Thái Tông Chí Nhân Ứng Vận Thần Công Thánh Đức Duệ Liệt Đại Minh Quảng Hiếu hoàng đế, húy là Quýnh (炅), lúc đầu tên là Khuông Nghệ (匡乂), sau đổi ban tên là Quang Nghĩa (光義), đến năm thứ 2 sau khi lên ngôi lại đổi thành tên húy hiện nay. Là em cùng mẹ với Thái Tổ. Năm Thiên Phúc thứ 4 đời Hậu Tấn, tháng 10, ngày Giáp Thìn, sinh tại công xá ở Tuấn Nghi; đêm ấy có ánh sáng đỏ bốc lên như lửa. Đến khi trưởng thành, sống mũi rồng, dung mạo rồng, trông vào thì nghiêm trang. Tính ưa học, giỏi văn nghiệp, đa tài đa nghệ. Làm quan nhà Chu đến chức Cung phụng quan đô tri. Thái Tổ lên ngôi, dùng làm Điện tiền đô ngu hậu, kiêm Mục châu Phòng ngự sứ, sau lại kiêm Cung Ninh quân Tiết độ sứ, gia Đồng bình chương sự, quyền Khai Phong doãn, lại gia kiêm Trung thư lệnh, phong Tấn vương.
Tháng 12, ngày Giáp Dần, Hoàng đế ngự điện Càn Nguyên nhận triều hạ, treo nhạc mà không tấu, đại xá, đổi niên hiệu. Lệnh cho các con của Thái Tổ và con của Tề vương Đình Mỹ đều xưng là Hoàng tử, 3 công chúa lấy người họ Vương, họ Thạch, họ Ngụy đều xưng là Hoàng nữ.
Ngày Đinh Tị, lấy Khu mật trực học sĩ, Tả chính gián đại phu Giả Hoàn làm Tam ty phó sứ. Chức Phó sứ Tam ty đặt ra từ đây.
Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu sai Tiêu Ba Cố Tế sang cống.
Trước đó, ở Xuyên, Hiệp chia lộ đặt Chuyển vận sứ, muối ở Hiệp đều dồn về Kinh Nam, dân Tứ Xuyên thiếu ăn. Thái Tổ sai sứ hặc tội 2 lộ Chuyển vận sứ. Đến khi Hoàng đế lên ngôi, đều tha cho. Bèn sai Tây Xuyên Chuyển vận sứ Thân Văn Vĩ kiêm nhiệm từ xa lộ Hiệp, Chuyển vận phó sứ Hàn Khả Tần kiêm nhiệm lộ Tây Xuyên, để cho muối, thóc lưu thông.
Nhà Liêu ra chiếu, ở Nam Kinh phục đặt Lễ bộ Cống viện.
Tháng ấy, chiếu bãi binh ở Hà Đông, Tuyên huy Nam viện sứ Phan Mỹ, Thị vệ Mã quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến đều tự giải doanh về triều.
Năm ấy, người Cao Ly là Kim Hành Thành lần đầu vào học ở Quốc tử giám.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Nhâm Tuất, vì Đại hành hoàng đế còn quàn linh cữu, không thiết triều. Ngày Bính Dần, sai Lễ bộ viên ngoại lang Giả Hoàng Trung, Tả bổ khuyết Trình Năng, Tả tán thiện đại phu Phùng Toản chia nhau trông coi 3 kho Tả tàng. Trước đó, tiền của và vàng lụa cùng do một nơi quản, lâu ngày, tích trữ dư dật, nay mới sai chia ra. Hoàng Trung chẳng bao lâu được cử ra làm Tri Thăng châu. Ông từng đi xem xét nha phủ, thấy một phòng khóa chặt, bèn sai mở khóa xem, được mấy chục rương vàng ngọc, tính giá trị đến mấy trăm vạn, là vật còn sót lại trong cung các nhà Lý, chưa ghi vào sổ sách, bèn dâng biểu tâu lên. Hoàng đế nói: “Nếu không phải Hoàng Trung liêm khiết cung kính, thì bảo vật của nước mất này ắt sẽ làm bẩn phép nước mà hại người rồi.” Ban cho 20 vạn tiền.
Chiếu: “Thần liêu trong ngoài không được tranh lợi với dân.”
Nữ Chân sai sứ sang triều cống nhà Liêu.
Hoàng đế mới lên ngôi, vì cương vực rất rộng, số quan lại càng nhiều, muốn rộng rãi cất nhắc kẻ bị chìm đắm để bổ sung chỗ thiếu, bèn bảo thị thần rằng: “Trẫm muốn rộng rãi cầu người tuấn kiệt ở chốn khoa trường, chẳng dám mong chọn 10 được 5; chỉ được 1, 2 người, cũng có thể là khí cụ để dựng nên trị thế vậy.” Trước đó, các đạo tiến cử cống sĩ tổng cộng hơn 5.300 người, bèn sai Thái tử trung doãn, Trực Xá nhân viện Trương Tế, Hữu bổ khuyết Thạch Hy Tải khảo thí Tiến sĩ, Tả tán thiện đại phu Hầu Đào v.v. khảo thí các khoa khác, Hộ bộ lang trung Hầu Trĩ giám sát. Hy Tải là người Lạc Dương.
Bấy giờ Lễ bộ dâng danh sách những người trúng cách. Ngày Mậu Thìn, Hoàng đế ngự điện Giảng Vũ, trong cung đưa ra đề thơ phú để phúc thí Tiến sĩ, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng, Hỗ Mông định ưu liệt làm 3 bậc, lấy được Lữ Mông Chính người Hà Nam trở xuống, tổng cộng 109 người. Ngày Canh Ngọ, phúc thí các khoa khác, lấy được 207 người, ban cho đỗ. Lại chiếu Lễ bộ xét sổ cống, được những người Tiến sĩ và các khoa có 15 lần dự thi trở lên là 184 người, đều ban cho xuất thân. 7 người khoa Cửu kinh không trúng cách, Hoàng đế thương họ già, đặc biệt ban cho đồng xuất thân Tam truyện. Tổng cộng 500 người, đều trước hết ban cho áo xanh, giày, hốt, ban yến ở chùa Khai Bảo, Hoàng đế tự làm 2 bài thơ ban cho. Tiến sĩ bậc nhất, bậc nhì cùng Cửu kinh đều cho làm Tả tác giám thừa, Đại lý bình sự, Thông phán chư châu; Tiến sĩ đồng xuất thân và các khoa khác đều đưa sang Lại bộ miễn phải dự tuyển, ưu tiên ghi chú đề bạt. Sự sủng đãi, vinh chương khác thường, đời trước chưa từng có. Tiết Cư Chính v.v. tâu rằng lấy người quá nhiều, dùng người quá gấp, nhưng Hoàng đế đang muốn hưng văn giáo, ức võ sự, nên không nghe. Đến khi Mông Chính v.v. từ biệt, triệu lên cho vào điện, dụ rằng: “Khi đến trị sở, việc gì bất tiện cho dân, hãy mau tâu lên.” Lại ban tiền lộ phí, mỗi người 20 vạn.
Khi Thái Tổ đi tuần Tây Kinh, người Lạc Dương là Trương Tề Hiền dâng 10 sách lược, Thái Tổ triệu kiến, cho ngồi, hỏi đến, Tề Hiền dùng tay vạch đất trình bày từng điều. Thái Tổ cho là 4 sách lược là hay, Tề Hiền khăng khăng cho rằng các điều còn lại cũng đều hay, Thái Tổ nổi giận, sai vệ sĩ lôi ra. Khi trở về, nói với Hoàng đế rằng: “Ta đi Tây Kinh, chỉ được một Trương Tề Hiền, ta không muốn lập tức ban quan tước cho hắn, sau này ngươi có thể thu dùng để phò tá mình.” Bấy giờ Tề Hiền dự thi Tiến sĩ, Hoàng đế muốn đặt vào bậc cao, nhưng hữu ty xếp tên ông ta ở sau mấy chục người. Hoàng đế không vui, bèn triệu tất cả Tiến sĩ bậc nhì và Cửu kinh, tổng cộng 130 người, đều cho siêu thăng bổ dụng, là vì Tề Hiền vậy.
