Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Tuất, xuống chiếu: "Gần đây đã chia vùng biên giới Thiểm Tây làm 4 lộ, mỗi lộ đều đặt các chức Kinh lược, An phủ, Chiêu thảo sứ. Từ nay, các quan lộ phân Bộ thự, Kiềm hạt trở lên, được phép cùng với Đô bộ thự ty bàn bạc quân sự; từ lộ phân Đô giám trở xuống, đều phải nghe Đô bộ thự các ty tiết chế, ai trái lệnh sẽ bị luận tội theo quân pháp."
Tri Khánh châu Phạm Trọng Yêm xin cấp cho Khu mật viện và Tuyên huy viện mỗi nơi 100 tờ chiếu đầu trống tên, khi có việc gấp hay việc cần thì điền tên vào, để khuyến khích khen thưởng chiến công và chiêu hàng các bộ lạc phiên; chiếu theo lời xin.
Ngày Đinh Tị, lệnh Hàn lâm học sĩ Nhiếp Quán Khanh (聶冠卿) quyền tri việc thi cử. Trước đó, Đoan Minh điện học sĩ Lý Thục (李淑) hầu giảng ở Kinh diên, được hỏi về thứ tự thi Tiến sĩ: thơ, phú, sách, luận nên trước sau thế nào. Thục tâu xin cho thi sách trước, kế đến luận, kế đến phú, sau cùng là bài dán kinh, giải nghĩa chữ mực; và ra sắc cho hữu ty thi cả 4 trường, cộng lại mà khảo xét hay dở, chớ lấy đỗ trượt một trường mà quyết định đi ở. Chiếu cho hữu ty bàn, rồi dần dần thi hành.
Từ khi Nguyên Hạo làm phản, binh đao nổi lên, chi dùng không đủ, nhân đó cho phép đem cỏ khô, thóc lúa nộp vào kho để lấy phiếu, rồi đem phiếu ấy đến Kinh sư, nhận tiền ở các nha buôn bán độc quyền; đem các thứ hàng hóa khác nộp vào để lấy phiếu, thì trả bằng muối ao. Do đó, lông vũ, gân sừng, keo sơn, sắt than, ngói gỗ các loại, hết thảy đều đổi bằng muối. Bọn thương nhân gian xảo, kẻ gian ác nhân thời cơ trục lợi, cùng quan lại trong ngoài cấu kết làm bậy, tiêu phí muối ao vô kể. Giá muối càng rẻ, người buôn không đi, công tư đều không lợi. Triều đình biết có tệ ấy, ngày Mậu Ngọ, dùng theo lời xin của Tam ty sứ Diêu Trọng Tôn (姚仲孫), lấy Độ chi phán quan Phạm Tông Kiệt (范宗傑) làm Chế trí giải diêm sứ, đi kinh lý việc ấy.
Ban đầu, có chiếu khôi phục phép buôn bán độc quyền ở Kinh sư. Tông Kiệt xin rằng: "Phàm thương nhân dùng giá ước chừng mà nhận phiếu, và những người đã nhận muối mà chưa bán được, đều phải tính giá thực mà nộp tiền bù thiếu cho quan. Muối trong nội địa châu, quân, dân gian, đều thu mua nhập quan, lập trường để bán ra với giá tăng thêm. Lại cấm thương nhân ở 11 châu thuộc Vĩnh Hưng buôn bán, để quan tự vận chuyển, giao cho Nha tiền trông coi. Lại cấm muối của thương nhân tư nhân đưa lén vào đất Thục, đặt nha Tiết bác vụ ở Vĩnh Hưng, Phụng Tường, cho phép người ta đem tiền hoặc hàng hóa đất Thục đổi lấy muối, rồi đem vào Thục bán." Chiếu đều dùng theo lời ấy. Tông Kiệt là người Ung.
Ở Kinh Triệu phủ có thứ dân Lôi Giản Phu (雷簡夫), ẩn cư không ra làm quan, Phó Khu mật sứ Đỗ Diên (杜衍) tiến cử ông ta. Triều triệu vào yết kiến, bàn luận việc biên cương rất sắc bén, Hoàng đế vui mừng, lệnh Trung thư tra điển tích cũ đời Chân Tông dùng Chủng Phóng (種放). Lữ Di Giản (呂夷簡) nói người có tài ăn nói chưa chắc làm nên việc, xin cho thử trước. Bèn bổ làm Giáo thư lang, Tần châu quan sát phán quan. Giản Phu là cháu họ của Hữu Lân (有鄰).
Ngày Nhâm Tuất, chiếu lấy ruộng đất bỏ hoang ở Kinh Tây để an trí những người trong các bộ tộc phiên quy phụ mà không có thân thuộc.
Sai sứ đến Hà Bắc mộ binh, ai mộ được đến 1 vạn người thì thưởng.
Ngày Quý Hợi, chiếu lệnh Ty Ma khảo xét công tội của các quan Đề điểm hình ngục, chia làm 3 bậc, để chờ thăng giáng.
Ngày Tân Mùi, thành Đông quan và Tây quan ở Tần châu xây xong, ban vàng lụa cho quan lại tổng quản việc xây dựng, có phân bậc khác nhau. Trước đó, Tri châu Hàn Kỳ (韓琦) nói: "Dân cư phía đông tây châu và doanh trại quân đội hơn 1 vạn hộ, đều dựa vào thành mà ở, không có gì để chống giữ, xin xây thành ngoài dài 10 dặm." Đến nay thì hoàn thành.
Liêu chúa mưu định thân tự cầm quân nam phạt, nhưng ý còn chưa quyết, bèn đến nhà cựu tướng Trương Kiệm (張儉), sai Thượng thực đến trước bày cỗ. Kiệm từ chối, chỉ dâng canh rau muối và cơm khô. Liêu chúa ăn thấy ngon, thong thả hỏi kế sách nam phạt, Kiệm hết sức trình bày lợi hại, lại nói: "Chỉ nên sai một sứ giả đến hỏi, hà tất phải nhọc xe giá đi xa!" Liêu chúa vui mà thôi. Lại ngay tại nhà ông ta ban yến, đồ dùng, đồ chơi đều cho hết. Tháng này, nước Liêu sai Nam viện Tuyên huy sứ Tiêu Đặc Mặc (蕭特默) và Hàn lâm học sĩ Lưu Lục Phù (劉六符) sang triều Tống, sai đòi đất Tấn Dương và 10 huyện phía nam ải Ngõa Kiều, lại hỏi việc khởi binh phạt Hạ, cùng lý do đào vét sông ngòi, đầm lầy dọc biên giới và tăng thêm quân đồn trú.
Tháng 2, ngày Đinh Sửu, chiếu lệnh Quyền Ngự sử trung thừa Giả Xương Triều (賈昌朝) hầu giảng ở Nhĩ Anh các. Lệ cũ, quan Đài thừa không được dự Kinh diên, Hoàng đế cho rằng Xương Triều giỏi giảng nói, nên đặc biệt triệu.
Tri Tần châu Hàn Kỳ xin cấp cho Khu mật viện 50 tờ chiếu đầu trống tên, để thưởng cho người trong các bộ tộc Khương thuộc hạt có công, chiếu theo.
Tri Bảo châu Vương Quả (王果) trước đó mua được bản thảo chiếu dụ nam phạt của nước Liêu, dâng lên, lại nói: "Người Liêu ngầm kết giao với Nguyên Hạo, ắt sẽ bội ước; xin từ Quảng Tín quân trở về phía tây, những đường ra vào dọc các cửa ải trên núi, nên sớm giữ chặt." Chiếu trả lời giao cho Hà Bắc An phủ ty, bí mật sửa sang phòng bị biên giới. Quả là người Nhiêu Dương.
