất nghiêm, có người bắt được kẻ lén nấu rượu, Chế Tâm bèn uống một hơi hết sạch, cười mà không tra hỏi. Có người khuyên ông ta phụng thờ Phật, Chế Tâm nói: "Ta không hiểu Phật pháp, chỉ cần trong lòng không tư riêng, thì đã gần với đó rồi." Truy tặng chức Chính sự lệnh, truy phong tước Trần vương.
Ngày Nhâm Thân, bãi việc đốt đèn ở cung quán trong các tiết Thiên Khánh, Thiên Kỳ, Thiên Khoáng, Tiên Thiên Giáng Thánh.
Ngày Giáp Tuất, nước Liêu lấy Tiêu Địch Lý (蕭迪裡) làm Nam viện Đại vương.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tý, chiếu định lễ tế ở Nam Giao vào ngày Đông chí.
Ngày Nhâm Thìn, sai Điện trung thị ngự sử Vương Thạc (王碩), Nội điện thừa chế Chu Tự (朱緒) đi kiểm điểm số trà tích trữ ở các trường trà trên núi.
Ban đầu, triều đình đã dùng phép "thiếp xạ" của Lý Tư (李諮) và những người khác, thi hành được 1 năm, bọn hào thương đại cố không thể tùy ý khuynh loát giá cả; nhưng người bàn luận thì có kẻ cho rằng việc mua thóc ở biên giới mà trả bằng tiền mặt, e kho tàng kinh sư không đủ để tiếp nối, tranh nhau nói là bất tiện. Gặp lúc Giang Hoài chế trí sứ tâu rằng có trà bị ứ đọng, hư hỏng, xin đem hết đốt bỏ. Triều đình nghi ngờ là tệ hại do việc đổi pháp mà ra, bèn hạ thư trách hỏi cơ quan chế trí, lệnh cho Vương Thạc và Chu Tự đi xem xét. Sau đó, Lý Tư và những người khác dâng tấu trình bày rất rõ lợi hại, lại nói: "Đem pháp mới thi hành, công hiệu đã thấy. Thực là nguồn gốc xâm lấn, đục khoét tích tụ bao năm, nay trong một sớm bị bít lại, bọn thương nhân được lợi nếu trở lại như cũ, muốn nhân đó mà làm lay động, còn người bàn luận thì không xét rõ thực tình, giúp họ mà du thuyết. Xin cố sức thi hành, chớ để bị lời đồn làm lay chuyển." Bèn hạ chiếu cho các nha môn yết bảng bảo dụ thương nhân, tỏ rõ ý đẩy mạnh thi hành, không thay đổi; ban thưởng cho các điển lại bạc và lụa, có phân bậc khác nhau.
Trước đây, từng cấm chùa quán không được mua ruộng. Đến khi Chân Tông băng, trong cung sai trung sứ đem 3.000 lạng bạc trắng ban cho chùa Cảnh Đức ở núi Ngọc Tuyền, quân Kinh Môn, lệnh mua ruộng, nói là để gây phúc cho tiên đế, sau đó vẫn không được lấy đó làm lệ. Từ đó chùa quán dần dần lại tăng việc mua ruộng.
Ngày Quý Sửu, rước an trí ngự dung của Chân Tông tại điện An Thánh trong Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung.
Tháng 8, ngày Bính Thìn mồng 1, yến tiệc ở điện Sùng Chính, lần đầu dùng một nửa số nhạc. Nhạc công dâng các tiết mục, Hoàng đế chưa từng đưa mắt nhìn, đến hết tiệc, sắc mặt vẫn còn buồn bã.
Khi ấy có chiếu xuống Thành Đô phủ, triệu bọn kép hát Hứa Triều Thiên (許朝天) vào bổ sung Giáo phường, Tả chính ngôn Lưu Tùy (劉隨) cho rằng bọn làm nghề hèn mọn không đáng để chiếu thư phải bận. Giám sát ngự sử Lý Hoằng (李紘) cũng tâu: "Bệ hạ mới lên ngôi, còn chưa thể làm rạng rỡ những bậc ẩn sĩ nơi hang núi, mà lại trước hết triệu bọn linh quan, đó không phải là cách để mở rộng đức tốt trong thiên hạ." Bọn Triều Thiên bèn bị bãi cho về. Hoằng là cháu gọi bằng chú của Xương Linh (昌齡).
