Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Tý, Liêu chúa đi đến điện Yển Phương.
Ngày Nhâm Dần, Hoàng đế đến bái yết điện Thái Tông Thần Ngự ở viện Khải Thánh. Trước đây, Thái Tổ, Thái Tông mỗi năm đến tiết Thượng Nguyên đều ngự đến chùa Phật, rồi sau mới lên lầu xem đèn. Hoàng đế từ khi mãn tang kiêng (đối với Thái Tông), vì viện Khải Thánh là nơi Thái Tông giáng sinh, thánh dung ở đó, nên trước kỳ hạn đến bái, đến đêm rằm mới ngự đến chùa khác, từ đó thành lệ.
Ngày Giáp Thìn, lấy Hữu Bộc xạ Trương Tề Hiền làm Kinh lược sứ các quân Tần, Ninh, Hoàn, Khánh, Kinh, Nguyên, Nghi, Vị, Trấn Nhung, kiêm phán việc châu Tần, lệnh cho binh đóng ở 2 lộ Hoàn Khánh, Kinh Nguyên và Vĩnh Hưng quân đều chịu tiết độ của Tề Hiền. Từ đây, chức Kinh lược sứ mới được đặt riêng.
Trước đó, Khánh châu phát binh hộ tống cỏ lương đến Linh châu, Điện trung thừa Trịnh Văn Bảo vốn quen biết hiểm yếu núi sông vùng Tây biên, tâu rằng tất sẽ bị Kế Thiên đánh bại. Quả nhiên, Chuyển vận sứ Trần Vĩ bị giặc bắt, giặc tiến đánh chiếm Thanh Viễn quân. Lúc ấy Văn Bảo đang để tang mẹ, bèn lệnh cho Tướng phủ triệu Văn Bảo, hỏi kế sách; Văn Bảo nhân đó dâng “Hà Tây Lũng Hữu đồ”, lại nói Linh châu có thể bỏ. Vì thế sai Vương Siêu đi Tây chinh phạt. Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu triệu dụng lại Văn Bảo, cho làm Viên ngoại lang bộ Công, đồng câu đương việc Tùy quân chuyển vận sứ ở Thiểm Tây.
Ngày Mậu Thân, lấy Lang trung bộ Lại Điền Tích quyền câu đương việc Ty Thông tiến, Ngân đài, kiêm việc phong bác ở Môn hạ. Tích 2 lần giữ Ngân đài, mỗi khi xem các chương sớ trong thiên hạ, hễ có điều nói dân đói, trộm nổi lên, hoặc chiếu sắc không tiện, đều ghi chép tâu bày. Hoàng đế đối với các Tể thần khen Tích là người nắm được phép tắc của bề tôi can gián.
Ngày Tân Dậu, Tể tướng Nữ Chân là Y Lặc Hy Đạt vào Liêu dâng cống.
Ngày Nhâm Tuất, Bố trí sứ Hoàn Khánh Trương Ngưng tập kích các bộ Di, đốt hơn 200 trại lều, chém hơn 5.000 thủ cấp, bắt hàng hơn 900 người.
Ngày Quý Hợi, đổi lệnh cho Trương Tề Hiền phán phủ Vĩnh Hưng quân, kiêm Bố trí sứ bộ binh kỵ, bãi chức Kinh lược sứ.
Hoàng đế bảo Tể tướng Lữ Mông Chính và những người khác rằng: "Trẫm mỗi khi gặp các tướng thần, chưa từng không cùng họ bàn kỹ lợi hại, nhưng chưa có ai đưa ra được kỳ sách. Nay đã lại đến mùa xuân, gấp gáp lo toan, về sau vẫn lo là không kịp. Trung thư, Khu mật viện mỗi nơi nên trình bày sở kiến, ghi rõ năm nay việc phòng thủ biên giới nên sắp đặt thế nào, liệt kê tâu lên.”
