XI
Ông Ghẹ-Cọt
Khi vua Lù y thứ 18 thấy mặt mày quan Thuợng-thơ biến sắc, tay chơn rung rẩy lặp cặp như thế, thì vua bèn xô cái bàn nhỏ một cái, rồi ngồi thẳng rẳng mà phán hỏi: « Ủa, sao Thượng-thơ làm chi mặt mày đổi sắc, tay chơn lặp cặp vậy kìa? Có phải là sự đờ Huynh-pho phi báo đã quã như lời rồi chăng?
Thượng-thơ bèn tâu nhỏ tiếng rằng: « Dạ, muôn tâu Hoàng-thượng...
— Việc gì.
Thượng-thơ thình lình quì xuống ôm chơn vua mà khóc, vua đứng dậy thối lui một buớc, châu mày mà phán hỏi:
— Sao, việc chi không chịu tâu, hử?
— Bề hạ ôi! Đại-họa, đại-họa, không ngày nào mà kẻ hạ-thần nguôi ngoai được việc nầy.
— Việc chi đại họa thì khanh hảy tâu cho mau.
— Dạ, muôn tâu, Na-bô-lê-ông đã lìa khỏi cù-lạo En-bờ hôm ngày 28 Fevrier, qua mồng một Mars va đã thâm nhập đất Lang-sa rồi.
— Va lên bờ tại đâu?
— Dạ, tại hải khẩu gần thành Ăn-típ trong vịnh Gioang.
— Có lẻ nào Na-bô-lê-ông hôm ngày mồng một tháng ba nầy ghé lại hãi-khẩu gần thành An-típ mà nhập Pháp-địa, từ đó đến kinh-thành là 250 dậm mà tới mồng ba khanh mới hay, có lẻ họ nghe lầm, hay là khanh điên hay sao chớ?
— Dạ, muôn tâu, việc quã như vậy.
Vua Lù-y giận quá bèn đứng sửng lại mà phán rằng: « Cha chả! Có lẻ nào Na-bô-lê-ông va đã về nước Langsa được rồi. Té vậy thì không ai lo canh giờ, dọ thám cho nên va mới về được đây mà. Hay là họ một lòng với va?
Công-tước đờ Bà-la-ca bèn tâu: « Muôn tâu Bệ-hạ, Thượng-thơ không lẻ có lòng a ý với Na-bô-lê-ông. Tại quần-thần hơ hỏng, tưởng là Na-bô-lê-ông đã thế cùng lực tận, chớ Thượng-thơ nào đi có lòng phản quốc bội quân bao giờ.
Đờ Huynh-pho tâu: « Dạ, muôn tâu..... Dạ, hạ-thần xin chịu tội, vì lòng trung thành mà phi lể nói hớt.
Vua phán: ta miển lể, khanh hảy tâu đi.
— Dạ, muôn tâu, vẩn Na-bô-lê-ông bị cã hướng Nam-biên bá tánh đều hềm. Nếu quả va nay ở tại hướng Nam-biên thì cũng nên động binh trong tĩnh Provence và Languedoc.
Thượng-thơ tâu:
— Phải, song e cho va đi theo ngã Gáp và ngã Xit-xo-ron.
— Té vậy Na-bô-lê-ông đã tiến bộ, nhắm Paris trục chĩ sao?
Thượng-thơ nín không trả lời, thì là dấu quả Na-bô-lê-ông đang kéo binh về kinh-đô.
Vua phán: Còn như trong tĩnh Đô-phi-nê dể xúi dân ngăn đón, như tại tĩnh Provence vậy chăng, ha Huynh-pho?
— Dạ, muôn tâu, khó mà xúi giục tĩnh ấy, vì dân núi thường hay phục Na-bô-lê-ông luôn.
— Té ra Na-bô-lê-ông đã rỏ biết việc ấy mà, binh của va dặc chừng được bao nhiêu?
Thượng-thơ tâu: Dạ, hạ-thần không rỏ.