Ngô Việt quốc vương Thục sai con là Ôn châu Thứ sử Duy Diễn sang tu cống, nhân dịp Hoàng đế đăng cực.
Ngày Ất Hợi, ban cho Hương cống Tiến sĩ Khổng Sĩ Cơ đồng xuất thân với khoa bản, để tôn vinh Tiên thánh về sau.
Ngày Kỷ Mão, Ngô Việt quốc vương phi Tôn thị qua đời, chiếu sai Cấp sự trung Trình Vũ làm sứ đi điếu tế.
Ngày Canh Thìn, chiếu đổi tên cũ của cấm quân: Thiết kỵ gọi là Nhật kỵ, Khống hạc gọi là Thiên Vũ, Long kỵ gọi là Long vệ, Hổ tiệp gọi là Thần vệ.
Giang Nam trước dùng tiền sắt, dân rất bất tiện. Tháng 2, ngày Nhâm Thìn là mồng 1, Chuyển vận sứ Phàn Nhược Thủy xin đặt Giám ở các châu Thăng, Ngạc, Nhiêu v.v., đúc nhiều tiền đồng, phàm núi nào có đồng đều cấm dân khai thác, để cung cấp cho quan đúc tiền. Bãi tiền sắt, đều đúc thành nông cụ, cấp cho lưu dân Giang Bắc trở về quy phụ, lại bỏ lệnh cấm tiền đồng qua sông, chiếu theo lời xin, dân rất tiện lợi.
Ngày Quý Tị, sai Hộ bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Lôi Đức Tường đi kiểm điểm Khai Phong phủ.
Ngày Giáp Ngọ, lập huyện Vĩnh Hưng thuộc Ngạc châu thành Vĩnh Hưng quân.
Nhà Liêu sai sứ sang chúc mừng việc lên ngôi và ngày Chính đán.
Hữu Thiên ngưu vệ Thượng tướng quân Lý Dục tự nói mình nghèo. Ngày Ất Mùi, chiếu ban cho 300 vạn tiền. Dục tuy nghèo, nhưng Trương Tế thường vòi vĩnh, Dục bèn đem khí cụ bằng bạch kim dùng rửa mặt tặng Tế, Tế vẫn chưa vừa ý.
Bắc Hán Hồ đào trại Chỉ huy sứ Sử Ôn v.v. đến hàng.
Ngày Kỷ Hợi, Ngô Việt vương Thục vì sắp đến kỳ làm sơn lăng, sai sứ sang tu lễ phúng viếng.
Ngày Canh Tý, Hoàng đế đổi tên là Quýnh (炅), chiếu: “Trừ các châu huyện, chức quan, tên người đã đổi, còn tên cũ 2 chữ thì không cần kiêng tránh.”
Ngày Bính Ngọ, bắt đầu chia Tây Xuyên thành Đông, Tây 2 lộ, mỗi lộ đặt Chuyển vận sứ, Phó sứ. Binh bộ lang trung Hứa Trọng Tuyên làm Tây lộ Chuyển vận sứ, Khảo công viên ngoại lang Đằng Trung Chính làm Đông lộ Chuyển vận sứ. Trung Chính là người Bắc Hải.
Lúc đầu, Hữu Giám môn vệ suất phủ Phó suất Vương Kế Huân phân ty ở Tây Kinh, cưỡng ép mua con gái nhà dân để dự bị làm người hầu, hễ hơi không vừa ý là giết thịt ăn. Dùng quan tài gỗ đựng xương còn lại, đem bỏ ngoài đồng. Bọn lái buôn gái và người bán quan tài ra vào cửa nhà hắn không dứt, dân ở đó rất khổ, không dám tố cáo. Hoàng đế khi còn ở phiên đệ đã nghe phong thanh việc này, đến khi lên ngôi, gặp lúc có người tố cáo, lập tức sai Lôi Đức Tường đến tra xét. Kế Huân thú nhận hết, số tỳ nữ bị giết hơn 100 người. Ngày Ất Mão, chém Kế Huân cùng 8 tên lái gái ở chợ Lạc Dương. Sư ở chùa Trường Thọ là Quảng Huệ thường cùng Kế Huân ăn thịt người, Hoàng đế lệnh bẻ gãy ống chân rồi mới chém, dân đều hả lòng.
Ngày Kỷ Mùi, chiếu cho Lưu Sưởng, Lý Dục ngoài bổng lộc thường kỳ lại cấp thêm bổng khác.
Tháng 3, Hà Dương Tiết độ sứ Triệu Phổ vào triều, xin đến dự lễ ở sơn lăng Thái Tổ. Ngày Ất Hợi, ban chức Thái tử Thiếu bảo, lưu lại kinh sư.
Hương dược khố sứ, người Cao Đường là Trương Tốn dâng kế, xin đặt Cục Nha khố, đem hương dược, bảo vật trong kho quan xuất bán nhiều, hơi tăng giá lên, cho thương nhân đem vàng lụa vào mua, mỗi năm có thể thu được 300.000 quan tiền để giúp quốc dụng, khiến cho nước ngoài có chỗ tiêu thụ riêng. Hoàng đế nghe theo, trong 1 năm quả được 300.000 quan tiền.
Ngày Mậu Dần, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng v.v. biên soạn loại thư 1.000 quyển, tiểu thuyết 500 quyển.
Trước đây, Tiết độ sứ được bổ con cháu làm Nha hiệu trong quân, chúng hoành hành xa xỉ, dân gian rất khổ. Hoàng đế vốn biết tệ ấy, mới lên ngôi liền chiếu các châu phủ kê tên chúng, giải về kinh, đến nơi tổng cộng 100 người. Ngày Quý Mùi, đều bổ làm Điện tiền thừa chỉ, dùng chức thấp để ràng buộc.
Ngày Kỷ Sửu, đặt Uy Thắng quân. Cho người Liêu được thông thương.
Ngày Canh Dần, Tri Giang châu Chu Thuật tâu: “Học trò ở Bạch Lộc động núi Lư Sơn thường có mấy nghìn người, xin ban Cửu kinh cho họ tập học.” Chiếu Quốc tử giám cấp bản, lại chuyển gửi đến.
Bắc Hán xin lương gạo ở Liêu. Tháng ấy, Liêu chúa sai cấp 200.000 hộc thóc giúp Bắc Hán. Trước đó, Liêu chúa sai Ô Trân, Tháp Nhĩ chia trị Nam, Bắc viện, giỏi khuyến nông, năm được mùa liên tiếp, nên chi dùng có dư, cứu giúp chỗ thiếu của Bắc Hán, Bắc Hán nhờ đó mà tồn tại.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Dần, Liêu sai Hồng lư Thiếu khanh Gia Luật Sưởng v.v. sang giúp việc tang.
Ngày Ất Mão, táng Anh Vũ Thánh Văn Thần Đức Hoàng đế ở Vĩnh Xương lăng.
Cấp phát cứu đói ở Diên châu.
Tháng ấy, xây điện Cảnh Phúc.
Chiếu thương xót việc hình ngục. Từ đó mỗi năm thường thi hành.
Hoàng đế gắng sức cầu trị, trước đã chiếu Chuyển vận sứ khảo xét các châu, phàm các chức nhiệm, xếp hạng ưu liệt; sau lại sai sứ chia đường đi các đạo thanh tra quan lại. Tháng 5, ngày Nhâm Tuất, chiếu bãi chức những kẻ mềm yếu, lười biếng, chậm trễ.
An Viễn Tiết độ sứ Hướng Củng, Vũ Thắng Tiết độ sứ Trương Vĩnh Đức, Hoành Hải Tiết độ sứ Trương Mỹ, Trấn Ninh Tiết độ sứ Lưu Đình Nhượng vì Hoàng đế mới lên ngôi, đều vào triều. Ngày Quý Hợi, cho Củng, Vĩnh Đức đều làm Tả vệ Thượng tướng quân, Mỹ làm Tả kiêu vệ Thượng tướng quân, Đình Nhượng làm Hữu kiêu vệ Thượng tướng quân.
Ngày Bính Dần, chiếu: mẹ kế giết con và dâu của vợ trước chồng mình, thì luận tội như giết người.