Chiếu: "Người được tiến cử đã được thăng chuyển mà còn tham ô, thì người tiến cử phải tâu rõ sự tình; nếu đã biết mà không tâu đúng sự thực, thì bị luận tội."
Nước Liêu lấy Phò mã Tiêu Đô Lý (蕭都哩) làm Điện tiền đô điểm kiểm.
Ngày Kỷ Mão, ngự đến Quốc Tử Giám, yết lễ Tiên Thánh Văn Tuyên vương. Triệu các quan theo hầu lên giảng đường, lệnh Trực giảng, Đồn điền lang trung Mã Quy Phù (馬龜符) giảng Luận Ngữ, ban cho Quy Phù phẩm phục tam phẩm. Sau đó xem "Thất thập nhị hiền tán thuật", duyệt "Tam lễ đồ", hỏi Thị giảng Phùng Nguyên (馮元) về chế độ thời Tam đại. Lại ngự đến miếu Chiêu Liệt Vũ Thành vương. Trên đường về, ngự đến điện Kế Chiếu, yến các quan theo hầu.
Ngày Giáp Thân, sao Thái Bạch nhập vào khu vực sao Thái Vi.
Tháng 9, ngày Tân Mão, tế Thái Nhất cung, ban trà và lụa cho những người đang cày ruộng hai bên đường.
Ngày Canh Tý, Hoàng thái hậu thân viết thư ban cho Trung thư Môn hạ, lấy cháu gái của cố Trung thư lệnh Quách Sùng làm Hoàng hậu, dụ bảo các thần rằng: "Từ xưa nhà ngoại thích ít ai có thể tự giữ được phú quý, nên nay chọn ở cửa nhà suy cũ, mong tránh được việc sau này có thể làm rối loạn thánh chính."
Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Tị, chiếu: "Từ nay chiếu thư, lệnh Hình bộ khắc bản in rồi ban hành."
Khi ấy Hình bộ do Yến Túc (燕肅) ở Thanh châu quản lý, ông ta tâu rằng: "Theo chế độ cũ, tập hợp thư lại chia nhau chép, chữ nghĩa sai lầm rất nhiều, các nơi bốn phương tâu đáp, có khi vì thế mà chậm trễ, nên xin khắc bản gỗ để tuyên bố." Có người nói: "Nếu bản khắc sai một lần, thì sai càng nặng hơn." Vương Tằng (王曾) nói: "Chỉ cần đừng để sai một chữ là được." Bèn ghi vào luật lệnh.
Ngày Bính Thìn, rước an trí ngự dung của Chân Tông tại chùa Hồng Phúc.
Tháng ấy, Liêu chúa đóng quân ở sông Liêu.
Tháng 11, ngày Ất Mùi, triều hưởng ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng và cung Cảnh Linh. Ngày Bính Thân, hưởng Thái miếu. Ngày Đinh Dậu, hợp tế Trời Đất ở Viên Khâu, đại xá. Bách quan dâng tôn hiệu là Thánh Văn Duệ Vũ Nhân Minh Hiếu Đức Hoàng đế, dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu là Ứng Nguyên Sùng Đức Nhân Thọ Từ Thánh Hoàng thái hậu. Ban ân gia cấp cho bách quan và các quân.
Ngày Ất Tị, lập Hoàng hậu Quách thị. Khi ấy Trương Mỹ nhân được sủng ái, Hoàng đế muốn lập làm hậu, Thái hậu không cho nên thôi, vì thế Hoàng hậu tuy được lập, nhưng khá bị lạnh nhạt.
Ngày Tân Hợi, Vương Khâm Nhược (王欽若) được phong tước Ký quốc công, Tào Lợi Dụng (曹利用) đổi phong tước Lỗ quốc công, đều được gia ân. Theo lệ cũ, phụ thần được thăng quan theo lệ, Tham tri chính sự Lữ Di Giản (呂夷簡) cùng các đồng liêu đều dâng sớ từ chối, bèn ghi thành phép.