Chế độ cũ, các châu tiến cử người, sau khi thi ở Lễ bộ, thì dẫn vào thi ở hành lang Sùng Chính điện. Tri chế cáo Phú Bật (富弼) nói: "Các đời lấy người đều giao cho hữu ty, chỉ có đời Hậu Hán khảo xét văn lại bằng chiếu tấu, rồi dâng lên cửa Đoan môn, cũng chưa nghe Hoàng đế thân tự ra đề thi. Đến năm Tải Sơ đời Vũ Hậu nhà Đường mới có Điện thí, việc ấy đâu đáng làm phép! Nếu lo ân huệ quy về hữu ty, thì nên để Lễ bộ xếp thứ bậc cao thấp mà tâu, rồi dẫn vào sân điện, xướng tên ban thứ, thì cũng chẳng khác gì Điện thí." Ngày Tân Tị, chiếu bãi Điện thí. Nhưng Hàn lâm học sĩ Vương Nghiêu Thần (王堯臣) và Đồng tu Khởi cư chú Lương Thích (梁適) đều cho là điển cố của Tổ tông, không thể vội bỏ. Ngày Quý Mùi, chiếu khôi phục Điện thí như cũ.
Ngày Bính Tuất, Thiên chương các Thị giảng Lâm Vũ (林瑀) bị giáng chức làm Thông phán Nhiêu châu. Trước đó, Vũ phụng chiếu soạn sách "Chu Dịch Thiên nhân hội nguyên kỷ", trong đó dùng năm tháng ngày giờ Hoàng đế lên ngôi, xem quẻ mà đoán cát hung, lại nói: "Từ xưa thánh vương lên ngôi, tất phải gặp quẻ Càn." Ngự sử trung thừa Giả Xương Triều từng đối mặt bác rằng lời Vũ là không đúng kinh điển. Đến nay Vũ lại nói: "Hoàng đế lên ngôi, quẻ gặp là quẻ Nhu, tượng nói: ‘Quân tử lấy việc ăn uống yến lạc.’ Xin bệ hạ thường ra ngoài yến du, hưởng hết cái đẹp của thủy lục, đồ chơi." Hoàng đế kinh sợ lời ấy. Xương Triều liền hặc tấu Vũ dùng tà thuyết dối vua, không nên ở Kinh diên. Bèn giáng Vũ, và lệnh Sùng Văn viện Kiểm thảo Lâm Tri Triệu Sư Dân (趙師民) làm Thuyết thư ở Sùng Chính điện.
Ngày Ất Mùi, chiếu: "Trấn Định phủ, Định châu, Thiên Hùng quân, Chiết châu đều phải chuẩn bị binh mã, cỏ lương và khí giới." Lại chiếu: "Các châu quân ở Hà Bắc, thành trì, hào lũy nào cần sửa thì đều sửa." Lại chiếu: "Những trai tráng ở các châu Hà Bắc, từ sau tháng 3 đều đến châu để duyệt tập, giao cho Tri châu chọn những người khỏe mạnh, xăm chữ lên mu bàn tay làm Nghĩa dũng quân; ai không muốn thì tha cho, nhưng vẫn giữ tên trong sổ, để phòng khi cần giữ và sửa thành trì." Từ đó trai tráng dần dần suy giảm.
Chiếu mới ban xuống, lòng người xôn xao, Hà Bắc Đô chuyển vận sứ Lý Chiêu Thuật (李昭述) nhân bệnh mà đi gấp mỗi ngày mấy trạm, mở lời giải dụ cha ông, dân chúng mới yên. Chiêu Thuật là con của Tông Ngạc (宗諤).
Ngày Tân Sửu, Bảo Tĩnh quân Tiết độ sứ, Tân Tri Chiết châu Vương Đức Dụng (王德用) vào chầu, rơi lệ nói: "Thần trước mắc đại tội, bệ hạ may tha không giết, nay không đủ sức vâng mệnh." Hoàng đế an ủi khuyến khích rằng: "Hà Bắc đang báo động, trẫm mượn uy danh của khanh để trấn an mà thôi." Ban thủ chiếu rồi cho đi.
Ngày Nhâm Dần, Liêu chúa đến Uyên Ương Lạc.
Tháng 3, ngày Giáp Thìn mồng 1, chiếu lệnh Điện tiền chỉ huy sứ và Đô tri hai tỉnh cử chọn tướng tài.
Ngày Đinh Tị, lệnh Đỗ Diên đi Tuyên phủ Hà Đông.
Ngày Tân Dậu, Tham tri chính sự Triệu Tông Khác (晁宗愨) vì bệnh mà bị bãi chức.
Ngày Ất Sửu, ban cho Tiến sĩ do Lễ bộ xướng danh là Dương Trí (楊寘) người Hợp Phì, cùng những người đỗ các khoa: cập đệ, xuất thân, đồng xuất thân, tổng cộng 839 người. Lập ra chức Sát đệ sứ.
Ngày Kỷ Tị, sứ nước Liêu Tiêu Đặc Mặc và Lưu Lục Phù đến Kinh sư, dâng thư của Liêu chúa, đại lược nói
Trước đó, ngày Kỷ Tị tháng Giêng, quan biên giới báo sứ Liêu sắp đến, Hoàng đế vì thế ăn không ngon, chọn người có thể đi sứ Liêu, quần thần đều sợ không muốn đi. Tể tướng Lữ Di Giản cử Hữu chính ngôn Phú Bật, cho vào chầu ở tiện điện, Bật dập đầu nói: "Chúa lo thì thần nhục, thần không dám tiếc chết." Hoàng đế cảm động sắc mặt.
Ngày Nhâm Thân, lệnh Bật làm Tiếp bạn sứ. Bật ngày Bính Tý tháng 2 rời Kinh sư, đến Hùng châu, lâu sau Tiêu Đặc Mặc và bọn kia mới vào cõi. Sai Trung sứ đến an ủi, Đặc Mặc nói chân đau không lạy, Bật bảo: "Ta từng đi sứ phương bắc, bệnh nằm trong xe, hễ nghe chiếu là lạy. Nay Trung sứ đến mà ông không đứng dậy, đó là lễ gì?" Đặc Mặc hoảng hốt đứng dậy, bèn sai người dìu mà lạy. Đến khi Đặc Mặc và bọn kia đến, lệnh Ngự sử trung thừa Giả Xương Triều làm Quán bạn. Triều đình bàn không cho cắt đất, nhưng cho lấy con gái của Tín An Hy Giản vương Doãn Ninh (允寧) gả cho Hoàng tử nước Liêu là Lương vương Hồng Cơ (洪基), hoặc tăng thêm tiền lụa hàng năm; chỉ riêng Bật cho rằng việc kết hôn là không thể.
Ban đầu, Thái đệ nước Liêu là Trọng Nguyên (重元) dựa thế Thái hậu, từng tự gửi thư và lễ vật. Hoàng đế muốn nhân dịp sứ này mà trả lời, lệnh Xương Triều hỏi Lục Phù, Lục Phù từ chối nói: "Việc này đối với Thái hậu thì tốt, nhưng đối với bản triều thì bất tiện." Xương Triều nói: "Nếu như thế mà lại muốn dùng Lương vương để cầu hòa thân, Hoàng đế há có thể yên lòng sao?" Lục Phù không đáp được.
Ngày Tân Mùi, phong Bật làm Lễ bộ viên ngoại lang, Khu mật trực học sĩ, là vì sắp sai Bật đi báo đáp quốc tín. Bật nói: "Nước nhà có việc gấp, chỉ biết vâng mệnh, đó là chức phận của thần, sao lại đem quan tước đút lót trước?" Cố từ không nhận.
Mùa xuân năm ấy, Phạm Trọng Yêm tuần biên đến Hoàn châu, các bộ tộc Khương thuộc châu ngầm kết với giặc, gây họa biên giới. Trọng Yêm cho rằng Chủng Thế Hành (種世衡) vốn được lòng người Khương, mà thành Thanh Giản đã kiên cố, bèn tâu dời Thế Hành làm Tri Hoàn châu để trấn phủ họ.