Ngày Canh Ngọ, sai Khởi cư xá nhân Tân Trọng Phủ làm sứ sang Liêu, Hữu tán thiện đại phu Mục Bị làm phó. Sắp đến biên giới, nghe triều đình bàn việc khởi binh đánh Bắc Hán, Trọng Phủ biết Bắc Hán dựa Liêu làm viện, bèn chần chừ chưa dám tiến, tâu gấp chờ chỉ, có chiếu sai đi. Đến nơi, Liêu chúa hỏi: “Nghe ở Trung triều có Đảng Tiến, thật là dũng tướng, như Tiến thì có bao nhiêu người?” Trọng Phủ đáp: “Danh tướng rất nhiều, như Tiến chỉ là hạng tài như chim ưng, chó săn, sao mà kể xiết!” Liêu chúa muốn giữ lại, Trọng Phủ nói: “Đã nhận mệnh tín sứ, thì mệnh không thể giữ lại, chỉ có chết mà thôi.” Liêu chúa biết không thể cưỡng, bèn hậu lễ cho về. Hoàng đế bảo tả hữu: “Trọng Phủ đi sứ xa nơi tuyệt vực, quen thuộc cơ nghi, có thể gọi là không làm nhục mệnh vua vậy.”
Ngày Giáp Tuất, lấy ngày 17 tháng 10 làm Tiết Càn Minh.
Trước đây, Tào Hán tàn sát Giang châu, dân không còn một ai sống, ruộng đất nhà cửa đều bị thương nhân Giang Bắc chiếm. Chiếu sai trưởng quan tìm hỏi quê quán, thân thuộc xa gần của dân mà trả lại cho. Tri châu Trương Tễ nhận hối lộ của thương nhân, không trả hết cho dân, dân tố cáo việc ấy. Ngày Nhâm Dần, Tễ bị đánh trượng, lưu đày ra hải đảo.
Ngày Kỷ Mão, rước thần chủ Thái Tổ vào Thái miếu, nhạc miếu gọi là "Đại Định chi vũ", lấy Hiếu Minh hoàng hậu Vương thị phối hưởng. Lại rước Ý Đức hoàng hậu Phù thị, Thục Đức hoàng hậu Doãn thị vào miếu riêng.
Ngày Kỷ Sửu, 21 người Nữ Chân xin nhận chức ở Liêu, Liêu chúa ban chức từ Tể tướng trở xuống, có phân bậc.
Tháng 6, ngày Ất Mùi, vì các huyện Bảo An v.v. có sâu đen ăn lá dâu ban đêm, miễn thuế dâu.
Người Liêu là Hỉ Cổn được triệu về từ nơi bị giáng, gặp lúc Liêu chúa đang viết thư trả lời Bắc Hán chúa, lời lẽ khiêm nhún, Hỉ Cổn nói: “Bản triều đối với Hán là tổ, thư ý như thế, e tổn hại quốc thể.” Liêu chúa cho là phải, ngày Bính Thìn, cho làm Bắc diện Chiêu thảo sứ.
Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Thân mồng 1, Hồi Cốt triều cống nhà Liêu.
Ngày Quý Hợi, sông Hoàng Hà vỡ ở Ôn huyện, Huỳnh Trạch, sai Khách tỉnh sứ, người Nhậm Thành là Trịch Thủ Tố đi đắp lấp. Ngày Ất Sửu, sông lại vỡ ở Đốn Khâu và Bạch Mã. Lại sai Tả vệ Đại tướng quân Lý Sùng Cự đi xem xét thế sông, sửa chữa đê điều, miễn tô ruộng bị ngập.
Ngày Bính Tý, Liêu sai sứ đem ngựa chiến giúp Bắc Hán.
Tháng nhuận, ngày Canh Dần là mồng 1, vì Trần Hoằng Tiến sắp vào triều, sai Hàn lâm sứ Trình Đức Nguyên đến Túc châu nghênh tiếp, an ủi.
Ngày Đinh Mùi, đổi Bình Nam quân thành Thái Bình châu.
Ngày Kỷ Dậu, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng làm sứ sang Ngô Việt.
Trước đây, Thiên Hùng Tiết độ sứ kiêm Thị trung Lý Kế Huân vì bệnh xin về Lạc Dương, được cho; lại dâng biểu xin “trả xương cốt”, ngày Canh Tuất, ban chức Thái tử Thái sư, cho về hưu. Kế Huân nổi tiếng là chất trực, tính hà tiện, chỉ xa xỉ trong việc phụng Phật. Có tình cũ trong quân với Thái Tổ, nên được đặc biệt sủng ái. Sau hơn 1 tháng thì mất, truy tặng Trung thư lệnh, truy phong Lũng Tây quận vương, thụy là Trang Vũ.
Ngày Đinh Tị, hữu ty dâng bản đồ các châu cống nạp trong năm nhuận. Theo lệ cũ, cứ 3 năm một lần lệnh thiên hạ cống bản đồ, cùng với sổ hộ tịch đều dâng lên Thượng thư tỉnh; buổi đầu nhà Tống lấy năm nhuận làm hạn, để biết rõ hiểm yếu sông núi, nhiều ít hộ khẩu.
Đầu lĩnh Man Động Mai Sơn là Bao Hán Dương v.v. cướp bóc thương nhân, cấm mà không dứt, sai Trịch Thủ Tố phát binh Tầm châu đi đánh. Trước hết dùng chiếu dụ, Hán Dương chống lệnh. Tháng 8, ngày Quý Hợi, chiếu Thủ Tố tiến quân. Lúc ấy mưa dầm hơn 10 ngày, cung nỏ ẩm ướt, Thủ Tố sai gọt gỗ làm nỏ, giặc ập đến, hai bên bắn nhau, giặc bèn thua; nhân thắng đuổi theo, quét sạch sào huyệt.
Ngày Bính Dần, Trần Hoằng Tiến vào yết kiến ở điện Sùng Đức, lễ đãi rất hậu, ban 10.000.000 tiền, 10.000 lạng bạch kim, 10.000 tấm lụa.
Hoàng đế mới lên ngôi, lấy Thiếu phủ giám Cao Bảo Dần làm Tri Hoài châu. Hoài châu vốn thuộc Hà Dương, lúc ấy Triệu Phổ làm Tiết độ sứ, Bảo Dần vốn có hiềm khích với Phổ, nhiều việc bị Phổ chèn ép, Bảo Dần trong lòng không yên, tự tay viết sớ xin bãi chế độ Tiết trấn kiêm lĩnh châu quận phụ thuộc. Bèn chiếu cho Hoài châu trực thuộc kinh sư, trưởng quan được tự dâng tấu.
Bấy giờ Hạc châu Thứ sử Hứa Xương Dịch tố cáo Bảo Bình quân Tiết độ sứ Đỗ Thẩm Tiến làm sai việc. Chiếu sai Tả thập di Lý Hán đến tra xét. Hán nhân đó nói: Tiết trấn kiêm lĩnh châu quận phụ thuộc, phần nhiều cho thân lại trông coi cửa ải, chợ búa, rất bất tiện cho thương nhân, làm ứ đọng hàng hóa thiên hạ, mong đừng để họ thống nhiếp, để phân bớt quyền phương diện. Hoàng đế nghe theo lời Hán, ngày Mậu Thìn, chiếu các châu đều trực thuộc kinh sư. Các Tiết trấn trong thiên hạ không còn châu quận phụ thuộc nữa.
Tháng 9, ngày Tân Mão, xây điện Sùng Thánh.
Ngô Việt vương Thục vào triều, trước sai con là Duy Tuấn đến cống. Ngày Nhâm Thìn, chiếu Hộ bộ lang trung Hầu Trĩ đến Tư châu nghênh tiếp, an ủi, đến khi Duy Tuấn tới, ban thưởng vô kể.