Ngày Bính Dần, Điền Tích tâu: "Ở Bá châu, Càn Ninh quân có hộ dân chết bị thương; lại nữa, Mạc châu tâu có 16 người chết đói, Thương châu tâu có 17 người cả nhà chết đói. Bệ hạ là cha mẹ của dân, để bách tính chết đói, ấy là bệ hạ phụ bạc bách tính. Tể tướng điều hòa âm dương, mở mang thánh đức, mà ân huệ không xuống đến dưới, ấy là Tể tướng phụ bạc bệ hạ. Xưa Y Doãn làm Tể tướng, lấy làm xấu hổ nếu có 1 người không được nuôi sống. Nay người chết đói như thế, đó là điều gọi là ‘cần gì dùng bậc Tể tướng ấy’. Nếu không riêng tiến dùng hiền thần, thần e mầm mống nguy loạn không chỉ ở biên phòng mà còn ở nội địa nữa.”
Lấy Đinh Vị làm Phó chuyển vận sứ lộ Quỳ châu.
Trước đây, khi Vương Quân làm phản, triều đình điều con em Man ở các châu Thi, Khiêm, Cao, Khê để chống giặc, sau đó họ quen thuộc núi sông đường sá, quay lại vào cướp, đánh các châu huyện, bắt dân nam nữ đưa vào khe động, lâu ngày không dẹp yên được. Xuống chiếu lấy Vị làm Chuyển vận sứ, giao cho quyền kinh chế. Đến nơi, ông lệnh bãi binh, tự mình vào các khe động, mỗi lần qua sông lại giảm bớt quan lại, lính theo hầu, đến khi vào đến sào huyệt, người theo chỉ còn 2, 3 người. Người Man phục lòng ân tín của ông, đều rất vui mừng, thủ lĩnh Điền Ngạn Y trở xuống đều ra đón bái kiến, lấy trâu rượu khoản đãi Vị. Vị lưu lại, cùng ăn uống, rất vui vẻ, bảo cho biết họa phúc, lại nói sẽ tha tội không giết, Ngạn Y và những người khác cảm động rơi lệ, nguyện đời đời dâng cống. Vị mời họ cùng đến Quỳ châu, mỗi lần qua sông cũng khiến họ giảm bớt người Man đi theo, giống như lúc Vị vào. Đến khi vào quán, Vị ban cho họ áo bào gấm, bạc lụa có thứ bậc, bày tiệc lớn đãi, các tù trưởng Man đều rất vui. Vài ngày sau, họ xin về, ông không cho, mà đối đãi càng hậu. Lúc rảnh, ông sai người bảo họ rằng: "Ta muốn được những người Hán nam nữ mà các ngươi đã bắt, nếu các ngươi thật lòng xin trả lại, ta tất sẽ vui mừng, cho các ngươi về.” Các tù trưởng Man bèn xin trả lại người Hán nam nữ đã bắt, Vị cùng họ ước định, mỗi trả 1 người, cho 1 tấm lụa, nhờ đó thu được hơn 1 vạn người. Đến khi họ về, ông lại tự mình đến tiễn, các tù trưởng Man đều cảm động rơi lệ từ biệt, bèn lập lời thề, khắc lên cột đá, dựng ở biên giới.
Vị xét từ trong Hạp đến Kinh Nam, nên phòng bị những nơi hiểm yếu của người Man, bèn đặt trại khắp nơi, ghi tên dân cư, khiến họ tự giữ, có việc thì đều tập hợp chống giặc, không việc thì giải tán về ruộng vườn, chỉ lưu lại vài người canh giữ. Lại vì binh ở các châu Trung, Vạn không tự cung cấp được lương ăn, nên đặt doanh của các châu Trung, Vạn ở Quỳ châu, khiến quân của họ đến đó ăn, có việc thì trở về châu mình. Các châu trong Hạp, Thi châu gần người Man nhất, lương ăn thường không đủ, đường hẹp khó vận chuyển, có lợi là có giếng muối nhưng cũng khó đưa đến, nên người bán ít. Vị bèn xét ở huyện Vu Sơn, cứ 30 dặm đặt 1 trạm, mỗi trạm đặt 30 lính, khiến người đi đường gánh thóc lần lượt chuyển đến Thi châu, người đón thì gánh muối lần lượt chuyển đến Vu Sơn. Phàm thương nhân được muối Vu Sơn, so với được muối ở châu khác thì giảm nửa công sức, bèn lệnh cho những người muốn muối Vu Sơn đều nộp thóc ở Thi châu, nhờ đó Thi châu được thóc ngang với các châu khác. Xuống chiếu đặc biệt thăng Vị làm Viên ngoại lang bộ Hộ.