Tháng 12, ngày Bính Dần, Quyền phán Đô tỉnh Mã Lượng (馬亮) tâu: "Tăng nhân trong thiên hạ tính ra đến hàng chục triệu, thỉnh thoảng có kẻ làm giặc, dân rất khổ vì họ. Xin trừ số người được độ theo lệ hàng năm ra, ngoài ra không được độ người vào những lúc khác; lại lệnh từ nay không được thu nhận vào sổ tăng tịch những kẻ từng phạm tội đáng chết thật sự hoặc đã bị xăm mình." Chiếu cho phép.
Mùa đông năm ấy, nước Liêu duyệt binh lớn, truyền tiếng là đi săn ở U châu. Hai phủ đều xin chuẩn bị thóc gạo, luyện binh để phòng bất trắc, riêng Khu mật phó sứ Trương Tri Bạch (張知白) nói: "Người Liêu mới tu sửa hòa hiếu chưa lâu, nay họ đem quân, là nhân lúc triều đình mới đổi chính, muốn xem xét thử thôi, há nên tự mình gây hiềm khích! Nếu cứ nghi ngờ mãi, thì chi bằng nhân lúc sông vỡ đê, phát binh lấy danh nghĩa phòng giữ sông, vạn nhất có biến, cũng đủ để ứng phó." Chẳng bao lâu, quả nhiên không có việc gì.
Liêu chúa từng vi phục đi săn, có người Da Luật Hãn Ban (耶律罕班) du chơi kinh sư, trọ ở bên cạnh hành cung, chỉ có một túi áo và một con ngựa mà thôi. Liêu chúa thấy, hỏi ông ta, Hãn Ban lúc đầu không nhận ra, đáp bừa rằng: "Ta là người bộ Bắc viện, đi tìm quan chức mà thôi." Liêu chúa nói chuyện với ông ta, biết là người có tài, ngầm ghi nhớ. Gặp lúc Bắc viện tâu rằng ở Nam Kinh có vụ án nghi ngờ lâu ngày chưa quyết, Liêu chúa bèn triệu Hãn Ban cưỡi trạm mã đến xét xử, cả triều đều kinh ngạc. Hãn Ban tùy tình tiết mà xử lý, không ai bị oan, Liêu chúa khen ngợi. Lại lệnh kiểm kê đàn ngựa, thiếu mất 2 con, những người cùng làm việc tra xét mãi không thôi, Hãn Ban không hề tra hỏi, liền trước hết cưỡi trạm tâu lên, Liêu chúa càng thêm tin dùng.
Năm ấy, nước Liêu cho 47 người như Lý Huỳnh (李炯) đỗ Tiến sĩ.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Ất Dậu, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.
Ngày Mậu Tý, nước Liêu sai Tuyên huy Nam viện sứ Tiêu Tòng Thuận (蕭從順) và những người khác đến chúc mừng tiết Trường Ninh, được yết kiến ở điện Sùng Chính, Hoàng thái hậu buông rèm, bày tiệc rượu trong điện để yến đãi họ, Ngự sử trung thừa Tiết Khuê (薛奎) làm quan tiếp đãi. Tòng Thuận muốn xin được yết kiến, lại nói rằng sứ thần phương Nam đến phương Bắc đều được gặp Thái hậu, mà sứ thần phương Bắc đến lại riêng không được gặp. Khuê bác lại rằng: "Hoàng thái hậu buông rèm nghe chính sự, ngay cả quần thần bản triều cũng chưa từng được gặp." Tòng Thuận bèn thôi. Đến khi từ biệt, Tòng Thuận bị bệnh, lệnh Tể thần Vương Tằng (王曾) áp giải yến tiễn ở dịch Đô đình. Tòng Thuận hỏi Tằng: "Nam triều mỗi khi phái sứ xe đi, đều là quan tạm kiêm chức, vì sao vậy?" Tằng nói: "Nhiệm vụ sứ thần chỉ cốt ở người, không cốt ở quan chức cao thấp. Nay trong hai phủ có 8 người, thì 6 người thường được sai đi sứ, chỉ cốt ở người, không cốt ở chức." Tòng Thuận im lặng. Sau đó Tòng Thuận lấy cớ bệnh ở lại quán, không khởi hành đúng kỳ hạn, Hoàng đế sai sứ đi hỏi thăm, lại sai Thái y chẩn mạch, liên tiếp trên đường. Khu mật sứ Tào Lợi Dụng xin bãi bỏ hết thảy, bấy giờ Tòng Thuận mới rút đi.