— Sao lại không rỏ. Khanh quên cho dọ đều ấy sao. Phải mà, việc vô ích như vậy, dọ mà làm chi hớ!
— Dạ, muôn tâu, trong tin sang về không nói đến, cứ phi báo rằng: Na-bô-lê-ông đã thâm nhập Pháp-địa, do đường nào về kinh-đô thôi, chớ không nói số binh là bao nhiêu.
— Tin ấy làm cách nào sang đến khanh được?
— Dạ, do theo đường giây thép. (Và nói và hổ ngươi, cúi mặt).
Vua Lù-y bước xơm tới khoanh tay, bộ giận dữ mà phán rằng: Vẩn ta mông trần 25 năm trường, bơ vơ nơi đất khách, may nhờ bảy đạo binh Hiệp-chiến đã đánh ngã Na-bô-lê-ông, và nhờ phước trời Trẫm mới khôi phục giang san của tổ tông trẫm lại được; khi mông trần như vậy, trẩm đã dò trong lóng đụt nhơn vật nước Langsa, nay trẩm về đây chưa được mấy ngày giang san xã tắc lại đảo khuynh lần nữa!
— Dạ, muôn tâu, ấy cũng là việc thiên cơ.
— Té ra những đều gian tặc nó dị nghị trẩm trúng lắm, rằng không hay không biết gì ráo. Nếu Trẩm mà bị gian thần nó phãn phúc như Na-bô-lê-ông vậy, thì chẳng nói làm chi. Chí như cã đám quần thần trẩm đã phong quan phong tước, lẻ thì chúng nó phải hết lòng gìn giữ, lo tuần do tế sát, vì hể trẩm vững bền thì chúng nó mới hưỡng được phú quí vinh huê chớ. Trước khi trẩm chưa khôi phục giang-san thì chúng nó còn bơ vơ, nay nếu trẩm có bề gì thì bơ vơ cũng huờn bơ vơ, và tánh mạng sợ nan toàn, vì chúng nó bất tài vô lực; Thượng-thơ nói cuộc nầy là cuộc thiên cơ, phải lắm mà!
Thượng-thơ cúi đầu đánh chử làm thinh.
Ông Công-tước đờ Bà-la-ca chùi mồ hôi tráng, còn đờ Huynh-pho thì trong lòng hớn hở vì mình sẻ đắc kỳ công.
Vua Lù-y trù nghĩ thấy cuộc đà nguy cắp bèn phán rằng: Có lẻ nào cã đám quần thần mà không ai hay biết việc chi ráo, đợi có tin giây thép mới biết vận nước ngữa nghiêng. Thà trẩm chịu cho chúng trảm quách, như anh trẩm là Lù-y thứ 16, chớ chẳng thà phải bỏ đền mà mông trần nửa, mà chịu cái mãng diện tàm tu nầy được... khanh có hiểu cái sự hổ thẹn ấy đâu.
— Dạ, muôn tâu Bệ-hạ, xin thương xót lấy hạ-thần.
Vua dạy đờ Huynh-pho xít lại gần mà phán rằng: Khanh hãy nói với Thượng-thơ cho nó biết rằng có thế mà biết trước cuộc nầy.
— Dạ, muôn tâu Lịnh muôn năm, khó mà hiểu được việc vận trù quyết sách của Na-bô-lê-ông.
— Khó mà hiểu, khó mà hiểu! Vậy chớ làm tuần-cảnh-Bộ Thượng-thơ mà làm gì, có công thự, có tay sai, có trinh thám, có mả-kín, có tiền để dọ việc quốc mạch, mổi năm tốn là 150 muôn quan, mà việc xãy ra tại cù-lao En-bờ cách nước Langsa có 60 dặm mà không hay không biết gì ráo, thì làm Thượng-thơ Tuần-cảnh mà làm gì, hữ.