Có người thuộc bộ tộc Ngưu gia tên là Nỗ Ngạch (努額), hung hãn, chưa từng ra mặt, nghe Thế Hành đến, vội ra ngoại ô nghênh đón. Thế Hành hẹn, sáng hôm sau đến trại của y. Đêm ấy tuyết lớn, dày 3 thước, người hầu nói: "Đường hiểm không thể đi." Thế Hành nói: "Ta đang kết giao với các bộ tộc Khương bằng chữ tín, không thể thất hẹn." Bèn men theo đường hiểm mà tiến. Nỗ Ngạch đang nằm trong trại, cho rằng Thế Hành tất không đến được, Thế Hành đá chân gọi dậy, Nỗ Ngạch kinh sợ lớn, dẫn cả bộ tộc quỳ lạy nghe lệnh.
Lại có bộ tộc Ngột Nhị (兀二), nhận chức giả của giặc, Thế Hành chiêu dụ mà không đến, bèn lệnh Phiên quan Mộ Ân (慕恩) đem quân đi đánh. Sau đó hơn 100 trại đều tự đến quy phục, không ai dám hai lòng. Nhân đó lệnh các bộ tộc đặt phong hỏa, hễ có việc gấp thì đốt lửa, mặc giáp cưỡi ngựa chờ. Lại bắt quan lại, dân chúng tập bắn, ai có lỗi, nếu bắn trúng thì tha tội; ai có việc kiện tụng, liền căn cứ trúng hay không mà cho hay lấy. Do đó ai nấy đều giỏi bắn, giặc không dám lại gần Hoàn châu.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Tuất mồng 1, Liêu chúa ban lệnh thưởng phạt cho việc nam chinh, muốn khiến các quan biên giới nhà Tống phải cấp báo về triều.
Ngày Mậu Dần, lệnh Quyền Ngự sử trung thừa Giả Xương Triều và những người khác bàn việc cắt giảm chi phí phù phiếm.
Ngày Canh Thìn, chiếu lấy Hữu chính ngôn Phú Bật làm Hồi tạ quốc tín sứ, Tây thượng các môn sứ Phù Duy Trung (符惟忠) làm Phó sứ. Thư trả lời nói
Lời thư do Hàn lâm học sĩ Vương Củng Thần (王拱辰) soạn.
Ban đầu, thư nước Liêu nói Thái Tông khởi binh không danh nghĩa, lúc ấy không ai biết đáp thế nào. Chỉ có Củng Thần xin vào tâu riêng rằng: "Trận Hà Đông vốn là để đánh kẻ tiếm ngụy, người Liêu đánh ải Thạch Lĩnh, ngầm cho quân giúp giặc, Thái Tông giận việc lật lọng, sau khi bình được Kế Nguyên, bèn hạ lệnh bắc chinh, sao có thể nói là không danh nghĩa!" Hoàng đế vui mừng, bảo các quan chấp chính rằng: "Nếu không phải Củng Thần hiểu rõ điển tích cũ, thì khó mà đáp được." Lưu Lục Phù từng nói với Giả Xương Triều: "Ao đầm của Nam triều dùng làm gì? Một cây sậy có thể qua, ném gậy có thể san bằng. Nếu không, phá đê, dùng 10 vạn bao đất là có thể vượt." Khi ấy người bàn luận cũng xin làm cạn ao để nuôi quân. Hoàng đế hỏi Củng Thần, ông đáp: "Đó là lời khoác lác của Lục Phù. Lập hiểm để giữ nước, các vua xưa không bỏ, lại là điều Tổ tông dùng để ngăn kỵ binh." Hoàng đế rất cho là phải.
Ngày Nhâm Ngọ, Hữu chính ngôn, Tri chế cáo Lưu Hãng (劉沆) bị điều ra làm Tri Đàm châu.
Ban đầu, Hãng đi sứ nước Liêu, Quán bạn Đỗ Phòng ép Hãng uống rượu, Hãng say, phủ áo đứng dậy, mắng rằng: "Ta không uống được, sao ép ta đến thế!" Sứ Liêu đến, đem việc ấy nói, nên Hãng bị điều đi. Sau lại giáng làm Tri Hòa châu. Nhân đó chiếu: "Các quan đi sứ Liêu và các quan Tiếp bạn, Tống bạn, mỗi khi yến hội không được ép uống quá độ, lời nói ứng đối phải giữ đại thể."
Ngày Mậu Tý, hạ chiếu khen dụ Tri Diên châu Bàng Tịch (龐籍) và những người khác, vì Tịch sửa sang xong trại Kiều Tử cốc.
Ban đầu, Nguyên Hạo chiếm các trại Kim Minh, Thừa Bình, Tái Môn, An Viễn, Khảo Lão, phá Ngũ Long xuyên, dân biên giới bị đốt phá gần hết. Tịch đến, dần dần sửa sang. Quân đồn trú hơn 10 vạn, chưa có tường lũy, tản cư trong thành, sợ Tịch nghiêm, không dám phạm pháp. Phía tây bắc Kim Minh có Hồn châu xuyên, đất bằng phì nhiêu, cuối dòng xuyên gọi là Kiều Tử cốc, là đường hiểm giặc ra vào. Tịch sai bộ tướng Địch Thanh (狄青) đem hơn 1 vạn quân xây trại Chiêu An bên cốc, đẩy lui giặc mấy vạn. Mộ dân cày cấy, được thóc cứu quân. Chu Mỹ (周美) đánh úp lấy lại trại Thừa Bình, Vương Tín (王信) xây trại Long An, đều khôi phục đất cũ giặc chiếm, xây 11 bảo như Thanh Thủy.
Ngày Giáp Ngọ, dời Tri Chiết châu Vương Đức Dụng làm Trấn Định phủ, Định châu lộ Đô bố trí sứ.
Ngày Bính Thân, Hữu chính ngôn Điền Huống (田況) tâu: "Triều đình chọn tướng để phòng bị bắc biên, lại dùng bọn Dương Sùng Huân (楊崇勛), Hạ Thủ Vân (夏守贇), Cao Hóa (高化), lòng người chưa thuận, e làm lỡ cơ mưu." Chiếu cho mỗi người chọn Thông phán, Mạc chức quan đến giúp. Tri Gián viện Trương Phương Bình (張方平) cũng nói: "Triều đình xử trí bắc biên, tuy tăng binh sửa lũy, việc đã chuẩn bị, nhưng tướng soái được sai đi chưa được chọn lựa hết. Để Dương Sùng Huân ở Trấn, Định, Hạ Thủ Vân ở Doanh châu, Lưu Hoán (劉渙) ở Thương châu, Trương Kỳ (張耆) ở Hà Dương, bệ hạ có thể yên tâm sao? Chi bằng lấy những tướng phụ ở Thiểm Tây có tiếng như đám người Địch Thanh, Phạm Toàn (范全), triệu về triều, tùy tài mà thăng dùng, gọi bọn Sùng Huân về triều hầu. Đợi Phú Bật đi sứ về, nếu may mà minh ước chưa đổi, thì cho họ trở về bản lộ; nếu quân Liêu nam tiến, thì khiến họ chia quân chống giữ phương bắc. Cơ mưu hệ trọng, xin bệ hạ xem xét."
Ngày Kỷ Hợi, lấy Tri Tần châu Hàn Kỳ làm Tần châu quan sát sứ, Tri Vị châu Vương Diên (王沿) làm Kinh châu quan sát sứ, Tri Diên châu Bàng Tịch làm Phu châu quan sát sứ, Tri Khánh châu Phạm Trọng Yêm làm Bân châu quan sát sứ.