Tháng 2, ngày Mậu Ngọ, nước Liêu cấm trong lãnh thổ mình dùng vàng ròng và gấm dệt bằng tiền vàng, người thân trong hoàng tộc nếu phải dùng thì phải tâu rồi mới được dùng.
Ngày Ất Sửu, Quyền ngự sử trung thừa Tiết Khuê bị bãi, làm Học sĩ viện Tập Hiền, Tri Bính châu; có người gièm rằng Khuê để lộ lời trong cấm trung. Sau đó Tần châu khuyết chức Thủ, Hoàng đế thấy Khuê nhiều lần làm quan ở Tây biên, quen phong tục nơi đó, bèn đổi Khuê làm Tri Tần châu. Tần châu vốn đóng quân nặng, chi phí thường không đủ, Khuê chủ trương tiết kiệm, dạy dân cày bằng nước, cẩn thận tính toán, trong 1 năm, thóc trong kho tích được 3 triệu, tiền thuế thừa ra được 30 vạn, tra ra ruộng ẩn của dân hàng ngàn khoảnh, lại thu được cỏ khô và thóc hơn 10 vạn.
Tháng ấy, Liêu chúa đi đến hồ Ngư Nhi Lạc.
Tháng 3, ngày Bính Tý, dời Tri Hà Nam phủ Trần Nghiêu Tộ (陳堯佐) làm Tri Bính châu. Mỗi khi sông Phần dâng nước, dân trong châu lo bị ngập, Nghiêu Tộ bèn đắp đê, trồng mấy vạn cây liễu, dựng đình Liễu Khê, dân nhờ đó được lợi.
Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu lấy Tả thừa tướng Trương Kiệm (張儉) làm Tiết độ sứ Vũ Định quân, lấy Điện tiền đô điểm kiểm Tiêu Đô Lý (蕭都哩) làm Đô bộ thự hành cung Khiết Đan.
Tháng ấy, Liêu chúa đi đến sông Trường Xuân. Hồ Ngư Nhi Lạc phát ra tiếng như sấm, nước trong một đêm vượt qua dải cát 40 dặm, tách ra thành một đầm khác.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Tý mồng 1, chiếu cứu xét hình ngục.
Tháng ấy, lấy Long Đồ các trực học sĩ, Hình bộ lang trung Lưu Dục (劉煜) làm Tri Hà Nam phủ. Dục là thế gia ở Hà Nam, là dòng họ cựu tộc của bọn giặc áo vải. Từng Quyền phát khiển việc ở Khai Phong phủ, được triệu kiến riêng, Thái hậu hỏi: "Trẫm biết họ nhà khanh là danh tộc, muốn xem gia phả nhà khanh một lần, e rằng cùng tông với trẫm." Dục nói: "Thần không dám." Về sau, nhiều lần hỏi, Dục không biết đáp thế nào, bèn giả vờ chóng mặt, ngã xuống mà lui ra, nhờ đó thoát được.
Tháng 5, ngày Canh Dần, xét giảm tội cho tù giam.
Ngày Quý Tị, ngự đến đạo quán Ngự Trang, gặt lúa mạch, nghe tiếng khung cửi trong nhà dân, ban trà và lụa cho phụ nữ dệt vải.
Liêu chúa tránh nóng ở núi Vĩnh An. Lấy Tiêu Tòng Thuận làm Thái tử Thái sư, Ngô Thúc Đạt (吳叔達) làm Hàn lâm học sĩ, đạo sĩ Phùng Nhược Cốc (馮若谷) được gia chức Thái tử Trung doãn. Lệnh Trương Kiệm dời trấn Đại Đồng.
Tháng 6, ngày Quý Dậu, người Khương thuộc Hoàn châu, Nguyên châu làm phản, cướp phá biên giới, Hoàn Khánh đô giám Triệu Sĩ Long (趙士隆) và những người khác chết trận. Sai sứ giả đi an phủ Thiểm Tây.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tý, chiếu lệnh các Chuyển vận sứ các lộ xét cử những người làm Tri châu, Đồng phán không đảm đương được việc.