Lúc ấy, có một bộ phận khác của Khê Man vào cướp, Vị sai Ngạn Y và những người khác dẫn bộ hạ đánh dẹp, lại xuất binh cứu viện, bắt sống 860 người Man, thu lại hơn 400 người Hán bị bắt. Lại tâu rằng: "Các bộ Man ở phía nam Khiêm châu phần nhiều giỏi ngựa, xin đặt quán, cấp tiền lụa để đãi, hàng năm thu mua ngựa của họ.” Phàm những điều Vị đã quy hoạch, về sau không ai thay đổi được.
Tháng 2, đường phố trong kinh thành chật hẹp, xuống chiếu cho Hữu Thị cấm, Hợp môn Chi hậu Tạ Đức Quyền đốc suất mở rộng. Đức Quyền nhận chiếu, trước hết dỡ bỏ dinh thự của các quyền quý, dư luận xôn xao. Có chiếu dừng lại; Đức Quyền tâu trực tiếp rằng: "Nay những kẻ cản trở việc đều là bọn quyền hào, chỉ tiếc tiền thuê nhà mà thôi, không có lý do nào khác. Thần dù chết cũng không dám phụ chiếu.” Hoàng đế bất đắc dĩ phải theo. Đức Quyền nhân đó dâng tấu ghi rõ chiều rộng, chiều dài đường phố, cùng việc cấm đánh trống lúc hoàng hôn và bình minh, đều khôi phục theo chế độ cũ của Trường An. Bèn xuống chiếu lệnh cho Ty phố của phủ Khai Phong ước định xa gần, lập sổ, dựng mốc, khiến dân từ nay không được lấn chiếm nữa.
Ngày Quý Dậu, xuống chiếu rằng: "Gần đây những người coi kho tàng, thóc lẫm phần nhiều thu thêm tiền thừa làm thành thành tích, lại nhân lúc xuất nạp mà có chỗ nặng nhẹ, việc này có thể trách phạt chứ không thể khen thưởng. Nên lệnh cho hữu ty nghiêm khắc răn bảo, không để tái phạm.” Tam ty tâu rằng Phó sứ Kho y phục Tiêu Thủ Tiết giám coi viện Khước dịch hương dược, hàng năm tăng thu hơn 10 vạn, đáng được thăng làm Phó sứ Hợp môn. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Thủ Tiết nhờ vào tiền lợi thừa mà được thăng làm Hoành hành, thì lấy gì khuyến khích những người ở biên thùy liều chết lập công!” Bèn chỉ cho làm Phó sứ Cung uyển.
Tôn Toàn Chiếu đến Tuỳ châu, tâu rằng việc xây thành không tiện, triều đình bàn luận cũng nhiều ý kiến khác nhau. Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu lệnh cho Tri Thiên Hùng quân Tiền Nhược Thủy cùng Kiềm hạt Bính Đại Trần Hưng cưỡi trạm ngựa đi khảo sát kỹ.
Nữ Chân sai con sang Liêu triều cống.
Ngày Ất Dậu, xuống chiếu: "Những binh sĩ ở biên giới bị bệnh hoặc chết trận, áo quần mùa đông, mùa xuân cho phép cấp cho gia đình họ.”
Ngày Kỷ Sửu, lấy Vương Hán Trung làm Đô bố trí sứ lộ Tần Ninh, Hoàn Khánh, Lý Doãn Chính làm Kiềm hạt.