Tháng 5, ngày Quý Mão mồng 1, dời Bính, Đại lộ Kiềm hạt Trương Hạng (張亢) làm Cao Dương quan Kiềm hạt. Ban đầu, đường đến Lân châu chưa thông, đường vận lương bị cắt, chiếu cho Hạng tự hộ tống vật thưởng từ Nam hiệu đến Lân châu. Giặc không cướp được, bèn đem mấy vạn quân tiến đến trại Bách Tử, chặn đường về của ta, Hạng chỉ có 3.000 quân, Hạng khích lệ rằng: "Các ngươi đã rơi vào chỗ chết, nếu đánh lên trước thì sống, nếu không, sẽ bị giặc giết sạch." Quân sĩ đều cảm kích. Gặp lúc gió lớn, thuận gió đánh, chém hơn 6 vạn thủ cấp, đoạt hơn 1.000 con ngựa, rồi sửa xây trại Kiến Ninh. Giặc nhiều lần ra tranh giành, đánh ở Thố Mao xuyên, Hạng tự đem đại quân chống giặc, sai dũng tướng Trương Triết (張岊) đem mấy nghìn quân cường nỏ, đoản binh phục sau núi. Hạng cho rằng quân Vạn Thắng đều là quân mộ ở Kinh sư, mệt mỏi yếu đuối, không thể chiến, giặc gọi là Đông quân, vốn khinh thường, còn quân Hổ Dực thì dũng mãnh, bèn ngầm đổi cờ để lừa giặc. Giặc quả tiến đánh Đông quân mà gặp quân Hổ Dực. Giao chiến lâu, phát phục binh, giặc đại bại, chém 2.000 thủ cấp. Chưa đầy một tháng, xây xong 5 bảo Thanh Tắc, Bách Tính, Trung Hậu, Kiến Ninh, Trấn Xuyên, đường Lân châu mới thông. Hạng lại tâu: "Nay đường thông chỉ là lối đi lại, hai bên đều trống không, không có gì ngăn giữ; nếu tăng xây các trại dọc biên để nương tựa lẫn nhau, thì có thể mở rộng ruộng chăn thả, thế lực ngoài sông càng mạnh." Việc còn chưa quyết, triều đình lo nước Liêu sẽ bội ước, bèn dời Hạng đến Cao Dương.
Ngày Canh Tuất, Hà Bắc Đô chuyển vận sứ Lý Chiêu Thuật xin sửa thành bắc Chiết châu, chiếu theo. Trước đó, sông vỡ lâu chưa lấp, Chiêu Thuật chỉ lấy danh nghĩa sửa đê, điều động 8 vạn dân binh, hơn 10 ngày thì xong. Lưu Lục Phù đi qua, tưởng là sửa đê thật, đến khi về thấy thành đã xong, rất kinh ngạc.
Ngày Nhâm Tý, ban chiếu: "Giảm một nửa vật ban cho Hoàng hậu và phụ nữ trong tông thất khi tế Giao, ghi làm khuôn phép." Lại chiếu: "Hoàng hậu, tần ngự dâng lễ mừng tiết Càn Nguyên, vật ban lại cũng giảm một nửa, phụ nữ ngoại mệnh trong tông thất tạm đình vật ban lại, đợi ngày biên sự yên ổn rồi nghe chỉ." Bấy giờ Hoàng hậu, tần ngự đều dâng 5 tháng bổng tiền để giúp quân phí, tông thất từ Thứ sử trở lên cũng nộp một nửa tiền công sử. Kinh vương Nguyên Nghiễm (元儼) nộp hết tiền công sử, chiếu cho trả lại một nửa.
Ngày Quý Sửu, lệnh Tri Bối châu, Cung bị khố sứ Khai Phong Trương Mậu Thực (張茂實) làm Hồi tạ quốc tín Phó sứ, vì Phù Duy Trung chết dọc đường, theo lời xin của Phú Bật.
Ngày Giáp Dần, chiếu cho các quan Tam quán được dâng phong sự và xin được vào chầu đối.
Ngày Mậu Ngọ, lập Đại Danh phủ làm Bắc Kinh. Tha cho tù giam ở các châu quân Hà Bắc. Nghiêm lệnh Hành cung tăng xây kho tàng, doanh xá, đều cấp tiền thưởng, không được hà khắc thu góp. Ban đầu, Phạm Trọng Yêm làm Tri Khai Phong, từng đề nghị xây thành Lạc Dương để phòng khi nguy cấp. Đến khi người Liêu sắp bội ước, người bàn việc xin theo lời Trọng Yêm, Lữ Di Giản nói: "Người Liêu sợ mạnh khinh yếu, vội xây Lạc Dương, không thể hiện uy, lại làm tăng thế lực họ; nên lập đô ở Đại Danh, tỏ ý sẽ thân chinh, để phá mưu của họ." Chiếu đã ban, Trọng Yêm lại nói: "Việc này chỉ có thể phô trương thanh thế hư, chưa đủ để dựa. Thành Lạc Dương đã không kịp, xin gấp sửa Kinh thành." Người bàn luận phần nhiều theo ý Trọng Yêm, Di Giản nói: "Đó là kế ‘buộc ngói giữ ấp Doanh’. Nếu để người Liêu qua sông, rồi mới cố thủ Kinh sư, thiên hạ nguy mất! Cho nên phòng bị phải đặt ở Hà Bắc." Cuối cùng lập Bắc Kinh, người hiểu việc khen là phải.
Ngày Kỷ Mùi, lấy Tri Thiên Hùng quân Trình Lâm (程琳) làm Tri Đại Danh phủ kiêm Bắc Kinh Lưu thủ ty.
Phía tây bắc Khánh châu có trại Mã Phố, ở cửa Hậu Kiều xuyên, sâu trong bụng giặc, Phạm Trọng Yêm muốn xây thành, đoán giặc tất tranh, bèn bí mật sai con là Thuần Hựu (純祐) cùng Phiên tướng Triệu Minh (趙明) đi chiếm trước, rồi dẫn quân theo sau. Các tướng ban đầu không biết đi đâu, đến Nhụ Viễn mới hạ lệnh, ván đất đã chuẩn bị, hơn 10 ngày thành xong, ấy là tháng 3 năm ấy, sau ban tên là Đại Thuận. Giặc biết, đem 3 vạn kỵ binh đến đánh, giả vờ thua chạy, Trọng Yêm dặn không được đuổi, sau quả có phục binh. Đại Thuận đã thành, Bạch Báo, Kim Thang đều bị chặn, không dám động, từ đó Hoàn, Khánh ít bị giặc.
Ngày Quý Hợi, tân Bân châu quan sát sứ Phạm Trọng Yêm, Phu châu quan sát sứ Bàng Tịch đều lại được phong làm Long đồ các trực học sĩ, theo lời xin của họ.
Ban đầu, Trọng Yêm dâng biểu nói: "Thần giữ biên giới mấy năm, người Khương khá thân yêu thần, gọi thần là ‘Long đồ lão tử’. Nay đổi làm Quan sát sứ, thì tên gọi sẽ lẫn với các thủ lĩnh bộ tộc, e bị giặc khinh; lại không có công, không nên tăng bổng lộc." Lời từ rất thiết tha, biểu dâng 3 lần, rồi mới được theo.
Ngày Giáp Tý, triệu Giang Nam Đông lộ Chuyển vận sứ Dương Sát (楊察) vào làm Tả chính ngôn, Tri chế cáo. Sát ở địa phương, chuyên lấy việc tiến cử quan lại làm việc gấp, có người chê, Sát nói: "Đó là chức phận của quan Án sát. Chỉ nhặt nhạnh tiền thừa, thì bọn tục lại cũng làm được."
Ngày Ất Sửu, bãi lệ mỗi tháng nộp tiền của Tả tàng khố. Hoàng đế nói với các phụ thần: "Đó là điều ‘cung cấp cho sở thích của vua’ mà Chu quan nói, trong cung trẫm không có chỗ dùng, nên bỏ để giúp công quỹ."
Trấn Định phủ, Định châu lộ Đô bố trí sứ Vương Đức Dụng vào chầu tâu việc, lệnh làm Tuyên huy Nam viện sứ, phán Thành Đức quân, chưa đi, lại đổi phán Định châu kiêm Tam lộ Đô bố trí sứ; dời phán Định châu Dương Sùng Huân làm phán Thành Đức quân. Sùng Huân già, không đảm đương việc, nên dời.