Đời Đường Thiên Hựu, binh loạn túng thiếu, bắt đầu lệnh lấy 85 tiền làm 100; đời Hậu Đường Thiên Thành lại giảm 5 tiền; đầu đời Hán Càn Hựu lại giảm 3 tiền. Đầu đời Tống theo chế độ Hán, nộp cho quan cũng dùng 80 hoặc 85, nhưng các châu tư dụng vẫn tùy tục, có nơi lấy 48 tiền làm 100. Ngày Đinh Dậu, chiếu khắp nơi đều lấy 77 tiền làm 100, mỗi 1.000 tiền tất phải nặng hơn 4 cân rưỡi. Cấm tiền nhỏ mới ở Giang Nam, dân trước đã cất giữ, đều lệnh nộp cho quan, quan căn cứ đồng mà trả giá, kẻ đúc lậu bị xử chém giữa chợ.
Ngày Quý Mão, Quan Nam Tuần kiểm, Ứng châu Quan sát sứ Lý Hán Siêu mất. Hoàng đế rất thương tiếc, bãi triều, truy tặng Thái úy, Trung Vũ Tiết độ sứ, sai trung sứ hộ tống linh cữu về táng.
Hoàng đế chú ý việc võ bị, mỗi khi tan triều, tự mình duyệt cấm binh. Sai đắp đài Tiến Vũ ở thôn Dương phía nam thành, ngày Quý Hợi, đại duyệt, Hoàng đế cùng văn võ đại thần, tòng quan lên đài xem, sai Thiên Vũ tả xưởng Đô chỉ huy sứ, người Kinh Triệu là Thôi Hàn bày bố quân sĩ, kéo dài nam bắc 20 dặm, dựng cờ 5 sắc để hiệu lệnh tướng sĩ, tiết chế tiến thoái, mỗi khi theo hiệu cờ mà buông thả, thì nghìn xe vạn kỵ, xoay chuyển như một, khí thế binh giáp, đời gần đây không gì sánh được. Hoàng đế vui, liền ban cho Hàn đai vàng, nói: “Đây là vật trẫm đeo khi còn ở phiên đệ vậy.”
Dung châu trước cống châu, Thái Tổ bình Lưu Sưởng, chiếu phát Mị Xuyên đô và cấm dân khai thác châu. Đến nay lại cống 100 cân châu, ban cho người gánh vác đai bạc, y phục.
Ngày Bính Thìn, Hoàng đế lần đầu đi săn ở gần kinh, làm thơ ban cho quần thần, lệnh họ họa lại.
Quốc tử giám Chủ bạ Quách Trung Thứ bị đánh trượng, phát phối làm nô dịch ở Đăng châu, giam cấm. Trung Thứ phóng túng rượu chè, buông lời về thời chính, có phần phỉ báng, Hoàng đế giận, nên có sự giáng phạt ấy. Trung Thứ đi đến Lâm Ấp thì chết.
Ngày Đinh Tị, Ngô Việt vương sai sứ xin được gọi thẳng tên (tức bỏ chữ "vương" khi xưng hô), không cho.
Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Dậu, sai Tả vệ Đại tướng quân Lý Sùng Cự làm Đô tuần kiểm sứ các châu Ung, Quý, Tầm, Hoành, Khâm, Đậu, chẳng bao lâu lại đổi sang các châu Quỳnh, Nhai, Đam, Vạn. Quân sĩ dưới trướng đều sợ phải theo đi, Sùng Cự đem hết đồ dùng, vàng lụa, tổng giá mấy trăm vạn, chia cho họ, mọi người mới cảm kích vui vẻ. Lúc ấy giặc Lê quấy nhiễu, Sùng Cự đến tận hang động vỗ về, dùng của riêng tặng cho thủ lĩnh, mọi người đều quy phục. Ở vùng Lĩnh biểu và ngoài biển 4, 5 năm, thản nhiên, không vì nơi nóng ẩm mà lo nghĩ. Người xưa đi biển, thường neo thuyền chờ gió, hoặc hơn 10 ngày, hoặc cả tháng; Sùng Cự đi về đều chỉ một ngày là qua, chưa từng lưu lại, người theo cũng đều bình yên, người ta cho là báo ứng của đức thuần hậu của Sùng Cự vậy.
Nước Liêu sai sứ sang chúc mừng Tiết Càn Minh.
Ngày Kỷ Tị, quần thần xin cử nhạc, dâng biểu 3 lần, Hoàng đế nghe theo.
Ngày Nhâm Thân, Nữ Chân sai sứ triều cống nhà Liêu.
Tháng ấy, bắt đầu đặt chế độ độc quyền bán rượu.
Tháng 11, ngày Đinh Hợi mồng 1, nhật thực, che kín. Ty Tư thiên nhà Liêu tâu rằng mặt trời đáng ăn (thực) mà không khuyết.
Ngày Canh Dần, ngày Đông chí, Hoàng đế bắt đầu nhận triều hạ.
Ngày Giáp Ngọ, sai Giám sát ngự sử Lý Tân, Các môn chỉ hậu Trịnh Vĩ làm Chính đán sứ sang Khiết Đan.
Ngày Kỷ Hợi, Thiên Bình Tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh Thạch Thủ Tín bãi chức Tiết độ, làm Thủ Trung thư lệnh, Tây Kinh Lưu thủ. Thủ Tín ở Tây Kinh, thích xây chùa Phật, thúc ép gắt gao mà không trả công xứng đáng, dân rất khổ.
Mã quân Đô chỉ huy sứ Đảng Tiến ra làm Trung Vũ Tiết độ sứ. Tiến nắm cấm vệ tổng cộng 12 năm, tuần tra ngõ hẻm kinh sư, hễ ai nuôi chim quý thú lạ, Tiến trông thấy, tất sai người bắt thả, mắng rằng: “Mua thịt không phụng dưỡng cha mẹ, lại nuôi chim thú ư!” Từng làm gia nô nhà Đỗ Trọng Vi, con cháu Trọng Vi nghèo hèn, Tiến chia tiền bổng hàng tháng cấp cho, người ta cũng vì thế mà khen.
Ngày Mậu Tuất, nước Liêu vì có hơn 400 hộ Thổ Dục Hồn phản sang Thái Nguyên, sai Chiêu thảo sứ Hỉ Cổn đòi về.
Ngày Quý Mão, Liêu chúa tế núi Mộc Diệp.
Tháng 12, ngày Đinh Tị mồng 1, khảo thí các thuật sĩ thiên văn do chư châu tiến cử, cho thuộc Tư thiên đài, ai không trúng thì xăm mặt, phát phối ra hải đảo.
Ngày Mậu Thìn, Liêu chúa đi săn ở gần kinh, dùng thú săn được tế trời.
Ngày Quý Dậu, chiếu định phép nấu phèn ở Tấn châu, kẻ nấu lậu và buôn bán trái phép bị tội có phân bậc.
Ngày Tân Kỷ, Cao Ly quốc vương Điền sai con là Nguyên Phụ sang cống, chúc mừng việc đăng cực.
Ngày Nhâm Ngọ, Liêu sai Thái phó khanh Đặc Nhĩ Cách, Lễ tân phó sứ Vương Anh sang chúc mừng ngày Chính đán năm sau.
Trong cõi Thông Viễn quân thuộc Linh châu, các bộ tộc phiên xâm cướp công sai, chiếu sai Tri Linh châu, Thông Viễn quân sứ Đổng Tuân Hối đánh dẹp. Tuân Hối chia tướng xuất quân, các bộ tộc phiên rất sợ, đều trả lại của cướp, mình trần xin tội, Tuân Hối bèn vỗ về an ủi. Từ đó mỗi bộ đều giữ nghiêm biên giới, không dám phạm một hào. Hoàng đế sai Tuân Hối kiêm lĩnh Linh châu lộ Tuần kiểm, ở Thông Viễn quân tổng cộng 14 năm.
Mùa đông năm ấy, biên báo Bắc Hán nói các châu Tấn, Lộ, Hình, Minh, Trấn, Ký đều chế tạo binh khí và dụng cụ công thành, lại chuyển vận cỏ rơm, thóc gạo, Bắc Hán chúa rất sợ.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Bính Tuất là mồng 1, không nhận triều hạ, quần thần đến trước các điện chúc mừng.
Bắc Hán chúa sai con là Tục sang làm con tin ở Liêu, dâng trọng lễ để cầu viện.
Ngày Giáp Ngọ, sai Giáng châu đào vét sông Phần.