Ngày Nhâm Dần, lấy Tiền Hộ bộ lang trung Hạ Tống (夏竦) khởi phục làm Tri chế cáo. Tống nóng nảy cầu tiến, ưa dùng thuật số, đời gọi là gian tà. Từng dâng sớ xin được tham gia tu soạn "Chân Tông thực lục", không được chấp thuận. Sau đó gặp tang mẹ, lén đến kinh sư cầu xin khởi phục, dựa vào trung nhân Trương Hoài Đức (張懷德) làm nội trợ, mà Vương Khâm Nhược vốn thân với Tống, nhân đó giúp đỡ, nên mới có lệnh này.
Liêu chúa đi săn ở rừng tùng Bình Địa.
Tháng 8, ngày Tân Hợi, Tri Ích châu Tiết Điền (薛田) tâu: "Bản châu giải phát cử nhân, từ đời Trương Vịnh (張詠) trở đi, theo lệ cấp giấy quán trọ đến kinh, nay nhận được công văn của Tam ty, lại bắt quan lại, dân chúng bồi hoàn những vật quan đã cấp, e rằng không phải là ý của triều đình." Hoàng đế nói: "Đời Hán, sĩ nhân đi cống đều được quận quốc cấp lương ăn dọc đường, nay lại không thể thi hành ở nơi xa ư? Hãy lệnh miễn hết cho họ!"
Ngày Mậu Ngọ, Đề điểm hình ngục lộ Quì châu Thịnh Kinh (盛京) tâu: "Giếng muối ở Trung châu mỗi năm tăng thuế, dân doanh điền ở Phụng Tiết, Vu Sơn bỏ trốn hết, lý dịch phải nộp thay thuế hộ, dân Vạn châu nộp thuế thóc bằng tiền, đều là hại dân." Chiếu lệnh bãi bỏ hết. Kinh là anh em họ với Độ (度之).
Ban đầu, Lý Tư và những người khác đã trình bày rõ lợi hại của trà pháp, nhưng người bàn luận vẫn tranh nhau nói là bất tiện. Ngày Tân Mùi, lệnh Hàn lâm thị độc học sĩ Tôn Sức (孫奭), Tri chế cáo Hạ Tống và những người khác lại một lần nữa xét định kỹ càng.
Tháng 9, ngày Canh Thìn mồng 1, bắt đầu sai sứ sang chúc mừng Liêu hậu ngày Chính đán.
Liêu chúa đóng quân ở Nam Kinh.
Ngày Kỷ Hợi, nước Liêu bắt đầu sai sứ sang chúc mừng ngày Chính đán của Thái hậu.
Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Mão, sao Thái Bạch phạm sao Nam Đẩu.
Ngày Tân Dậu, lấy Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ thị lang Yến Thù (晏殊) làm Khu mật phó sứ.
Ngày Canh Ngọ, lấy Tể thần Vương Khâm Nhược làm Dịch kinh sứ. Đời Đường, Dịch kinh sứ do Tể tướng am hiểu Phật học kiêm lãnh; đầu đời Tống, khi phiên dịch kinh luận, lệnh triều quan nhuận văn, đến khi Đinh Vị (丁謂) làm Tể tướng, mới đặt chức sứ; còn Khâm Nhược thì nhân bọn tăng dịch kinh Pháp Hộ (法護) xin mà làm sứ, người bàn luận chê trách.
Tháng 11, ngày Kỷ Mão mồng 1, Tôn Sức và những người khác tâu: "Ở 13 trường trà, số trà tích trữ chưa bán được hơn 6.13 vạn cân, bởi vì cho phép thương nhân ‘thiếp xạ’, thì loại tốt đều vào tay thương nhân, còn loại vào kho quan đều là trà xấu, không đúng vụ, nên không ai chịu mua. Lại nữa, hộ vườn trà nộp thuế năm không đủ, thì bắt họ như thương nhân nộp lãi, mà hộ vườn đều là dân nghèo yếu, sức không kham nổi, phiền nhiễu càng nặng. Lại có kẻ gian dựa vào danh nghĩa ‘thiếp xạ’, ép mua hàng lậu, xâm chiếm lợi của quan. Tệ hại như thế, không thể không bỏ. Xin bãi bỏ phép thiếp xạ, để quan lại cấp vốn mua trà, còn thương nhân thì nộp tiền để bán trà." Thế là trà pháp lại bị phá bỏ.