Đức Dụng đến, ngày ngày dạy quân sĩ tập chiến, ít lâu sau đều dùng được. Người Liêu sai người đến do thám, có người xin bắt giết. Đức Dụng nói: "Họ được tin thực mà báo, tức là ta dùng không chiến mà phục người." Hôm sau, đại duyệt ở ngoại ô, đánh trống thề sư, tiến lui, ngồi đứng, suốt ngày không giết một người. Bèn hạ lệnh, chuẩn bị lương khô, nghe tiếng trống, nhìn cờ ta chỉ hướng nào thì theo. Người do thám về báo trong nước, nói quân Hán sắp đại tiến. Sau lại bàn hòa, binh mới giải. Khi ấy phát binh đồn trú Định châu gần 6 vạn người, đều ở trọ quán xá và nhà dân, không ai dám ồn ào, hung bạo. Tướng tá dặn nhau: "Chúng ta mỗi người phải thu liễm quân sĩ, chớ để quấy nhiễu Bồ Tát của ta."
Lấy Cao Dương quan lộ Kiềm hạt Trương Hạng Quyền tri Doanh châu kiêm bản lộ Bố trí ty sự, vì Hạ Thủ Vân bệnh.
Ngày Đinh Mão, dời Tri Thành Đức quân Trương Tồn (張存) làm Hà Bắc Chuyển vận sứ. Trước đó, Tồn dâng tấu nói: "Nước Liêu kết hôn với Nguyên Hạo, e ngầm giúp đỡ nhau. Thành trì Hà Bắc lâu không sửa, nên để ý." Bèn xây hết các thành châu Hà Bắc, giao Tồn đốc sát.
Ngày Mậu Thìn, chiếu: "Hữu ty phải nhắc lại rõ ràng các điều khoản trước sau, cấm dùng việc nấu vàng, dát vàng, chạm vàng làm y phục, bắt đầu từ trong cung, dân thường phạm thì tất xử theo luật."
Tháng 6, ngày Giáp Tuất, xuất 1 triệu lạng bạc trong Nội tàng khố, lụa, the mỗi thứ 1 triệu tấm, cấp cho biên phí.
Ngày Nhâm Ngọ, Liêu chúa ngự Hàm Lương điện, cho 64 người Tiến sĩ như Vương Thực (王寔) đỗ.
Nước Liêu cấm bán nỉ, bạc cho nhà Tống.
Ngày Quý Mùi, dời Tri Hàng châu Trịnh Tiển (鄭戩) làm Tri Bính châu kiêm Hà Đông lộ Kinh lược An phủ dọc biên, Chiêu thảo sứ, sau lại đổi làm Tri Vận châu. Hàng châu có hồ Tiền Đường, tưới ruộng dân mấy chục khoảnh, họ Tiền đặt quân Liêu thanh để đào vét bùn lấp. Sau khi nhập quốc, không sửa, cỏ bùn lấp kín, bị hào tộc, chùa chiền chiếm đoạt, nước hồ càng hẹp. Tiển điều động mấy vạn dân phu các huyện thuộc hạt khai thông, dân được lợi. Việc tâu lên, chiếu lệnh Hàng châu mỗi năm sửa như phép của Tiển.
Ngày Bính Tuất, lập trại Bắc Bình ở Định châu làm Bắc Bình quân.
Ngày Mậu Tý, lấy Phó Khu mật sứ Nhâm Trung Sư (任中師) làm Tu sửa Bắc Kinh sứ, lấy Nhập nội Phó đô tri Hoàng Phủ Kế Minh (皇甫繼明) làm Phó.
Ngày Ất Mùi, lấy Thiên chương các Đãi chế Minh Hạo (明鎬) làm Tri Bính châu kiêm Hà Đông Kinh lược An phủ dọc biên, Chiêu thảo sứ. Khi ấy, chức vụ biên giới phần nhiều là con cháu nhà giàu, Hạo lo họ làm hỏng việc quân, bèn lấy những kẻ bất xứng mà đánh roi. Bọn con cháu yếu đuối đều tự xin thôi, lại tâu chọn người quen việc giữ các bảo trại. Quân đi, kỹ nữ phần nhiều theo. Gặp việc tranh giận giết một kỹ nữ, Hạo không hỏi. Kỹ nữ nghe thế, đều tản đi.
Tháng này, Thị ngự sử Ung Khâu Ngư Chu Tầm (魚周詢) hặc Phán Hà Dương Trương Kỳ (張耆) trông coi phiên trấn vô đạo, xin cho về kinh dưỡng bệnh; sau dời Kỳ làm Phán Trần châu, lại dời Thọ châu.
Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Dần mồng 1, Tri Gián viện Trương Phương Bình dâng sớ xin bãi Khu mật viện, gộp chức vụ vào Trung thư, không được trả lời.
Ngày Bính Ngọ, Phó Khu mật sứ Nhâm Bố (任布) bị bãi làm Tri Hà Dương.
Bố làm Khu mật, nhiều lần trái ý Tể tướng Lữ Di Giản. Con trưởng của Bố là Tốn (遜), vốn cuồng ngu, Di Giản biết, bèn dọa cho nói việc, hứa cho làm quan Gián. Tốn liền dâng thư, chê trách các quan chấp chính, lại chê Bố bất tài. Bố thấy thư, giấu đi. Di Giản lại giục Tốn dâng thư. Tốn lại dâng thư kể tội người giấu. Hoàng đế hỏi, biết người giấu là Bố, Bố tạ rằng: "Con thần từ nhỏ có bệnh tâm thần, lời nói điên đảo, sợ làm nhục triều đình, nên không dám công bố." Thị ngự sử Ngư Chu Tầm nhân đó hặc tội Bố, Bố bèn bị bãi. Tốn vẫn ở lại Kinh sư, mong được bổ làm quan Gián, Di Giản sau nhân việc khác mà bị giáng.
Ngày Mậu Ngọ, lấy Hữu Bộc xạ, Bình chương sự Lữ Di Giản phán Khu mật viện sự, Hộ bộ Thị lang, Bình chương sự Chương Đắc Tượng (章得象) kiêm Khu mật sứ, gia Khu mật sứ Yến Thù (晏殊) làm Đồng Bình chương sự. Ban đầu, Phú Bật đề nghị Tể tướng kiêm quyền Khu mật sứ, Hoàng đế nói: "Việc quân quốc nên giao hết cho Trung thư, Khu mật không phải chức cổ." Nhưng chưa muốn bãi ngay, nên chỉ lệnh Trung thư cùng bàn việc Khu mật viện. Đến khi Trương Phương Bình xin bãi Khu mật viện, Hoàng đế bèn dùng lại ý kiến của Bật, lệnh Di Giản phán viện sự, Đắc Tượng kiêm sứ, Thù gia Đồng Bình chương sự, chức vụ như cũ.
Ban đầu, Phú Bật, Trương Mậu Thực được sai đi báo nước Liêu về hai việc kết hôn và tăng tiền lụa hàng năm, cho tùy ý chọn. Bật và Mậu Thực đến nước Liêu, Đặc Mặc đã được gia Đồng chính sự môn hạ Bình chương sự, Lưu Lục Phù làm Hành cung Phó bố trí. Liêu chúa lệnh Lục Phù làm Quán bạn. Lục Phù nói Hoàng đế Nam triều kiên quyết muốn cắt đất, Bật nói: "Đó tất là chí muốn phá ước, mượn cớ ấy. Nam triều chỉ có thể cầm ngang giáo mà chờ thôi." Lục Phù nói: "Nam triều kiên trì, việc sao thành được?" Bật nói: "Bắc triều vô cớ đòi cắt đất, Nam triều không lập tức phát binh, mà sai sứ dùng lời tốt đẹp bàn lại, đó há là Nam triều kiên trì sao?"
Đến khi yết kiến Liêu chúa, Bật nói: "Hai triều nối tiếp giao hảo gần 40 năm, bỗng một ngày đòi cắt đất, là vì sao?" Liêu chúa nói: "Nam triều trái ước, chặn Yến Môn, tăng nước ao, sửa thành hào, ghi tên dân binh, đó là ý gì? Quần thần tranh nhau xin khởi binh, trẫm cho rằng không bằng sai sứ đòi đất cũ phía nam quan ải, nếu đòi không được, khởi binh cũng chưa muộn." Bật nói: "Bắc triều giao hảo với Trung Quốc, thì người chủ hưởng hết lợi, bề tôi không được gì. Nếu dùng binh, thì lợi về bề tôi, mà người chủ gánh họa. Cho nên kẻ khuyên dùng binh đều là mưu cho thân mình, không phải kế nước."