Vậy chớ đờ Huynh-pho nầy va thiệt là bạch thủ, làm phó Biện-lý mà sao va lại biết được hơn sở Tuần-cảnh cũa khanh, chớ chi đờ Huynh-pho có quyền dùng điễn-báo như khanh, thì va đã cứu trẩm khỏi hư giang-san như vậy rồi.
Còn về phần Công-tước đờ Bà-la-ca thì ta không trách, vì tuy khanh không hay biết việc chi, song khanh trì kỳ chí, nài xin trẩm ban cho Huynh-pho kiến giá, vì lòng khanh nghi ngại sợ cuộc nguy cấp xãy đến. Chớ phải như kẻ khác thì họ đã dám cho Huynh-pho là người chờm ố quờn tước đến bày đều mà lập công.
(Ay là vua nói xóc Thượng-thơ khi nãy, quả quyết không có chi phải nao núng cùng là có nhiều kẻ khống cáo bông lông họa may có xãy ra cuộc trùng đối chăng.)
Huynh-pho biết ý vua, nên dè dặt, chí như kẻ khác thì đã hốc tốc rồi, thấy chúng khen mà tự đắc. Huynh-pho tuy biết Thượng-thơ thời đã hết rồi, nhưng không muốn kết cái oan gia làm chi, nên Huynh-pho mới tâu vớt cho Thượng-thơ như vầy:
— Dạ, muôn tân Lịnh muôn năm, công cuộc mau lẹ dường ấy có cái trời sai thần thánh làm dông tố thì mới ngăn cản Na-bô-lê-ông được. Lịnh Muôn năm tưởng là hạ-thần lao lách, chớ kỳ thiệt là cuộc tình cờ, hay chuyện đại sự như vậy, tôi làm kẻ trung thần không lẻ điềm nhiên, cúi xin Lịnh Muôn năm chớ tưỡng tôi là người tài cáng.
— Thôi, Thượng-thơ và Công-tước khá lui chơn, ta không cần dùng chi đến chư khanh nữa. Sự dĩ chí thử thì nay là phận sự Binh-bộ Thượng-thơ phải lo.
— Công-tước tâu: Dạ, muôn tâu, y theo các tờ bổn-chương thì tam quan sẻ hết lòng cùng Bệ-hạ.
— Chớ khá nói đến các bổn-chương mà làm chi nửa, vì Trẩm biết là đồ dối giã chẳng hề tin được. À, y theo bổn-chương thì việc sát nhơn tại đường Xanh-rách ra thể nào?
Đờ Huynh-pho nghe nói vậy bèn dực mình, vì cha quan phó Biện-lý là người làm đầu phe Na-bô-lê-ông, hay nhóm tại đường Xanh-rách, nên va vụt nói lớn rằng: Việc sát nhơn nào ở đường Xanh-rách......
Nói lở rồi dực mình mà tâu rằng: Dạ, muôn tâu Lịnh Muôn năm xin xã tội cho hạ-thần vô lể nói hớt.
Vua phán: Chẳng có tội chi, cứ việc tâu, bởi vì khanh đã có đại công với trẩm.
— Dạ, muôn tâu, kẻ hạ-thần đến đây phi báo cho Lịnh Muôn năm hay các cuộc nguy cấp như vậy, mà nay Na-bô-lê-ông đã thâm nhập Pháp-địa rồi, thì hạ-thần ở đây vô dụng.
— Chẳng phải vậy đâu, việc khanh tâu đó quả có căn cước với việc mới xãy ra đây. Có lẻ cái cuộc hạ sát tướng-quân Kê-nên (Quesnel) cũng ăn chịu vào đó nữa.
Huynh-pho nghe nói đến tên tướng-quân Kê-nên thì rởn ốc.