Kinh Tây Chuyển vận sứ Trình Năng dâng kế, xin từ Nam Dương đắp đập ở Hướng Khẩu, dẫn nước Bạch Hà vào sông Thạch Đường, Sa Hà, hợp với Thái Hà, chảy đến kinh sư, để thông đường vận lương từ Tương, Đàm. Hoàng đế khen lời ấy và nghe theo. Ngày Mậu Tuất, phát phu dịch mấy vạn người, chia sai sứ giám sát công việc, đào núi lấp khe, qua Bác Vọng, La Khư, Tiểu Hựu sơn, tổng cộng hơn 100 dặm. Hơn 1 tháng, đến Phương Thành, đất cao, nước không tới, lại tăng phu dịch để dẫn nước, nhưng rốt cuộc không thể thông vận. Gặp lúc nước núi dâng cao, đập đá vỡ, sông rốt cuộc không thành.
Ngày Tân Sửu, đào vét sông Quảng Tế, Huệ Dân và Thái Hà, lại sửa đê sông Hoàng Hà. Ngày Đinh Mùi, đào vét cửa Biện Hà.
Ngày Kỷ Dậu, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng v.v. tu soạn Thái Tổ Thực lục, Trực học sĩ viện Thang Duyệt v.v. tu soạn Giang biểu sự tích.
Ngày Quý Sửu, Liêu chúa đi Trường Lạc. Trước đó, Liêu chúa biết Hàn lâm học sĩ Thất Phưởng có tài xử lý việc khó, đổi làm Nam Kinh Phó lưu thủ, xử án công bằng, người đều tiện lợi, nhiều lần thăng đến Công bộ Thượng thư, Khu mật phó sứ, Tham tri chính sự. Đến nay phong làm Khu mật sứ, kiêm Bắc phủ Tể tướng, gia Đồng chính sự Môn hạ Bình chương sự.
Đầu niên hiệu Kiến Long, sách vở tàng trữ ở Tam quán chỉ hơn 12.000 quyển, đến khi bình định các nước, thu hết đồ thư của họ, riêng Thục, Giang Nam là nhiều, tổng cộng được sách Thục 13.000 quyển, sách Giang Nam hơn 20.000 quyển, lại hạ chiếu mở đường hiến sách, từ đó sách vở ở Tam quán rất đầy đủ. Hoàng đế ngự đến Tam quán, chê chỗ ấy chật hẹp, bảo tả hữu rằng: “Đây há có thể chứa đồ thư thiên hạ, đón hiền sĩ bốn phương sao!” Liền chiếu hữu ty đo đạc phía đông bắc cửa Tả Thăng Long, xây riêng Tam quán, quy chế đều do Hoàng đế tự vạch, nhà cửa nguy nga, đẹp nhất trong nội đình. Tháng 2, ngày Bính Thìn mồng 1, ban tên là Sùng Văn viện, dời hết sách ở quán cũ sang, bản chính và bản phụ tổng cộng 80.000 quyển.
Ngày Giáp Tý, bãi chế độ thu "hư ngạch muối" ở Thất Tỉnh, Xương châu. Hữu ty tâu: Xương châu mỗi năm thu hư ngạch muối hơn 18.500 cân, là do Tri châu Lý Bội đời Khai Bảo bóc lột để cầu hạng nhất, bãi tiền củi cho các giếng, bắt dân bán muối ngoài ngạch, dân đến nỗi phá sản không trả nổi, nhiều người lưu tán sang châu khác, mà thuế tích lũy nhiều năm không thể miễn, chiếu đều bãi bỏ.
Ngày Canh Ngọ, Hồi Cốt triều cống nước Liêu.
Ngày Tân Mùi, Hoàng đế ngự Sùng Văn viện xem sách, lệnh thân vương, Tể tướng xem lại những sách trước đây khó kiếm. Lại triệu Lưu Sưởng, Lý Dục đến xem, bảo Dục rằng: “Nghe khanh ở Giang Nam thích đọc sách, sách vở ở đây phần nhiều là vật cũ của khanh, gần đây còn đọc sách không?” Dục dập đầu tạ. Nhân đó ban yến ở trung đường, uống say rồi mới lui.
Vì Ngô Việt vương Thục sắp đến, ngày Quý Dậu, sai Tứ phương quán sứ Lương Huống đến Hoài Tây nghênh tiếp, an ủi, lại sai con là Trấn Hải, Trấn Đông Tiết độ sứ Duy Tuấn đến Tống châu nghênh đón.
Tháng 3, ngày Ất Dậu là mồng 1, dân Điền Tộ ở Thanh Hà, Bối châu, 10 đời cùng ở chung, chiếu biểu dương cửa nhà, miễn thuế cho gia đình ấy.
Ngày Canh Dần, Liêu chúa tế Hiển lăng.
Ngày Quý Mão, Điện tiền đô ngu hậu, Thái Ninh quân Tiết độ sứ Lý Trọng Huân mất. Trọng Huân cùng Thái Tổ cùng thờ Chu Tổ, cẩn hậu, không giả dối, Thái Tổ rất trọng, nên cất nhắc nắm binh quyền, từ đầu đến cuối không thay đổi; truy tặng Thị trung.
Ngày Kỷ Dậu, Ngô Việt vương Thục vào yết kiến ở điện Sùng Đức, sủng đãi rất hậu, ngay hôm ấy ban yến ở điện Trường Xuân, thuộc hạ của Thục là Thôi Nhân Ký v.v. đều dự ngồi.
Lấy Nhàn Cữu sứ, Các môn chỉ hậu Trần Tòng Tín làm Tả vệ Tướng quân, sung Khu mật viện Thừa chỉ; Hàn lâm sứ Trình Đức Nguyên làm Đông thượng Các môn sứ kiêm Hàn lâm ty công sự; Cung phụng quan, người Đại Danh là Sài Vũ Tích làm Hàn lâm phó sứ; Thanh Trì Di Đức Siêu làm Tửu phường phó sứ; đều là vì ân cũ ở phiên đệ vậy.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Ất Mão là mồng 1, triệu đạo sĩ Hoa Sơn là Chân Nguyên Đinh Thiếu Vi đến kinh. Thiếu Vi giỏi thuật phục khí, tuổi hơn 100, ẩn cư trong thung lũng Hoa Đồng, cùng huyện với Trần Đoàn, tiếng tăm ngang nhau. Nhưng Thiếu Vi chuyên phụng hành khoa nghi, còn Trần Đoàn thì ham rượu, phóng khoáng tự do, tuy nhà ở gần nhau mà chưa từng qua lại. Thiếu Vi dâng kim đan, Cự thắng, Nam chi, Nguyên chi v.v., Hoàng đế giữ lại mấy tháng rồi cho về.
Ngày Kỷ Tị, người Nữ Chân sai sứ sang nước Liêu dâng cống.
Ngày Kỷ Mão, Tiết độ sứ Bình Hải là Trần Hồng Tiến dùng kế của mưu sĩ Nam An là Lưu Xương Ngôn, dâng biểu hiến 2 châu Trương, Tuyền thuộc quyền cai quản của mình, được 14 huyện, 151.978 hộ, 18.727 quân. Ngày Quý Mùi, lấy Trần Hồng Tiến làm Vũ Ninh Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự. Rồi lại lấy con của Hồng Tiến là Văn Hiển làm Đoàn luyện sứ châu Thông, kiêm Tri Tuyền châu; Văn Nghị làm Thứ sử châu Sở, kiêm Tri Trương châu.
Tháng 5, ngày Ất Dậu là mồng 1, Hoàng đế ngự điện Càn Nguyên nhận triều hạ. Ra chiếu cho trong địa hạt Trương, Tuyền được miễn sưu dịch 1 năm.