Liêu chúa kinh ngạc hỏi: "Sao nói thế?" Bật nói: "Cao Tổ nhà Tấn lừa trời phản vua, cầu viện phương bắc, Mạt Đế hôn loạn, người thần đều bỏ. Khi ấy Trung Quốc đất hẹp, trên dưới ly tán, nên Bắc triều toàn quân mà thắng, tuy bắt được vàng bạc, đầy nhà bọn Ngưu, Nhận, nhưng tráng sĩ, ngựa khỏe chết mất quá nửa, ai sẽ gánh cái họa ấy? Nay Trung Quốc cương vực vạn dặm, quân tinh nhuệ khắp nơi tính bằng vạn, Bắc triều dùng binh, có thể bảo tất thắng không?" Liêu chúa nói: "Không thể." Bật nói: "Thắng bại chưa biết, giả sử thắng, số binh sĩ, ngựa chết mất, bề tôi gánh chăng, hay người chủ gánh? Nếu giao hảo không dứt, tiền lụa hàng năm đều về người chủ, bề tôi được lợi gì!" Liêu chúa đại ngộ, gật đầu lâu. Bật lại nói
Liêu chúa nói: "Nếu không có lời khanh, ta không biết rõ. Nhưng điều ta muốn được là đất cũ của Tổ tông mà thôi." Bật nói: "Cao Tổ nhà Tấn lấy một đạo Lư Long dâng cho Khiết Đan, Thế Tông nhà Chu lại đánh lấy đất phía nam ải, đều là việc đời khác. Nhà Tống hưng đã 90 năm, nếu mỗi bên đều muốn đòi đất cũ đời khác, há là lợi cho Bắc triều sao?" Liêu chúa không nói, thong thả bảo: "Nguyên Hạo xưng phiên, lại làm rể ta, Nam triều đánh hắn mà không báo trước với ta, sao vậy?" Bật nói: "Bắc triều trước đánh Cao Ly, Hắc Thủy, há từng báo với Nam triều? Hoàng đế Nam triều sai thần chuyển ý với bệ hạ rằng: ‘Trước không biết Nguyên Hạo kết thân với em, vì hắn phụ ân quấy biên, nên đánh, mà em lại phiền trách. Nay đánh thì tổn thương tình anh em, không đánh thì không nỡ ngồi nhìn quan dân chết, không biết em xử trí thế nào?’" Liêu chúa quay sang nói tiếng nước mình với bề tôi hồi lâu, rồi nói: "Nguyên Hạo làm giặc, há có thể khiến Nam triều không đánh sao?"
Lui ra, Lục Phù nói với Bật: "Chúa ta xấu hổ nhận vàng lụa, kiên quyết muốn 10 huyện, làm sao?" Bật nói: "Hoàng đế Nam triều từng nói: ‘Trẫm là con cháu người ta, há dám bừa bãi đem đất cũ của Tổ tông cho người! Xưa ở Chiết châu gươm giáo đối nhau, Chương Thánh còn không cho đất phía nam ải, há nay chịu cắt đất! Lại Bắc triều muốn có 10 huyện, chẳng qua là tham thuế khóa, nay dùng vàng lụa để thay, cũng đủ làm vốn cho nước. Trẫm nghĩ đến sinh dân hai nước, không muốn khiến họ gan óc đổ ra đất, không tiếc vàng lụa để chiều lòng Bắc triều. Nếu Bắc triều nhất định muốn đất, là chí ở bội ước bỏ hòa, trẫm há một mình tránh dùng binh được sao? Minh ước Thiền Uyên, trời đất thần kỳ cùng chứng giám. Nay Bắc triều trước phát binh, lỗi không ở trẫm. Trời đất quỷ thần, há có thể lừa dối!’" Lục Phù bảo người tùy tùng: "Hoàng đế Nam triều giữ lòng như thế, rất tốt. Nên cùng tâu, khiến hai chúa hiểu ý nhau."
Hôm sau, Liêu chúa triệu Bật cùng đi săn, dắt ngựa Bật đến gần, hỏi điều muốn nói, Bật nói: "Nam triều chỉ muốn tình giao hảo lâu dài mà thôi." Liêu chúa nói: "Được đất thì giao hảo có thể dài lâu." Bật nói: "Hoàng đế Nam triều sai thần chuyển lời với bệ hạ rằng: ‘Bắc triều muốn được đất cũ của Tổ tông, Nam triều há chịu mất đất cũ của Tổ tông sao? Lại Bắc triều đã lấy được đất làm vinh, thì Nam triều tất lấy mất đất làm nhục. Hai nước anh em há có thể khiến một bên vinh, một bên nhục! Trẫm chẳng phải quên đất cũ Yên, Kế, nhưng cũng không thể lại bàn việc ấy, chỉ nên hai bên tự hiểu nhau thôi.’" Lui ra, Lục Phù nói với Bật: "Hoàng đế nghe lời nói về vinh nhục của ông, rất cảm ngộ. Nhưng vàng lụa tất không muốn lấy, chỉ việc kết hôn là có thể bàn." Bật nói: "Kết hôn dễ sinh hiềm khích, huống chi tình vợ chồng khó bảo, thọ mệnh dài ngắn khác nhau, không bằng tăng vàng lụa cho tiện." Lục Phù nói: "Hoàng đế Nam triều tất có con gái." Bật nói: "Công chúa mới có 4 tuổi, thành hôn phải đợi hơn 10 năm nữa. Nay muốn giải nghi ngờ trước mắt, há có thể đợi sao?" Bật đoán người Liêu muốn kết hôn, ý ở chỗ được nhiều vàng lụa, bèn nói: "Lệ Nam triều gả công chúa, của hồi môn không quá 10 vạn quan." Do đó người Liêu ý muốn kết hôn chậm lại, và bảo Bật về. Bật nói: "Hai việc chưa quyết, sao dám về không! Xin ở lại đến khi bàn xong."
Liêu chúa nói: "Đợi khanh đến lần nữa, sẽ chọn một việc nhận, nên đem cả thệ thư đến." Bật về tâu, lại phong Bật làm Lại bộ Lang trung, Khu mật trực học sĩ, Bật lại từ chối không nhận.
Ngày Quý Hợi, Bật và Mậu Thực lại đem hai việc sang nước Liêu, bấy giờ Lữ Di Giản truyền ý Hoàng đế, lệnh Bật thảo thư trả lời nước Liêu và thệ thư, tổng cộng quốc thư 2 bản, thệ thư 3 bản. Nếu bàn kết hôn thì không có vàng lụa. Nếu người Liêu có thể khiến nước Hạ lại quy phục, thì tăng vàng lụa hàng năm lên 20 vạn, nếu không thì 10 vạn.