Thượng-thơ tâu: Dạ, muôn tâu, họ nói quan tướng-quân Kê-nên tự vận, chớ kỳ thiệt là bị người ta hạ sát: số là quan tướng quân Kê-nên có đi nhóm với phe Na-bô-lê-ông tại đường Xanh-rách, từ ra khỏi cữa rồi thì biệt tích. Hồi ban mai ngày nhóm ấy có một gã lạ mặt đến kiếm ông Kê-nên mời tới đến nhóm tại đường Xanh-rách. Tên đầu-phòng của quan tướng-quân nghe nói đường Xanh-rách mà không nghe nói số nhà.
Huynh-pho đứng nghe Thượng-thơ tâu như vậy, thì mặt mày biến sắc.
Vua bèn day lại Huynh-pho.
— Trẩm tưởng tướng-quân Kê-nên vẩn nó hết trung với trẩm, mà họ tưởng lầm rằng: nó một phe với Na-bô-lê-ông. Chừng họ rỏ thấu bèn giết Kê-nên chết. Khanh nghĩ sao?
— Dạ, muôn tâu, có lẽ vậy, song sở Tuần-cảnh còn biết đều chi nữa chăng?
— Dọ gần được tên lạ mặt đến mời Kê-nên buổi ban mai. Tên đầu phòng của Kê-nên chỉ rỏ, nói gã ấy tác chừng 50, 52. tuổi, màu da bánh ếch, con mắt đen, mày rô, râu mép, mặc áo đui tôm màu xanh, núc áo có mang Bắc-đẩu tứ-đẳng Bội-tinh. Hôm qua lính-kín có gặp một tên giống hình trạng như rứa, song rồi nó đi vuộc mất.
Huynh-pho nghe vẻ hình trạng như vậy rỏ ràng, là giống hình trạng cha mình, thì chưn rung lặp cặp, phải vịnh ghế mà dựa đở, song khi nghe rằng: người ấy đi vuộc mất thì mới thở ra hơi.
Vua dạy Thượng-thơ rằng: Khanh hảy ráng mà bắt cho được tên sát nhơn ấy, vì nếu lúc nầy tướng-quân Kê-nên còn sống thì ta sẻ nhờ được, dầu quân sát nhơn ấy nó là phe Na-bô-lê-ông hay là không cũng bất cứ, khanh hảy ráng bắt cho được đặng trẩm trị tội nó.
Huynh-pho nghe vua dạy vậy thì hoảng vía kinh hồn, mà ráng hết sức gượng gạo.
Vua lại phán rằng: « Cái đều cũng kỳ, sở Tuần-cảnh thường hể có đám nhơn-mạng nào thì cứ tâu rằng: Có đám sát nhơn, đoạn tâu rằng: gần bắt được tên phạm, rồi thôi, chớ không thấy cho đi dọ thám chi nữa. »
Thượng-thơ tâu: Dạ, muôn tâu, tôi sẻ ráng tận tâm làm cho vừa lòng Bệ-hạ.
— Rồi sẻ hay. Thôi Thượng-thơ về cho. À còn Huynh-pho đường xa ngàn dặm hoả tốc đến cho trẩm hay việc nước, nay coi bộ mệt, thôi khanh hãy lui về nghĩ. Khanh ngụ tại nhà ông già phải không?
— Dạ, không, hạ-thần ngụ tại nhà hàng Mả-tri, đường Tuộc-nông.
— Mà khanh có gặp ông già chưa?
— Dạ. khi hạ-thần vừa đến kinh-đô, thì liền đi thẳng đến dinh ông Công-tước đờ Bà-la-ca.
— Rồi đây khanh cũng sẻ gặp ông già chớ?
— Dạ, hạ-thần tưởng có lẻ không gặp.
— À, trẩm quên lửng, vẩn khanh với ông già không thuận nhau, ấy cũng vì dòng Tôn-thất, mà cha con phải xa nhau, trẩm sẻ nhớ mà đền ơn cho khanh đều ấy.
— Dạ, Lịnh muôn-năm có lòng ha cố đến kẻ hạ-thần thì cũng là thái thậm rồi đó, hạ-thần mô dám mong ơn chi nữa.