Tháng 3, Lý Kế Thiên tập hợp đông đảo các bộ Di đánh chiếm Linh châu, Tri châu, Nội khách tỉnh sứ, Thuận châu Đoàn luyện sứ Bùi Tế chết trận. Tế ở Linh châu được 2 năm, mưu hòa hợp 8 trấn, khai lợi điền đồn, dân rất nhờ cậy. Đến khi bị vây, đường vận lương bị cắt, Tế chích máu ở tay viết tấu xin cứu viện, đại quân rốt cuộc không đến, thành bị hãm. Kế Thiên đổi châu làm Tây Bình phủ, chẳng bao lâu dời đến ở đó. Ngày Mậu Thân, việc đến tai, Tể tướng và những người khác dâng biểu xin chịu tội, Hoàng đế xuống chiếu an ủi.
Ngày Kỷ Dậu, lấy Vương Siêu làm Đô bố trí sứ doanh trại trú đóng Vĩnh Hưng quân, lấy Thạch Phổ làm Phó; dời Khang Kế Anh làm Kiềm hạt trú đóng Khánh châu, cùng với các biên trấn phía tây nam thay nhau ứng viện; lấy Tần Hàn làm Kiềm hạt 2 lộ Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, cùng với Vương Hán Trung, Lý Doãn Chính cùng đảm nhiệm việc ấy, để phòng bị sự xâm lấn bất ngờ của Kế Thiên.
Ngày Giáp Dần, Liêu sai Bắc phủ Tể tướng Tiêu Kế Viễn và những người khác dẫn quân xuống phía nam.
Ngày Kỷ Mùi, Hoàng đế thân chấm thi cử nhân bộ Lễ, lấy được 38 người đỗ Tiến sĩ, đứng đầu là Vương Tằng người Ích Đô trở xuống, các khoa Cửu kinh được 181 người, đều ban cho đỗ.
Trước đó, lệnh cho Thị lang bộ Lại Trần Thứ làm Tri cống cử, Thứ lấy đỗ rất ít, lấy Vương Tằng làm Trạng nguyên. Đến nay, khi khảo thí theo lối che tên, Tằng lại đỗ Giáp khoa. Thứ than rằng: "Tằng là bậc tài danh đời nay, ta được Tằng, không thẹn là người biết người vậy.” Có người bảo Tằng rằng: "Trạng nguyên một đời ăn không hết.” Tằng nghiêm sắc mặt đáp: "Chí hướng cả đời của ta không ở chỗ no ấm!”
Ngày Nhâm Tuất, Liêu chúa đi đến Uyên Ương Lạc.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Dần mồng 1, Văn ban Thái bảo Đạt Lý Tư của Liêu giao chiến với quân Nam ở Lương Môn, rồi sau sai Thống quân sứ Nam Kinh Tiêu Đạt Lan đánh Thái châu, trước sau đều báo thắng, chẳng bao lâu rút quân về.
Tiền Nhược Thủy dâng tấu rằng: "Từ khi ban cho Triệu Bảo Trung giữ Tuỳ châu đến nay, hộ khẩu hao tổn, nay muốn khôi phục thành ấy, tính công việc hơn 1 triệu, lại phải mở rộng quân đồn trú, gấp đôi trước kia. Việc cung cấp cỏ lương hoàn toàn trông vào Hà Đông, mà nơi ấy cách trở sông Hoàng Hà và 2 núi Thiết Kiệt lớn, nhỏ, lại dưới thành có sông Vô Định, khi khẩn cấp dùng binh, vận chuyển rất khó khăn. Hơn nữa, nơi ấy không có hiểm trở, nếu sửa sang chưa xong, giặc Di xông đến, thì khó giữ vững. Huống chi thành ấp của châu này đã bị thiêu hủy, không còn một cây xà, một viên ngói, núi rừng đi qua, gỗ cũng thiếu, xin bãi việc ấy.” Nhược Thủy lại vào triều tâu bày trực tiếp việc này, Hoàng đế rất khen và nghe theo. Trước đó, Nhược Thủy dẫn quân qua sông, phân bố quân ngũ, đều có tiết chế, rất được các tướng trấn thủ khâm phục. Hoàng đế biết vậy, bảo tả hữu rằng: "Nhược Thủy là người trong hàng nho thần mà biết binh pháp vậy.”
Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu: "Dân Thiểm Tây kéo xe vận chuyển cỏ lương đến các nơi biên giới, cho miễn nửa số thuế ruộng.”
Ngày Quý Dậu, lệnh cho Điền Tích lấy chức vụ hiện tại kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự, lại sai Trung sứ truyền dụ rằng: "Chức Tri tạp, triều đình rất khó chọn người, nên mới giao cho khanh. Cũng không ngại chậm rãi soạn thảo, hễ có điều gì thấy được, thì cứ tâu lên.”
Lệnh cho biên giới phía bắc đo đạc ruộng đất để hạn chế kỵ binh địch.
Điền Tích xin lệnh: "Sai Thẩm quan viện kiểm tra các tờ tráp trước sau của Trung thư, phàm 21 người Ngự sử của Tam viện, nếu trước đây từng có tội tham ô, dâm bậy, thì không được giữ chức trong Ngự sử đài, có thể đổi bổ chức khác; những người thanh liêm, nghiêm cẩn, siêng năng, giỏi việc, thì không được để ở ngoài, xuống chiếu cho họ trở về chức cũ.”
Tháng 5, ngày Canh Tý, giảm bớt quan lại dư thừa ở Hà Bắc.
Ngày Quý Mão, đặt Hiến châu.
Tiến sĩ Lý Quang Phụ ở Đại châu giỏi đánh kiếm, đến kinh yết kiến, Hoàng đế nói: "Nếu khuyến khích dùng người như thế, dân sẽ đều thích kiếm cả.” Bèn cho về.
Ngày Ất Tỵ, Quan sát sứ Ty Thôi khiếm Tam ty Dương Đàm tâu xin ghi việc miễn bỏ nợ đọng trong thiên hạ, tính hơn 8 triệu, giao cho Sử quán; được chấp thuận.
Ngày Bính Ngọ, lấy Vương Hiển làm Tiết độ sứ 3 thành Hà Dương.
Ngày Canh Tuất, Chỉ huy sứ Mã Hàn xin được quyền bắt bọn giặc cướp trong kinh. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Khi trẫm làm Doãn kinh, nghe Hàn lấy danh nghĩa truy bắt giặc mà có 3 điều hại: hào dân trong đô thị sợ bị hắn tra xét, thường phải hối lộ hậu cho hắn, đó là 1; mỗi khi bắt được tang vật của giặc, hắn ước lượng số đáng tội chết mà nộp cho quan, còn lại đều bỏ túi, đó là 2; hắn thường nuôi hơn 10 kẻ vô lại, đi dò xét quấy nhiễu dân, đó là 3. Xét việc hắn chưa bại lộ rõ ràng, nên không muốn bãi chức. Từ nay việc bắt giặc chỉ giao cho phủ Khai Phong, không cho Hàn dự vào nữa.”
Tháng này, tuyển dân đinh Hà Nam làm lính. Biên giới tây bắc nhiều lần xin tăng binh, các Phụ thần xin lấy trai tráng Hà Bắc sung tuyển, Hoàng đế nói: "Lúc đầu đặt hạng Cường tráng, từng dụ rằng vĩnh viễn không sung quân.” Lữ Mông Chính nói: "Thiếu binh thì không lấy ở dân, không thể có được.” Bèn ở Hà Nam ghi tên trai tráng làm lính. Thị ngự sử Tri tạp Điền Tích dâng tấu: "Tập hợp hương binh, lòng người bất an, thật làm tổn hại hòa khí.”