Ban đầu, Ngô Việt vương Thục sắp vào triều, chở hết của cải trong phủ mà đi, hơn cả vạn. Thục có ý cầu được trở về nước, nên dâng cống rất hậu để làm vui lòng triều đình. Tể tướng Lư Đa Tốn khuyên Hoàng đế không cho Thục về, tổng cộng hơn 30 lần thỉnh cầu, nhưng không được chấp thuận. Gặp lúc Trần Hồng Tiến nộp đất, Thục sợ hãi, bèn kê hết giáp binh trong nước dâng nộp, lại dâng biểu xin bãi bỏ nước Ngô Việt được phong trước đây, và xin thôi chức Thái nguyên soái binh mã thiên hạ, đình chỉ chế độ thư chiếu không xưng tên, lại xin được trở về bản đạo; không cho. Thục không biết làm thế nào, Thôi Nhân Kị nói: “Ý triều đình đã có thể biết được rồi. Đại vương nếu không mau nộp đất, họa sẽ đến nơi!” Tả hữu của Thục tranh nhau nói là không thể, Nhân Kị quát lớn: “Nay người ta đã ở trong tay người khác, cách nước ngàn dặm, chỉ có mọc cánh mới bay đi được thôi.” Thục bèn quyết định, dâng biểu hiến 13 châu, 1 quân thuộc quyền cai quản. Hoàng đế ngự điện Càn Nguyên nhận triều hạ, nghi lễ như mùa đông, tháng Giêng. Thục lui chầu xong, tướng lại, thuộc quan mới biết chuyện, đều khóc lóc thảm thiết nói: “Vua ta không về nữa rồi!” Tổng cộng được 86 huyện, 550.608 hộ, 115.036 quân.
Ngày Bính Tuất, lệnh Khảo công lang trung Phạm Dân quyền tri việc các châu Lưỡng Chiết. Lúc đầu Dân từ Hoài Nam về triều, Hoàng đế bảo: “Giữa vùng Giang Hoài, xe chở lương vận chuyển nối tiếp không dứt, đó là công của khanh.” Định dùng làm Hàn lâm học sĩ, Lư Đa Tốn nói Hàng châu mới thu phục, không ai trị được ngoài Dân, Hoàng đế bèn bảo Dân: “Khanh tạm thay trẫm đi một chuyến, rồi sẽ triệu khanh về.”
Họ Tiền chiếm cứ Lưỡng Chiết hơn 80 năm, bên ngoài thì dâng cống hậu, bên trong thì xa xỉ, vượt lễ, đất hẹp dân đông, thu thuế hà khắc tàn bạo, gà, cá, trứng, rau, những thứ nhỏ nhặt đều thu hết, nợ một đấu một thăng cũng bị tội đánh roi vào lưng, ít thì mấy chục, nhiều thì hơn 500 roi, cho đến khi nước bị diệt, dân đều khổ vì chính sự ấy. Dân vừa đến nơi, liền kê khai tâu trình hết, xin bãi bỏ, Hoàng đế ra chiếu theo lời xin ấy.
Ngày Đinh Hợi, dời phong Tiền Thục làm Hoài Hải quốc vương; lấy con ông ta là Duy Tuấn làm Tiết độ sứ Hoài Nam, Duy Trị làm Tiết độ sứ Trấn Quốc, cháu là Thừa Hựu làm Tiết độ sứ Thái Ninh, Thôi Nhân Kị làm Tiết độ phó sứ Hoài Nam.
Ngày Mậu Tý, ra chiếu xá tội cho các châu Lưỡng Chiết, cho miễn sưu dịch 1 năm.
Ngày Nhâm Dần, Định Nan Tiết độ sứ Lý Khắc Dịch mất, lấy con là Kế Quân tập chức.
Khi Liêu chúa còn ở phiên để, Thị trung Mã quần là Ni Lặc hết lòng kết giao, đến khi lên ngôi, vì công phò tá, nhiều lần gia chức Thủ Thái úy. Bắc Hán chúa nghe ông ta được tin dùng, mỗi khi đến sinh nhật tất sai người đến lễ. Ni Lặc vốn tham, cùng đồng liêu là Tiêu A Bột Đạt đều nổi tiếng vì nhận hối lộ. Khi ấy có người mặc áo da, trên áo có đính hạt gai, có người đùa rằng: “Hoặc là Ni Lặc, hoặc là Tiêu A Bột Đạt, ắt sẽ lấy hết.” Truyền nhau làm trò cười, sự tham lam bẩn thỉu là như thế. Đến đây, vì tội giấu giáp 500 bộ, giao cho hữu ty tra hỏi. Gặp lúc truy xét vụ giặc giết Tiêu Tư Ôn, Ni Lặc và Cao Huân đều dự mưu, ngày Quý Mão, ban chết cho Ni Lặc, sai người giết Huân ở chỗ lưu đày, lấy tài sản của Huân ban cho nhà Tư Ôn. Ni Lặc không có tài gì khác, chỉ giỏi xem ngựa, từng đi ngoài đồng nội, thấy vài dấu chân ngựa, chỉ một dấu mà nói: “Con này là ngựa kỳ tuấn.” Bèn đổi lấy con ngựa của mình, quả nhiên đúng như vậy.
Tháng 6, ngày Kỷ Mùi, Liêu chúa đi dọc hồ Diên Liễu.
Ngày Mậu Thìn, ra chiếu: “Từ nay người đi trạm đều cấp thẻ bạc.”
Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Dậu, lấy Trấn Vũ Tiết độ sứ, Điện tiền Đô ngự hầu Bạch Tiến Siêu làm Điện tiền Phó đô chỉ huy sứ, vì Điện tiền Đô chỉ huy sứ Dương Tín bệnh chết. Về cuối đời Tín bị bệnh câm, nhưng vẫn trị quân được. Tiến Siêu không có công lao đặc biệt, chỉ vì cẩn mật mà được cất nhắc.
Ngày Nhâm Thìn, Lũng Tây quận công Lý Dục mất, đình triều 3 ngày, truy tặng Thái sư, truy phong Ngô vương. Ban đầu, con của Trịnh Nghiêm Hoa là Văn Bảo, làm Giáo thư lang cho Lý Dục, sau về triều, không được ghi nhận lại chức cũ. Khi ấy Dục ở trong hàng vệ, Văn Bảo muốn gặp một lần, lo lính canh khó cho vào, bèn khoác áo tơi, đội nón lá làm người đánh cá, được vào rồi, nhân đó nói với Dục về ý chỉ khoan dung tha thứ của Thánh chủ, nên giữ mình cung kính phụng thờ triều đình, chớ nghĩ điều khác. Người bàn luận đều than là trung.
Tết Trung Nguyên treo đèn, ra chiếu cho hữu ty bày đèn trước phủ đệ Hoài Hải vương Thục, trên bày ca nhạc để ban ân sủng.
Ngày Đinh Mùi, lấy Vô Vi giám ở Lư châu làm Vô Vi quân.
Ngày Canh Tuất, đổi cửa Minh Đức thành cửa Đan Phượng.
Nước Liêu tế hưởng ở Thái Tổ miếu.
Hoàng đế trước đó ra chiếu tạm bãi khoa cử, lại sợ trong trường thi có người bị lưu đọng, tháng 8, ra chiếu: “Các châu năm ngoái đã được cấp giấy dự thi, trừ những người thi "Tam lễ", "Tam truyện", học cửu ra, còn lại đều tập trung về Lễ bộ vào mùa thu.”
Ngày Quý Sửu, nước sông Hoàng Hà ở Hoạt châu trong.
Ngày Bính Thìn, ra chiếu cho Lưỡng Chiết đưa thân thuộc từ tang chế tơ sô trở lên của Hoài Hải vương Thục và quan lại thuộc quyền cai quản đều về kinh, tổng cộng 1.400 chiếc thuyền, nơi đi qua đều có quân hộ tống. Bấy giờ con Thục là Duy Trị dâng nộp hết bản đồ binh dân, sổ sách kho tàng, ấn khóa giao cho Tri Hàng châu là Phạm Dân, cùng em là Duy Diễn v.v. đều đến kinh, ra chiếu sai nội thị ra ngoại ô gần kinh an ủi. Ngày Nhâm Thân, yết kiến ở điện Trường Xuân, mỗi người được ban áo đai, yên ngựa, đồ khí, tiền tệ.
Ngày Giáp Tuất, quần thần xin dâng tôn hiệu là Ứng Vận Thống Thiên Thánh Minh Văn Vũ, Hoàng đế chấp thuận.