— Thế nào trẩm cũng sẻ chẳng quên ơn cũa khanh đâu.
Vua nói rồi bèn thò tay lên ngực mà gỡ tấm khuê bài Bắc-đẩu bội-tinh trao cho Huynh-pho mà phán rằng:
— Khanh hảy lảnh cái nầy là cũa trẩm ban lần cho khanh đó.
— Dạ, muôn tâu, Lịnh muôn năm ban cho hạ-thần lầm nhằm Bắc-đẩu tứ-đẳng bội-tinh.
— Lỡ rồi, thì khanh cứ lảnh đi, không có giờ rảnh đâu mà đổi cái khác. Công-tước! khanh hảy lo ban bằng cấp cho Huynh-pho.
Con mắt Huynh-pho rưng rưng đôi giọt là dấu quá bội vui mừng, lãnh lấy khuê-bài mà hôn cùng tâu rằng:
— Muôn tâu, Lịnh muôn năm có dạy hạ-thần phải làm đều chi chăng?
— Khanh hảy nghĩ cho an thân thể. Như tại Paris mà khanh vô thế thì không nói làm chi, chớ tại Mạt-xây khanh sẻ giúp trẩm được nhiều chuyện.
— Dạ, muôn tâu, trong một giờ nữa hạ-thần sẻ lìa kinh-thành mà về Mạt-xây.
— Thôi, khanh hãy lui, dầu sau trẫm có quên, thì khanh khá nhắc lại cho trẩm nhớ, (vì đạo làm vua hay quên lắm). Thượng-thơ, hảy sai đòi Binh-bộ thượng-thơ, còn Công-tước hảy ở lại đây cho trẫm dạy việc.
Thượng-thơ ra ngoài gặp Huynh-pho bèn khen mà nói rằng:
—Thiệt túc-hạ đi trúng nhằm phước-môn, công danh sẻ toại chí.
— Có được bền cùng chăng? Nói rồi ngó ra ngoài kiếm xe đặng về chổ ngụ.
Nói về khi Huynh-pho về đến nhà hàng liền ra lịnh rằng trong 2 giờ nữa sẻ thượng trình, rồi liền dạy dọn ăn. Vừa mới lại ngồi bàn thì có người rung chuông kêu cữa, gia-đinh ra mở cữa thì nghe có tiếng nói tên mình. Huynh-pho bèn nghĩ thầm rằng ai mà rỏ thấu ta đã về đây.
Kế gia-đinh bước vào thì Huynh-pho bèn hỏi rằng: ai kêu cữa đó vậy?
— Dạ, người ấy không chịu nói tên.
— Sao lại không chịu nói tên, mà va muốn nói việc chi?
— Dạ, muốn giáp mặt quan lớn mà nói việc tư.
— Nói chuyện tư với ta sao?
— Dạ, phải.
— Người ấy có nói tên ta chăng?
— Dạ, có.
— Hình trạng người ấy ra làm sao?
— Dạ, tác chừng 50 tuổi.
— Cao hay thấp?
— Trang quan lớn vậy.
— Nước da màu gì?
— Ngâm ngâm hoa dâu, tóc đen, con mắt đen, chơn mày đen.
— Sắc phục thể nào?
— Mặc áo tràng, gài núc đến cỗ, có mang Bắc-đẩu tứ-đẳng Bội-tinh.
Huynh-pho nói thầm rằng: cha nội tôi đó chớ ai! Kế người ấy bước vào nói rằng: cha chã là lể nghỉa, ấy là thói ở Mạt-xây con rước cha như vậy hay sao?
— Uã cha, thiệt tôi nghi không lầm.
Ông già vừa nói vừa đem gậy và nón lại dựng gần vách mà nói rằng: — Nếu con nghi rằng cha, sao con lại đễ cho cha đợi chờ lâu lắc vậy.
Huynh-pho bảo gia-đinh lui. Gia-đinh lui mà có ý lấy làm lạ.