Tháng 6, lấy Trần Nhược Chuyết làm Lang trung bộ Công, Tri Sở châu. Nhược Chuyết từ chức Chuyển vận sứ Kinh Đông được triệu về, lúc ấy chức Tam ty sứ khuyết, Nhược Chuyết tự cho là mình sẽ được, đến nơi thì được bổ làm Lang trung bộ Hình, Tri Đàm châu. Nhược Chuyết rất thất vọng, nhân lúc chầu, cố xin từ chối, lại nói từng giữ chức Phán quan Tam ty và Chuyển vận sứ, nay giữ châu ngoài hồ, trái lại giống như bị giáng chức; lại nói cha mẹ tuổi già, không muốn đi xa. Hoàng đế nói: "Đàm châu là trọng trấn, trẫm vì vùng biên mà chọn người, sự ủy thác không kém Chuyển vận sứ. Các cựu thần từng làm Tể tướng cũng có người ra trấn thủ trọng trấn.” Nhược Chuyết khẩn khoản xin mãi, bèn thu hồi chiếu thư bổ nhiệm mới, rồi mới có mệnh này.
Hoàng đế bảo Tể tướng rằng: "Sĩ đại phu tu dưỡng, tất phải danh thực tương xứng. Trẫm nghe Nhược Chuyết có tài năng, đặc biệt thăng chức, giao cho trọng trấn, mà tham tiến chọn lộc như thế, thật đáng bị quở trách giáng chức. Việc trẫm dùng người, há lại phân biệt thân sơ, chỉ cần có thể tận tụy vì công, có chỗ lập công, thì lo gì danh vị không đến!”
Ngày Quý Dậu, Lý Kế Thiên lại đem 2 vạn kỵ binh tiến vây Lân châu; xuống chiếu phát binh các châu Tinh, Đại, Thạch, Tập cứu viện.
Ngày Ất Hợi, lấy Vương Siêu làm Đô bố trí sứ hành doanh trú đóng lộ Định châu, Vương Kế Trung làm Phó, Nội mật Đô tri Hàn Thủ Anh làm Kiềm hạt.
Ngày Kỷ Mão, lấy Tri Khu mật viện sự Chu Oánh làm Tiết độ sứ Vĩnh Thanh quân, kiêm Đô bố trí sứ Cao Dương quan.
Ngày Ất Dậu, xuống chiếu tăng thêm 8.000 binh, chia đóng ở Hoàn Khánh, Kinh Nguyên.
Lý Kế Thiên dẫn 2 vạn quân đánh Lân châu, 4 mặt vác ván áp sát thành trong 5 ngày. Tri châu, Hợp môn Chi hậu Vệ Cư Thực nhiều lần xuất kỳ binh xông ra đánh, lại chiêu mộ dũng sĩ đu dây xuống thành lén đánh giặc, giặc đều tan vỡ, giẫm đạp lên nhau, chết bị thương hơn 1 vạn người. Ngày Đinh Sửu, Kế Thiên nhổ trại rút lui.
Hoàng đế cùng các Phụ thần ở tiện điện, lấy “Địa đồ Đông lộ Hà Bắc” ra, chỉ vào những nơi hiểm yếu núi sông mà nói: "Khi Khiết Đan vào cướp, dân ở Tân, Địch phần nhiều mất mùa màng. Mùa đông năm nay nếu chúng lại đến, trẫm tất sẽ vượt qua phía bắc Hình, Minh, đuổi chúng ra khỏi biên giới, để yên việc sinh tụ.” Lữ Mông Chính và những người khác đều xin chọn kỹ tướng soái, giao trách nhiệm thành hiệu, không cần xa giá thân chinh. Hoàng đế nói: "Nếu vậy, các khanh nên mỗi người vẽ ra kế sách chắc chắn tâu lên.”
Ngày Nhâm Thìn, Hoàng đế mới nghe tin thắng trận ở Lân châu, bèn lấy Vệ Cư Thực làm Cung bị khố sứ, từ Thông phán trở xuống đều được thăng chức.
Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Ngọ mồng 1, nhật thực.
Ngày Bính Thân, lấy Quan sát sứ Đặng châu Tiền Nhược Thủy làm Kinh lược sứ Tinh, Đại, kiêm phán Tinh châu. Hoàng đế mới dùng nho tướng, chưa muốn cho kiêm danh hiệu Đô bố trí sứ, nhưng trách nhiệm thực tế thì giống nhau.
Ngày Đinh Dậu, Liêu lấy Hình Bão Phác làm Nam viện Khu mật sứ.