Ngày Canh Tý, Liêu chúa ngự đến vườn quả trong cung, mở yến, dân kinh thành tụ tập đến xem. Tìm được 72 người Tiến sĩ, lệnh họ làm thơ, xếp hạng hay dở, lấy Trương Dực (張昱) và 13 người làm Thái tử hiệu thư lang, Hàn Loan (韓欒) và 58 người làm Hiệu thư lang ở Sùng Văn quán.
Vương Khâm Nhược sau khi kiêm chức Dịch kinh sứ, mới đến Viện Truyền pháp, bị bệnh, vội trở về; xa giá đến thăm, ban 5.000 lạng bạch kim. Ngày Mậu Thân, ông ta mất. Hoàng thái hậu đến viếng, rơi lệ, truy tặng Thái sư, Trung thư lệnh, thụy Văn Mục, sai quan lo việc tang, cho ghi chép thân thuộc và những người thân tín hơn 20 người. Từ đời Kiến Long trở lại, ân huệ dành cho Tể tướng chưa từng có như thế.
Khâm Nhược dáng người thấp nhỏ, trên cổ có mụn cóc bám, người đương thời gọi là "ảnh tướng" (Tể tướng có bướu). Trí mưu hơn người, mỗi khi triều đình có việc xây dựng, giao cho ông ta chủ trì, đều khéo léo uốn nắn cho hợp ý trên. Tính tình nghiêng ngả khéo léo, dám làm những điều dối trá kỳ quặc. Thái hậu vì ông ta từng được sủng ái khác thường dưới triều trước, nên lại dùng. Đến khi vụ Ngô Thực (吳植) bị phát giác, Thái hậu càng không vui, đồng liêu dần dần lấn át ông ta, Khâm Nhược uất ức mà chết. Sau có chiếu nặn tượng ông ta ở núi Mao, xếp vào hàng tiên quan.
Khu mật sứ Bắc viện nước Liêu là Tiêu Ha Xước (蕭哈綽) bị bệnh, Liêu chúa muốn đến thăm, Ha Xước tạ rằng: "Thần bất tài, may được giao trọng nhiệm; nay hình dung tiều tụy, e bệ hạ thấy mà động lòng." Liêu chúa bèn thôi. Gặp lúc Tể tướng Bắc phủ Tiêu Phác (蕭朴) đến thăm bệnh, Ha Xước nắm tay ông ta nói: "Ta chết, ông ắt sẽ làm Khu mật sứ, chớ nên tiến cử người hơn mình." Phác nghe vậy thì khinh bỉ. Ngày Ất Sửu, Ha Xước mất.
Tháng 12, ngày Mậu Thìn, nước Liêu lấy Tiêu Phác làm Khu mật sứ Bắc viện, phong Lan Lăng quận vương.
Trước đó, trong triều, hàng quan đứng chầu lấy Tể tướng làm đầu, thân vương kế đó, Sứ tướng lại kế sau, Khu mật sứ tuy kiêm chức Kiểm giáo Tam sư, kiêm Thị trung, Thượng thư, Trung thư lệnh, nhưng vẫn đứng dưới Tể tướng. Đầu niên hiệu Hàm Bình, Tào Bân (曹彬) làm Khu mật phó sứ kiêm Thị trung, địa vị dưới Hộ bộ thị lang, Bình chương sự Lý Hãng (李沆), là theo chế độ cũ. Đến niên hiệu Càn Hưng, Vương Tằng từ Thứ tướng làm Hội Linh quán sứ, Tào Lợi Dụng từ Khu mật sứ kiêm Cảnh Linh cung sứ, khi ấy coi chức Cung quán sứ là trọng, chiếu cho Lợi Dụng đứng trên Tằng, người bàn luận rất cho là sai. Đến đây, Tằng được tiến phong làm Đại học sĩ Sùng Văn quán, Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, cùng vào tập họp ở điện Lư, sắp tâu cáo tạ ơn, mà Lợi Dụng vẫn muốn đứng trên Tằng, quan ở cửa cung không dám tự quyết. Tằng lớn tiếng bảo lại rằng: "Cứ tâu là Tể tướng Vương Tằng và những người khác vào tạ ơn." Hàng ngũ đã định, Lợi Dụng uất ức không vui, Trương Sĩ Tốn (張士遜) khuyên giải ông ta. Ngày Canh Thân, chiếu lệnh Tể thần, Khu mật sứ xếp hàng như lệ cũ. Nhưng Lợi Dụng vẫn muốn sửa lệ, còn đứng trên Thứ tướng Trương Tri Bạch. Đến khi nghe tin triệu Trương Mân (張旻) ở Hà Dương làm Khu mật sứ, Lợi Dụng nghi là thay mình, mới hối hận, sợ hãi.