Tháng 9, ngày Giáp Thân là mồng 1, Hoàng đế ngự điện Giảng Vũ, khảo lại những người trúng tuyển ở Lễ bộ, tiến sĩ thêm một bài luận. Từ đó thường lấy 3 đề làm chuẩn. Lấy được 74 người từ Bột Hải Hồ Đán trở xuống; ngày Ất Dậu, lấy được 70 người các khoa khác; đều ban cho đỗ. Lần đầu ban yến ở Viên Nghênh Xuân, bổ nhiệm quan chức theo chế độ năm thứ 2. Lệ cũ, Lễ bộ chỉ mùa xuân mới treo bảng, đến đây thi mùa thu, là việc không theo lệ thường.
Lưu thủ Đông Kinh nhà Liêu là Bình vương Long Tiên, thông minh bác học, khi ở Đông Kinh, giảm thuế, giảm hình, thương xót cô quả, nhiều lần tiến cử người hiền năng, được nhiều người khen. Con là Trần Cách, cùng quan thuộc người Bột Hải mưu giết cha, dấy binh làm loạn, Liêu chúa lệnh cho xe xé xác Trần Cách để răn.
Ngày Kỷ Hợi, đổi Y Cẩm quân ở Hàng châu làm Thuận Hóa quân.
Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Sửu, nhà Liêu sai Thái bộc khanh Gia Luật Hài Lý v.v. đến chúc mừng tiết Càn Minh.
Ngày Canh Thân, xa giá đến phủ Võ Công quận vương Đức Chiêu, rồi đến phủ Tề vương. Ban cho Tề vương 10.000 lạng bạc, 10.000 tấm lụa, Đức Chiêu, Đức Phương ít hơn một bậc.
Tự thừa ty thừa Công Nghi tri huyện Tinh Tử trở về, dâng bài văn mình làm, Hoàng đế triệu kiến, hỏi về dòng dõi kế thừa của Khổng Tử, thăng làm Hữu tán thiện đại phu, cho tập phong Văn Tuyên công. Ngày Tân Dậu, ra chiếu miễn tô thuế cho nhà ông ta. Họ Khổng vì là hậu duệ Thánh nhân, các đời không phải chịu lao dịch, đến đời Chu Hiển Đức sai sứ chia ruộng, bèn ép làm dân đinh, đến đây đặc biệt ra lệnh miễn.
Khi Hoàng đế mới lên ngôi, đến kho Tả tàng, xem của tích trữ, nói với tể tướng
Bèn chia kho Bắc của Tả tàng làm Nội tàng khố, lại lấy Phong trụ khố phía sau điện Giảng Vũ thuộc về đó, đổi Phong trụ khố làm Cảnh Phúc nội khố. Hoàng đế bảo tả hữu: “Trẫm đặt Nội khố, là vì lo các quan coi việc tài chính không biết tiết kiệm, sau này chi dùng thiếu thốn, lại tăng thuế bóc lột dân, chứ quyết không dùng để tự cung phụng sở thích.” Lúc đầu, Thái Tổ riêng đặt Phong trụ khố, từng bí mật bảo cận thần
Gặp lúc băng hà, chưa kịp làm.
Lưu thủ Nam Kinh nước Liêu là Yên vương Hàn Khuông Hựu vào triều, quyền giữ chức Khu mật sứ, Liêu chúa lệnh cho con là Đức Nhượng thay ông ta. Đức Nhượng có mưu lược, thích lập công dựng nghiệp, nhiều lần thay cha làm lưu thủ, người Liêu cho là vinh.
Tháng 11, ngày Ất Mùi, thân tế hưởng Thái miếu. Ngày Bính Thân, hợp tế trời đất ở Nam giao. Ngự lầu Đan Phượng, đại xá, nhận sách tôn hiệu ở điện Càn Nguyên. Từ khi mới lập quốc đến nay, 4 lễ tế Nam giao và tế Cảm sinh đế, Hoàng địa祇, Thần châu, tổng cộng 7 lễ, đều lấy 4 đời tổ thay nhau phối hưởng. Hoàng đế lên ngôi, chỉ lấy Tuyên Tổ, Thái Tổ thay nhau phối. Đến đây hợp tế trời đất, bắt đầu tôn Thái Tổ lên phối hưởng.
Ngày Canh Tý, đến phủ Tề vương.
Ngày Bính Ngọ, vì lễ tế giao, trong ngoài văn võ đều được gia ân.
Ban đầu, Các môn chỉ hậu Tuấn Nghi vương Thâm sai đi Sái châu, Thông Viễn quân, trở về, nói rằng chủ soái dùng nha binh, phần nhiều là bọn kiệt ngạnh khó chế, lo lâu ngày sinh biến, xin thay hết, Hoàng đế bèn sai Thâm điều động quân nội địa đến thay. Quân đồn trú nghe sắp bị thay, phần nhiều muốn ở lại, Thâm xét thấy trong đó có kẻ chống lệnh, chém để răn, quân đều kinh sợ, bèn dẫn về.
Các án do Tam ty phụ trách, lấy 4 án: thuế buôn, mũ giáp, rượu, muối mạt là phiền phức nặng nề nhất. Tháng 12, ngày Bính Thìn, mỗi án đặt 1 Thôi quan, lệnh Hữu tán thiện đại phu Trương Trọng Nghiêm v.v. chia nhau đảm nhiệm. Các án khác sau đó đều đặt Thôi quan, hoặc đặt Tuần quan, đều dùng quan kinh triều đảm nhiệm.
Khi Hoàng đế làm Doãn Khai Phong, người Ký là Tống Kỳ, giữ chức Tả bổ khuyết làm Thôi quan, Hoàng đế rất kính trọng. Kỳ thân với Tể tướng Triệu Phổ, Khu mật sứ Lý Sùng Cự, thường lui tới cửa nhà họ, Hoàng đế ghét điều đó, tâu với Thái Tổ, đày Kỳ làm Tri Lũng châu, rồi chuyển sang Tri Lãng châu. Hoàng đế lên ngôi, triệu về kinh từ chức Hộ quốc Tiết độ phán quan. Trình Vũ v.v. trước đó từ phủ đệ bám víu mà lên đến chức trọng yếu, Kỳ bị họ hãm hại, lâu ngày không được điều dùng. Ngày Đinh Tị, Hoàng đế triệu kiến, trách hỏi, Kỳ lạy tạ, xin hối cải làm mới, bèn cho làm Thái tử tẩy mã.
Ngày Ất Sửu, ngự đài Giảng Vũ, xem quân Phi Tiên bắn máy ném đá, nỏ liên phát. Hoàng đế sắp đánh Bắc Hán, nên trước tập luyện việc võ.
Ngày Canh Ngọ, tiết Lạp, hữu ty xin làm đủ lễ Đông nghênh, Hoàng đế theo, bảo tả hữu: “Chinh phạt có điều răn; trẫm nay thuận thời săn bắn, là để trừ hại cho dân, chẳng dám lấy đó làm vui.”
Ngày Giáp Tuất, đổi Vĩnh Hưng quân làm Hưng Quốc quân. Ngày Mậu Dần, nhà Liêu sai Tiêu Ba Cố Tế v.v. đến chúc mừng ngày Nguyên đán năm sau.
Khi ấy người dự thi các châu đều tụ tập, gặp lúc sắp thân chinh đánh Hà Đông, bèn bãi. Từ đó mỗi cách 1 năm hoặc 2 năm mới mở khoa cử.
Ban đầu, Trần Hồng Tiến nộp đất, Hoàng đế đã lệnh cho con ông ta là Văn Hiển làm Lưu hậu Tri Tuyền châu, bàn chọn hiền thần để cùng nắm việc châu, bèn khởi phục Điện trung thừa Nam Đốn là Kiều Duy Nhạc làm Thông phán. Duy Nhạc mới đến, gặp bọn thảo khấu hơn 10 vạn đến đánh thành, trong thành chỉ có 3.000 quân, thế rất nguy cấp. Giám quân Hà Thừa Cự, Vương Văn Bảo muốn giết dân trong thành, đốt kho rồi chạy, Duy Nhạc cực lực phản đối, cho rằng: “Triều đình giao cho trách nhiệm trấn an biên viễn, nay ân huệ chưa ban xuống, giặc cướp liên kết, lại muốn giết dân trong thành, đốt kho, há phải là ý chỉ của chiếu thư sao!” Thừa Cự v.v. bèn lại cố thủ. Gặp lúc Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết Tây Nam lộ là Dương Khắc Nhượng ở Phùng Ấp, từ Phúc châu đem quân đồn trú đến cứu, vòng vây bèn giải. Giám quân Vương Kế Thăng đem tinh binh truy kích, bắt được đầu sỏ, trói giải về kinh, bọn giặc còn lại đều bình định. Thừa Cự là con của Kế Quân.