Bật tâu xin trong thệ thư thêm 3 điều: một là hai bên không được mở rộng ao đầm; hai là mỗi bên không được vô cớ tăng quân đồn trú; ba là không được chứa chấp người trốn chạy các loại. Bật nhân đó xin sao bản phụ để mang theo. Trung sứ đêm mang 5 phong thệ thư và bản phụ, đuổi kịp Bật ở Vũ Cường mà trao. Bật đi đến Lạc Thọ, tự nghĩ: "Ba điều thêm vào đều là ước trước của người Liêu, vạn nhất lời văn khác nhau, thì họ tất nghi, việc ta sẽ hỏng." Bèn bí mật mở bản phụ xem, quả như dự liệu, liền dâng sớ báo. Lại sai thuộc hạ là Tống Thành (宋誠), Thái Đĩnh (蔡挺) đến Trung thư bạch với các quan chấp chính. Hoàng đế muốn biết việc phương bắc, vội triệu Đĩnh vào tiện điện, bèn chiếu cho Bật, ba điều ấy chỉ nên nói miệng. Bật biết đó là âm mưu của các quan chấp chính, bèn gửi lễ vật nhờ Mậu Thực, phi ngựa về Kinh sư, gần giờ Dậu, gõ cửa các môn xin vào chầu, quan giữ cửa giữ theo lệ cũ phải dâng tên trước, hôm sau mới cho vào. Bật trách, bèn gấp tâu, được vào yết kiến, nói: "Các quan chấp chính làm thế là muốn khiến thần chết. Thần chết không đáng tiếc, nhưng việc nước thì sao!" Hoàng đế vội triệu Lữ Di Giản và những người khác hỏi. Di Giản ung dung nói: "Đó là nhầm, sẽ sửa." Bật càng công kích Di Giản. Yến Thù nói: "Di Giản quyết không làm thế, chỉ e là nhầm." Bật giận nói: "Thù là đứa gian tà, kết bè với Di Giản để lừa bệ hạ!" Bèn chiếu lệnh Vương Củng Thần đổi thư. Đêm ấy, Bật ngủ ở Học sĩ viện, hôm sau mới đi.
Tháng 8, ngày Mậu Tý, xuất 1 phần 10 tiền trong Nội tàng khố để sửa Hành cung Bắc Kinh. Khi ấy Nhâm Trung Sư tâu Hành cung phần nhiều đổ nát, xin sửa lại. Hoàng đế lệnh xây mới điện ngủ và các lầu góc, còn lại chỉ tu bổ; từ Kinh đến Hành cung Đức Thanh quân, quán dịch, nha xá cũng tùy mức mà sửa.
Tháng 9, ngày Tân Sửu mồng 1, lấy Thái thường bác sĩ Dương Trạch Tôn Phủ (孫甫) làm Bí các Giáo lý, do Phó Khu mật sứ Đỗ Diên tiến cử. Ban đầu, Diên giữ Kinh Triệu, mời Phủ làm Tri Phủ ty Lục sự, mọi việc nhỏ của nha lại đều trông cậy. Phủ nói: "Đối đãi ta như thế, có thể đi rồi." Diên nghe, không giao việc nhỏ cho Phủ nữa. Diên nói chuyện với Phủ, Phủ tất dẫn kinh mà đáp, nói đến hiền tài trong thiên hạ, lần lượt bình luận tài tính sở trường, Diên nói: "Ta mời thuộc hạ, mà được bạn tốt."
Ban đầu, lệnh Lữ Di Giản phán Khu mật viện sự, chiếu vừa tuyên, sương vàng mù mịt, gió bụi cả ngày, triều luận rất ồn. Tham tri chính sự Vương Cửu Chính (王舉正) nói: "Thể hai phủ ngang nhau, chữ ‘phán’ quá nặng, không thể không tránh." Hữu chính ngôn Điền Huống lại nói. Di Giản cũng không dám nhận; ngày Bính Ngọ, đổi làm kiêm Khu mật sứ.
Thiểm Tây Chuyển vận ty tâu: "Gần đây thêm 7 vạn quân ăn lương, tiền lương gần 3 triệu quan, xin bàn kỹ." Chiếu lệnh Tam ty chia hoạch mà tâu. Tri Gián viện Trương Phương Bình xin chọn cận thần chia đi các đạo, đến các quan biên, cùng bàn sâu kế làm giàu, tiết dụng, giữ vững lâu dài. Như kỵ binh dọc biên, tính nuôi một ngựa có thể nuôi 5 lính. Tây Nhung xuất ngựa tốt, địa thế hiểm, kỵ binh ta thật không thể so. Nhiều giữ quân kỵ, vừa không dùng được, chỉ phí cỏ lương. Nay đang phòng bị Khiết Đan ở phía bắc, đó là nơi dùng kỵ binh. Xin đem quân mới tuyển ở Thiểm Tây, phần nhiều đổi kỵ binh về phía đông, một là giảm vận chuyển ở Quan Trung, hai là phòng chiến thủ Hà Bắc.
Phú Bật, Trương Mậu Thực ngày Ất Mùi tháng 8 đến nước Liêu, hôm sau, dẫn Bật và những người khác yết kiến Liêu chúa, Liêu chúa nói: "Việc kết thân khiến cốt nhục Nam triều chia lìa, hoặc công chúa với Lương vương không hòa hợp, thật không bằng tăng vàng lụa hàng năm. Nhưng phải thêm chữ ‘hiến’ trong thệ thư mới được." Bật nói: "‘Hiến’ là lời kẻ dưới dâng lên trên, không thể dùng với nước địch. Nam triều là anh, há có chuyện anh ‘hiến’ cho em sao?" Liêu chúa nói: "Nam triều đem nhiều tiền lụa cho ta, là sợ ta, chữ ‘hiến’ có gì tiếc?" Bật nói: "Hoàng đế Nam triều rất tiếc sinh linh, nên đem tiền lụa thay cho gươm giáo, không phải sợ Bắc triều. Nay bệ hạ bỗng nói thế, là muốn bỏ hẳn giao hảo cũ, dùng điều không thể mong mà ép nhau thôi." Liêu chúa nói: "Đổi thành chữ ‘nạp’ thì sao?" Bật nói: "Cũng không được." Liêu chúa nói: "Thệ thư đâu? Lấy bản 20 vạn đến." Bật đưa, Liêu chúa nói: "Chữ ‘nạp’ từ xưa đã có." Bật nói: "Xưa chỉ Cao Tổ nhà Đường mượn binh Đột Quyết, nên làm thần. Khi ấy những thứ đem cho, hoặc gọi ‘hiến’, ‘nạp’, cũng không biết. Sau đó Hiệt Lợi bị Thái Tông bắt, há còn có lễ ấy nữa?" Liêu chúa thấy Bật lời sắc mặt đều cứng, đoán không thể ép, nói: "Ta tự sai sứ bàn với Nam triều." Bèn Liêu chúa giữ lại thệ thư tăng vàng lụa 20 vạn, ngày Nhâm Dần, sai Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先), Lưu Lục Phù đến bàn chữ "hiến", "nạp".
Ngày Ất Tị, Bật và những người khác về đến Hùng châu, chiếu: "Lập tức lấy Bật làm Tiếp bạn sứ, việc gì triều đình cần biết trước, phải gấp tâu." Bật tâu: "Họ đòi hai chữ ‘hiến’, ‘nạp’, thần lấy chết mà chống, khí thế họ đã nhụt, không thể lại cho."
Ngày Ất Sửu, Bắc viện Phó Khu mật sứ nước Liêu Da Luật Nhân Tiên, Hán nhân Hành cung Phó bố trí Lưu Lục Phù vào chầu, đem thệ thư đến. Lại bàn văn thư dùng chữ "cống", người bàn luận cho là khó. Nhân Tiên nói: "Trước đây Thạch Tấn báo đáp bản triều, cắt đất để ‘hiến’, người Chu cướp mà lấy, phải trái lợi hại đã rõ ràng." Bàn luận giằng co không quyết. Triều đình dùng ý kiến Yến Thù, cho dùng chữ "nạp".
Tháng nhuận, ngày Canh Thìn, lại phong Hữu chính ngôn, Tri chế cáo Phú Bật làm Lại bộ Lang trung, Khu mật trực học sĩ, Bật lại cố từ. Trước đó, Bật nhiều lần bàn việc trái ý Lữ Di Giản, nhân tiến cử Bật đi sứ Liêu, muốn nhân việc mà tội ông. Quán các Giáo kham Âu Dương Tu (歐陽修) dâng thư, dẫn việc Nhan Chân Khanh (顏真卿) đi sứ Lý Hi Liệt, xin giữ Bật, không được trả lời. Bật nhận mệnh không hề từ, lần đầu đi sứ, nghe tin một con gái chết, lần thứ hai đi sứ, nghe tin một con trai sinh, đều không quay đầu; nhận thư nhà, không mở mà đốt, nói: "Chỉ làm loạn lòng người thôi."