Điện tiền phó chỉ huy sứ Dương Sùng Huân (楊崇勳) từng đến Trung thư bạch việc, gặp lúc mưa nhỏ vừa tạnh, Sùng Huân đi ủng bùn lên bậc thềm, Vương Tằng cau mày, không tiếp đãi theo lễ thường. Sùng Huân lui ra, dâng sớ hặc tội ông ta, giao cho Tuyên huy viện hỏi cung. Hôm sau, Tằng vào chầu, xin truyền chiếu tha tội, Thái hậu hỏi nguyên do, ông ta nói: "Sùng Huân là võ phu, không biết lễ nghi triều đình. Việc hặc tội là để bề tôi cầm quyền chấn chỉnh kỷ cương; việc khoan tha là để người quân chủ tỏ lòng ân đức. Như thế thì nhân ái quy về trên, mà uy lệnh nghiêm ở dưới vậy."
Ngày Quý Hợi, dời Đinh Vị (丁謂), Nhai châu Tư hộ tham quân làm Lôi châu Tư hộ tham quân.
Vị vì nhà ở Lạc Dương, thường viết thư tự trách, kể ơn nước sâu dày, dặn người nhà chớ oán hận, sai người đem đến cho Lưu Dục, Lưu thủ Tây Kinh, xin chuyển cho gia đình, dặn phải đợi lúc Dục họp các quan lại rồi mới đưa. Dục nhận thư, không dám giữ riêng, liền tâu lên; Hoàng đế xem xong cảm động thương xót, nên có lệnh này. Tể tướng tâu: "Vị là kẻ tội lỗi thiên hạ không dung, nên bị đày, nay không nhân dịp đại xá khoan thứ, thì chưa thể dời vào trong nội địa." Hoàng đế nói: "Vị bị đày ngoài biển đã mấy năm, chỉ muốn cho ông ta được sống trở về vùng Lĩnh Biểu mà thôi."
Ngày Ất Sửu, Hoài Nam tiết độ sứ, Kiểm giáo Thái sư, Đồng Bình chương sự Trương Mân (張旻) theo chức cũ sung làm Khu mật sứ. Khi Thái hậu còn hàn vi, từng trọ nhà Mân, Mân phụng sự rất cung kính, Thái hậu ghi ơn sâu, nên lại giao cho ông ta nắm Khu mật viện. Sau đổi tên là Trương Kỳ (耆).
Năm ấy, dân Yên được mùa, Liêu chúa ngự giá đến, tranh nhau đem sản vật địa phương đến dâng. Liêu chúa lễ kính người cao tuổi, ban ơn cho kẻ goá bụa, cho mở yến uống rượu. Đến tối, đèn lửa trên sáu phố sáng như ban ngày, sĩ dân vui chơi, Liêu chúa cũng vi hành đi xem.
Ngày Đinh Sửu, nước Liêu cấm thợ thuyền không được nấu chảy phá hủy đồ khí bằng vàng bạc.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Mùi, sứ nước Liêu là Tiêu Địch Lý (蕭迪裡) và những người khác vào chầu. Nước Liêu lại sai người mang rượu quả đến cho bọn Địch Lý. Hoàng đế hỏi Tể tướng Vương Tằng: "Những người mang rượu quả hơn 30 người, đã đến Mạc châu, có nên cho họ vào không?" Tằng nói: "Nên ngăn họ lại, dùng thuyền binh thay thế, chuyển rượu quả giao cho Địch Lý là được." Hoàng đế nói: "Hay!"
Tri Ích châu Tiết Điền tâu: "Người phạm tội ở hai Xuyên bị phát phối đến các châu khác, dù già yếu được tha, cũng đều bị giữ lại không cho về; từ nay xin đừng giam giữ họ nữa." Hoàng đế nói: "Dân xa xôi ngu dốt phạm pháp, mà suốt đời không được về quê hương, há là ý của trẫm sao! Xét tình có thể thương xót, thì cho về."