Mùa đông năm ấy, Liêu chúa đóng quân ở Kim Xuyên, Ngự trản lang quân Gia Luật Hô Đồ từ sứ sang Tống trở về, nói với Liêu chúa: “Tống tất sẽ lấy Hà Đông, nên sớm chuẩn bị.” Hàn Khuông Hựu nói: “Sao biết được?” Hô Đồ nói: “Chuyện này không khó biết. Các nước xưng đế hiệu bốn phương, Tống đều đã thôn tính, chỉ còn Hà Đông chưa hạ. Nay Tống giảng võ luyện binh, ý tất ở Hán vậy.” Khuông Hựu chê bai rằng: “Há có chuyện ấy sao!” Rốt cuộc không chuẩn bị.
Mùa xuân, tháng Giêng, Hoàng đế triệu Khu mật sứ Tào Bân hỏi
Bân đáp
Hoàng đế nói: “Nay trẫm khởi binh, khanh cho là thế nào?” Bân nói: “Binh giáp của quốc gia tinh nhuệ, lòng người vui mừng ngưỡng mộ, nếu đi đánh kẻ có tội, thì như bẻ cành khô, chẻ mục nát mà thôi.” Ý Hoàng đế bèn quyết. Bọn Tể tướng Tiết Cư Chính nói
Hoàng đế nói
Ngày Đinh Hợi, lệnh Thái tử Trung doãn Trương Tế, Trước tác lang Câu Trung làm chánh sứ sang Cao Ly, báo việc bắc phạt.
Sai Thường tham quan chia nhau đốc thúc quân lương các châu đưa đến Thái Nguyên.
Ngày Canh Dần, lấy Tuyên huy Nam viện sứ Phan Mỹ làm Bắc lộ Đô chiêu thảo chế trí sứ, lệnh Thôi Nghiêm Tiến, Lý Hán Quỳnh, Tào Hán, Lưu Ngộ mỗi người đánh một mặt thành. Ngộ theo thứ tự phải đánh mặt tây, mà mặt tây thẳng đối diện cung thành của Bắc Hán chúa, lại hiểm ác nhất. Ngộ muốn đổi chỗ với Hán, Hán không chịu, Ngộ nhất quyết muốn đổi, bàn mãi không quyết. Hoàng đế lo tướng soái bất hòa, bèn dụ Hán: “Khanh trí dũng vô song, mặt tây thành không ai ngoài khanh có thể đảm đương.” Hán mới vâng chiếu.
Ngày Tân Mão, lệnh Vân châu quan sát sứ Quách Tiến làm Đô bộ thự Thái Nguyên, ải Thạch Lĩnh, Tây Thượng các môn sứ Điền Nhân Lãng, Các môn chỉ hậu Cung phụng quan Lưu Tự đi xem xét hào trại bốn mặt thành Thái Nguyên, kiểm tra thang, xe công thành, khí cụ.
Liêu chúa nghe tin quân Tống đánh Thái Nguyên, than rằng: “Hô Đồ quả là người đoán việc giỏi, trẫm và Khuông Hựu lo nghĩ không bằng!” Bèn sai Đái Mã Trường Thọ đến nói: “Sao lại lấy danh nghĩa gì mà đánh Hán?” Hoàng đế nói: “Hà Đông trái mệnh, đáng phải hỏi tội. Nếu Bắc triều không viện trợ, hòa ước như cũ; nếu không, chỉ còn đánh mà thôi!”
Ngày Quý Tị, lấy Khu mật trực học sĩ Thạch Hy Tải làm người ký thự viện sự. Chức Ký thự Khu mật viện sự bắt đầu từ Hy Tải.
Ngày Ất Mùi, yến tiệc Phan Mỹ v.v. ở điện Trường Xuân, Hoàng đế thân truyền phương lược rồi sai đi. Khi ấy Lưu Sưởng, Hoài Hải vương Thục, Vũ Ninh Tiết độ sứ Trần Hồng Tiến v.v. đều dự, Sưởng nhân đó nói: “Uy linh triều đình lan đến nơi xa, các chúa xưng hùng bốn phương hôm nay đều ngồi ở đây, sớm tối bình định Thái Nguyên, Lưu Kế Nguyên lại đến, thần là người đến triều trước, xin được cầm gậy làm trưởng các nước hàng vương.” Hoàng đế cười lớn, ban thưởng rất hậu.
Ngày Đinh Dậu, lệnh Hà Bắc Chuyển vận sứ Hầu Trĩ và Chuyển vận sứ Tây lộ Thiểm Tây Lôi Đức Tường chia nhau đảm nhiệm việc Chuyển vận sứ Đông, Tây lộ.
Ngày Quý Mão, Hỗn nghi mới làm xong, do học sinh Ty Thiên giám là Trương Tư Huấn sáng chế. Đặt ở lầu Chuông Trống phía đông nam điện Văn Minh, lấy Tư Huấn làm Hỗn nghi thừa. Chế độ cũ, nhật nguyệt ngày đêm vận hành, đều do người quay; chế độ mới vận hành tự nhiên, càng tinh diệu.
Tháng 2, ngày Đinh Mão, Bắc Hán xin viện binh nhà Liêu, Liêu lệnh Nam phủ Tể tướng Gia Luật Sa làm Đô thống, Ký vương Tháp Nhĩ làm Giám quân, đi cứu viện. Lại lệnh Nam viện Đại vương Sắc Trân đem quân bộ thuộc theo, Khu mật phó sứ Mục Tế đốc suất.
Ngày Bính Thìn, lệnh Tể tướng Thẩm Lâm làm Lưu thủ Đông Kinh kiêm Phán Khai Phong phủ sự, Tuyên huy Bắc viện sứ Vương Nhân Thiệm làm Đại nội Đô bộ thự, Khu mật thừa chỉ Trần Tòng Tín làm phó.
Khi Hoàng đế mới lên ngôi, bảo Tề vương Đình Mỹ: “Thái Nguyên ta tất lấy được.” Đến đây muốn giao cho Đình Mỹ coi việc lưu thủ. Phán quan Khai Phong phủ Lữ Đoan nói với Đình Mỹ: “Thượng chủ gió sương dãi dầu để thi hành việc đánh kẻ có tội, vương ở địa vị thân thích, nên làm gương đi theo hộ giá, nếu coi việc lưu thủ, không phải là điều nên.” Đình Mỹ vì thế xin đi theo. Đoan là em của Dư Khánh.
Ngày Giáp Tý, xa giá rời kinh sư. Ngày Mậu Thìn, đến Trấn châu. Lâm Hà chủ bạ Tống Tiệp dâng phong thư bên đường, Hoàng đế thấy tên họ, vui nói: “Quân ta tất thắng!” Liền cho làm Tả tác giám thừa.
Ngày Kỷ Tị, đến Đức Thanh quân. Lệnh Hành tại Chuyển vận sứ Hà Nam là Lưu Bảo Huân kiêm quyền coi việc Chuyển vận sứ Bắc diện. Sai Thứ sử Quân châu là Lâm Minh Giải Huy, Thượng thực sứ Chiết Nghiên Vân đánh Long châu.
Ngày Giáp Tuất, đến Hình châu. Lấy Đoàn luyện sứ Đường châu là Tào Quang Thực làm Tri Uy Thắng quân sự. Quang Thực vào tâu: “Xin đem một đội quân, dốc sức xung phong đi trước.” Hoàng đế nói: “Lương thảo là việc lớn, cũng đủ để khanh phát huy sức lực vậy.”
Ngày Bính Tý, lấy Đô giám Lộ châu là Trần Khâm Tộ làm Tri Uy Thắng quân.