Ngày Nhâm Ngọ, lấy Thái tử Trung doãn, Thông phán Tần châu Doãn Thâu (尹洙) làm Trực Tập hiền viện. Thâu dâng tấu nói mệnh lệnh thay đổi nhiều, ân sủng quá mức, ban thưởng không tiết độ, lời rất thẳng.
Ngày Quý Tị, Kinh Nguyên Phó Đô bố trí Cát Hoài Mẫn (葛懷敏) giao chiến với Nguyên Hạo, chết ở trại Định Xuyên.
Trước đó, Nguyên Hạo rêu rao sẽ vào cướp, tháng này, ngày Tân Mùi mồng 1, Vương Diên lệnh Hoài Mẫn đem quân chống. Ngày Kỷ Mão, đến trại Ngõa Đình, sai Bản trại Đô giám Hứa Tư Thuần (許思純), Hoàn Khánh Đô giám Lưu Hạ (劉賀) đem hơn 5.000 quân phiên làm cánh trái, Thiên Thánh trại chủ Trương Quý (張貴) làm hậu quân. Ngày Mậu Tý, tiến đóng ở Ngũ Cốc khẩu. Tri Trấn Nhung quân Tào Anh (曹英), Kinh Nguyên lộ Đô giám Triệu Tuấn (趙珣), Tây lộ Đô tuần kiểm Lý Lương Thần (李良臣), Mạnh Uyên (孟淵) đều từ ngoài núi đến hội, Dọc biên Đô tuần kiểm sứ Hướng Tiến (向進), Lưu Trạm (劉湛) làm tiên phong, Triệu Du (趙瑜) tổng lĩnh quân kỳ làm viện.
Đến khi đại quân đến trại An Biên, cỏ lương chưa hết, Hoài Mẫn liền rời quân, đêm đến nghỉ ở phía bắc Bảo Khai Viễn 1 dặm. Ngày Canh Dần, dẫn đại quân từ tây nam Trấn Nhung quân, lại trước dẫn hơn 100 kỵ binh đi trước. Tẩu mã Thừa thụ Triệu Chính (趙政) cho là gần giặc, không thể tiến nhẹ, Hoài Mẫn bèn dừng lại ít lâu, chiều tối, tiến đến thành Dưỡng Mã. Tào Anh và Kinh Nguyên Đô giám Lý Tri Hòa (李知和), Vương Bảo (王保), Vương Văn (王文), Trấn Nhung Đô giám Lý Nhạc (李嶽), Tây lộ Đô tuần kiểm sứ Triệu Lân (趙璘) v.v. chia quân đóng ở phía tây thành Trấn Nhung 6 dặm, đêm thì vào thành tự thủ, tổng cộng 3 ngày, đến nay cũng tiến đến thành Dưỡng Mã gặp Hoài Mẫn, nghe Nguyên Hạo dời quân ra ngoài Tân Hào, bèn bàn sáng sớm đánh úp. Triệu Tuấn nói với Hoài Mẫn: "Giặc từ xa đến, lợi ở đánh nhanh, nên dựa vào thành Mã Lan mà dựng trại, chặn đường về của giặc, giữ vững Trấn Nhung để tiện đường lương, đợi chúng mệt mà đánh, tất thắng. Nếu không, tất bị giặc giết." Hoài Mẫn không nghe, lệnh các tướng chia 4 đường tiến đến Định Xuyên, Lưu Trạm, Hướng Tiến ra cửa Tây Thủy, Triệu Tuấn ra bảo Liên Hoa, Tào Anh, Lý Tri Hòa ra bảo Lưu Phần, Hoài Mẫn ra bảo Định Tây.
Sau đó Tri Hòa và Anh thúc quân đêm đi. Ngày Tân Mão, Lưu Trạm, Hướng Tiến đi đến bảo Triệu Phúc Tân, gặp giặc, đánh không thắng, giữ ải Hướng Gia. Còn Triệu Tuấn, Tào Anh, Lý Lương Thần, Mạnh Uyên v.v. sắp đến Định Xuyên, Hoài Mẫn lại lệnh cứu bảo Triệu Phúc; chưa đi, thám báo nói giặc đã đóng trên biên hào, lại gọi bọn Tuấn vào Định Xuyên. Gặp lúc quân phiên dưới trướng Lý Tri Hòa báo có 5.000 giặc xếp hàng ở phía bắc trại Định Xuyên; ít lâu sau, Vương Văn, Lý Tri Hòa, trại chủ Định Xuyên Quách Luân (郭綸) lại báo đã phá trại, vượt hào. Hoài Mẫn lệnh Triệu Tuấn cùng con là Tông Thịnh (宗晟) đi trước, gần trưa, Hoài Mẫn vào giữ trại Định Xuyên. Giặc phá cầu gỗ, cắt đường về, lại làm 24 đường để qua quân, vây quanh, lại cắt nguồn nước trên của Định Xuyên. Lưu Hạ dẫn quân phiên đánh ở phía tây sông, không thắng, quân tan.
Hoài Mẫn làm trung quân, đóng ở phía đông cửa trại, bọn Tào Anh bày trận ở góc đông bắc. Giặc bốn mặt cùng đến, trước dùng quân nhọn đánh trung quân, không động, quay đánh Tào Anh. Gặp gió đen từ đông bắc nổi lên, hàng ngũ lạc, trận rối, quân sĩ leo tường tranh vào. Anh bị tên xuyên mặt, ngã xuống hào, quân Hoài Mẫn thấy thế cũng chạy tán. Hoài Mẫn bị quân vây, giẫm đạp suýt chết, khiêng đến Ông thành, lâu sau mới tỉnh. Hoài Mẫn chọn quân giữ cầu cửa, vung đao chém người vào cửa. Triệu Tuấn dẫn quân cầm đao rìu đánh trước, lại dùng kỵ binh bốn phía chống giặc, giặc hơi lui. Nhưng đại quân không có chí chiến đấu, Triệu Tuấn nhiều lần phi ngựa vào, khuyên Hoài Mẫn trở về trong quân. Đêm ấy, giặc tụ đông, vây bốn góc thành, đến góc tây bắc gọi to: "Các ngươi chẳng phải là người vẽ bản đồ điểm trận ở phủ Đô bố trí sao? Các ngươi vốn giỏi quân sự, mà vào vòng vây của ta, nay sẽ đi đâu!" Đêm canh tư, Hoài Mẫn triệu các tướng bàn, không biết ra sao, bèn mưu kết trận chạy về Trấn Nhung quân. Triệu Tuấn xin đi từ thành Long Can: "Ở đó không hiểm, lại ra ngoài ý giặc." Mọi người không theo, đến sáng. Hoài Mẫn buộc ngựa, chạy về đông nam hơn 2 dặm, đến hào Trường Thành, đường đã bị cắt, giặc vây quanh, Hoài Mẫn và các tướng la bọn Tào Anh 16 người đều bị giết, 9.400 quân sĩ, hơn 600 ngựa đều rơi vào tay giặc. Con Hoài Mẫn là Tông Thịnh cùng Quách Kinh (郭京) trở về giữ Định Xuyên. Giặc thẳng tiến đến Vị châu, dọc đường 6–7 trăm dặm, đốt phá nhà cửa, giết cướp dân cư mà đứng chân.
Từ khi Lưu Bình (劉平) bại ở Diên châu, Nhâm Phúc (任福) bại ở Trấn Nhung, Cát Hoài Mẫn bại ở Vị châu, thanh thế giặc càng lớn. Nhưng sở dĩ chúng vẫn phải giữ hang ổ, là vì lộ Phu Diên đồn trú 68.000 quân, lộ Hoàn Khánh 50.000, lộ Kinh Nguyên 70.000, lộ Tần Phụng 27.000, nên có thể kiềm chế thế lực chúng.
Ngày Mậu Tuất, chiếu cho Hà Bắc Đô chuyển vận ty, Dọc biên An phủ ty: "Nay nước Liêu lại bàn hòa, nên cáo dụ dân chúng, mọi thứ sưu dịch đều bãi bỏ."