Ngày Canh Thìn, Liêu chúa đi đến hồ Uyên Ương Lạc.
Tháng 2, ngày Kỷ Dậu, nước Liêu lấy Đồng tri Khu mật viện Hoàng Phiên (黃翩) làm Binh mã đô bộ thự, dẫn quân đóng giữa sông Hỗn Đồng và sông Sơ Mộc. Hoàng Long phủ xin xây 3 đồn trại, 10 đài phong hỏa, Liêu chúa lệnh đợi lúc nông nhàn thì xây.
Lưu thủ Đông Kinh Da Luật Ba Cách (耶律巴格) tâu rằng Hoàng Phiên đem quân vào cõi Nữ Chân tuần tiễu, bắt được rất nhiều, số người hàng là 270 hộ. Liêu chúa khen ngợi, bảo dụ.
Ngày Canh Tuất, Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ Vương Tằng xin cho Tam quán hiệu đính Đạo Tạng, được chấp thuận. Nhân đó Hoàng đế nói: "Sách Đạo gia phần nhiều nói chuyện bay lên, luyện kim thạch, há bằng được 5.000 lời giản ước của Lão Tử!"
Ngày Nhâm Tuất, sai quan tế Cửu cung quý thần. Hoàng đế bảo các phụ thần: "Ngày tế lại đúng vào ngày đại kỵ của Chân Tông, có nên dùng nhạc không?" Vương Tằng nói: "Chỉ bày nhạc khí mà không tấu thôi." Lại hỏi về sự giống khác giữa nhạc xưa và nay. Tằng nói: "Nhạc xưa dùng vào tế Trời Đất, Tông miếu, Xã tắc, Sơn xuyên, Quỷ thần, mà người nghe không ai là không hòa vui. Còn nhạc nay thì không như thế, chỉ để mua vui tai mắt, làm buông thả lòng người, từ xưa các quân vương đắm say đến nỗi mất nước, không ai chẳng do đó." Hoàng đế nói: "Trẫm đối với ca vũ chưa từng để ý, yến tiệc trong ngoài đều là miễn cưỡng mà thôi."
Ngày Kỷ Tị, nước Liêu vì Nam Kinh bị lụt, sai sứ đi cứu tế.
Ngày Canh Ngọ, lệnh: "Bộ phận khác của Đảng Hạng là Tháp Tây, đặt Khiết Đan tiết độ sứ để cai trị."
Tháng 3, ngày Canh Dần, nước Liêu lấy Tiết độ sứ Đại Đồng quân Trương Kiệm vào làm Khu mật sứ Nam viện, Tả thừa tướng kiêm Chính sự lệnh. Liêu chúa đang tin cậy dựa vào Kiệm, Tham tri chính sự Ngô Thục Đạt (吳淑達) không hòa với Kiệm, Liêu chúa nổi giận, giáng Thục Đạt làm Thứ sử Khang châu.
Từ sau Tiết Khuê, Ngự sử đài khuyết chức Trung thừa, không bổ, Thị ngự sử tri tạp sự Hàn Ức (韓億) một mình nắm việc Đài hơn 1 năm. Ngày Nhâm Ngọ, mới lệnh Quyền tri Khai Phong phủ, Vương Trân (王臻) người Nhữ Âm, làm Quyền ngự sử trung thừa. Trân dâng kiến nghị: "Các Tham quân của Tam ty, Khai Phong phủ và các huyện lệnh, huyện úy ở các huyện thuộc kinh, phần nhiều dùng con em nhà quyền quý, kiêu lười, không đảm đương được việc, xin đổi dùng những người xuất thân hàn vi, thi đỗ, hoặc làm quan lâu năm, khảo xét không có lỗi, cho họ đảm nhiệm." Lại nói: "Bọn lại thuộc các nha môn ở kinh thành được vào làm quan, xin theo ‘Trường định cách’, trở về nha môn cũ 3 năm." Đều được chấp thuận.
Tháng ấy, người Chuẩn Bố xâm phạm nước Liêu, Chiêu thảo sứ Tây Bắc lộ Tiêu Huệ (蕭惠) đánh bại họ.