Ngày Kỷ Hợi, Tiết độ sứ Bảo Tĩnh Vương Hán Trung vì tội đi Tây chinh trái chiếu mà không có công, bị giáng làm Thượng tướng quân Tả Đồn vệ. Hơn 1 tháng sau, cho ra làm Tri Tương châu, chưa đến nhiệm sở thì bỗng nhiên bệnh nặng mà chết. Hoàng đế rất thương tiếc, xuống chiếu truy tặng Thái úy, sai Trung sứ lo việc tang.
Hán Trung trầm tĩnh, có mưu lược, khinh tài, thích bố thí, kính trọng đãi ngộ nho sĩ, thường ngày đọc sách, tay không rời quyển, lấy đó tự kiêu hãnh, nên các tướng soái đều không vui. Điện trực An Thủ Trung, Trịnh Hoài Đức đều cưỡi trạm đến biên nhận chức, Hán Trung đãi không hậu, bèn cùng nhau bới móc chuyện riêng của Hán Trung tâu lên. Việc Hán Trung bị giáng đến chết, công lao của 2 người là nhiều. Hoài Đức, Thủ Trung đều là những kẻ bám víu ở Tương để tiến thân.
Ngày Ất Mão, chiêu mộ trai tráng Hà Bắc.
Ngày Bính Thìn, sai sứ mang chiếu đến núi Chung Nam triệu Chủng Phóng vào triều, lại ban cho 100 tấm lụa, 10 vạn tiền, vì Trương Tề Hiền lại dâng tấu ghi hạnh kiểm của Phóng, xin gia ân khen thưởng.
Ngày Nhâm Tuất, Đại Lâm trại sứ Vương Chiêu Mẫn của Liêu và những người khác đến hàng.
Tháng 8, quần thần 3 lần dâng biểu tôn hiệu, Hoàng đế không cho.
Ngày Bính Tý, tướng Sa châu là Tào Tông Thọ giết Tiết độ sứ Tào Diên Lộc rồi thay thế, sai sứ vào triều cống. Lấy Tông Thọ làm Quy Nghĩa quân Tiết độ sứ.
Tháng 9, ngày Quý Tỵ mồng 1, Liêu chúa đến bái Hiển lăng.
Trước đó, Lân, Phủ đóng trọng binh, đều do Hà Đông cung cấp lương, tuy đường đất rất gần, nhưng bị ngăn bởi sông dài, dân bản xứ lợi dụng việc dân Hà Đông ít đến, nên khi họ đến thì cỏ thóc tăng giá. Hoàng đế từng hỏi những người đi sứ biên giới, họ nói sông rộng chỉ vài chục bước; ngày Ất Mùi, xuống chiếu lệnh cho Chuyển vận sứ Trịnh Văn Bảo ở trên sông thuộc Định Khương quân, Phủ châu khảo sát xây cầu, mọi người đều cho là tiện.
Ngày Mậu Thân, Chủng Phóng đội khăn rộng vào chầu ở điện Sùng Chính, Hoàng đế cho ngồi, hỏi về chính sự. Phóng nói: "Sự trị của minh vương, chỉ là yêu dân mà thôi, chỉ cần chậm rãi mà cảm hóa họ.” Ngay hôm đó, bổ làm Tả Tư gián, Trực Chiêu Văn quán, ban mũ đai, áo bào, ngọc khuê, cho ở tại Đô đình dịch, Thái quan cung cấp cơm. Ngày Kỷ Dậu, Phóng dâng biểu từ chối ân mệnh, Hoàng đế lệnh cho Tể tướng triệu đến hỏi; lại biết Phóng và Trần Nghiêu Tẩu là bạn cũ, bèn sai truyền dụ. Phóng nói: "Chúa thượng lòng rộng mở đãi sĩ như thế, Phóng quyết không dám nghĩ đến chuyện bị ràng buộc.” Tể tướng tâu lại, xuống chiếu không cho từ chối, vài ngày sau lại triệu vào chầu, ban áo đỏ, ngọc khuê bằng ngà, đai tê giác, ngư bạc, cùng bài thơ ngũ ngôn do Hoàng đế ngự chế, lại ban cho khu nhà thứ nhất ở phường Chiêu Khánh.
Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Hợi mồng 1, Liêu chúa từ Hiển lăng trở về.
Ngày Đinh Hợi, Hướng Mẫn Trung bị bãi chức, làm Thị lang bộ Hộ, Trương Tề Hiền bị giáng làm Thái thường khanh, phân ty ở Tây Kinh.
Trước đó, vợ của Tướng quân Tả Lĩnh quân vệ Tiết Duy Cát là Thái thị, không con, sớm góa, muốn cải giá lấy Tề Hiền. Con của Duy Cát là An Thượng kiện việc này, giao cho Ngự sử đài, tra xét được chứng cứ Tề Hiền đã định cưới Thái thị. Thái nhân đó dâng thư tố cáo Mẫn Trung trái chiếu mua rẻ nhà cũ của Duy Cát, lại từng cầu cưới mình nhưng không được. Hoàng đế hỏi Mẫn Trung, Mẫn Trung nói quả có mua nhà An Thượng đang ở, gần đây mới mất vợ, chưa bàn đến việc hôn nhân, chưa từng cầu hôn Thái. Diêm thiết sứ Vương Tự Tông vốn ghen ghét Mẫn Trung, nhân lúc vào chầu, nói: "Mẫn Trung đã bàn định cưới em gái Vương Thừa Diễn.” Hoàng đế ghét việc ông ta không ngay thẳng, bèn bãi chức Tể tướng. Hàn lâm học sĩ Tống Bạch từng đến vay vàng của Mẫn Trung mà không được, đến khi thảo chiếu, hết sức công kích, có câu: "Đối với trẫm nói dối, làm bề tôi mà tự mình tối tăm.” Mẫn Trung đọc đến thì rơi lệ.
Điền Tích tâu: "Nghe nói ở Khu mật viện, Trung thư, chính sự đều do tay lại dịch. Lại dịch nhận hối lộ, chỉ xét theo lệ cũ, không có lệ cũ thì không làm; Khu mật, Tể tướng bàn bạc, không có mưu lược xa, không có mưu lược xa thì nhiều sai lầm. Sai lầm về kế sách biên giới là: năm ngoái mất Thanh Viễn quân, năm nay mất Linh châu. Sai lầm về quốc kế là: không biết kho tàng có hay không, không biết thóc lẫm đầy hay vơi. Khi Di địch xâm nhập sâu, thì xin xa giá thân chinh; tướng soái không có công, thì chờ thánh ân quyết đoán. Vì thế kho tàng đầy hay vơi, lỗi không ở Khu mật viện; động tĩnh biên phòng, việc không thuộc Trung thư. Do đó nối tiếp nhau, dần dần thành lệ. Nếu thánh ân còn dùng họ, thì không mất phần hưởng phú quý; nếu thánh chỉ bãi miễn, thì cũng chỉ trở về hàng quan thường. Xưa Tam công nhà Hán, khi bị bãi miễn thì cho về làm ruộng, khi bị giết thì cho tự tận. Vì trách nhiệm dùng họ nặng, nên việc bãi miễn, trách phạt không nhẹ, người nắm quyền nước nên không dám không hết lòng, người giữ binh quyền nên không dám không tận tiết. Nay thì không như vậy, bề tôi được nhàn nhã, còn vua thì chỉ lo lắng, nên âm dương không thuận, thủy hạn không điều hòa, pháp lệnh càng nhiều, trộm cướp càng nổi. Lại còn xui khiến phụ lão kinh thành dâng sớ xin gia tôn hiệu, may nhờ thánh quân anh tuấn, quyết liệt bác bỏ các biểu ấy. Từ đó thấy Tể tướng dùng lời ngọt nịnh trên để cầu thánh tri, mà cho rằng quốc kế, quân cơ không phải trách nhiệm của mình, đó là do từ trước đến nay trách nhiệm nặng mà trách phạt nhẹ vậy. Nay kho tàng không còn tiền dư, thóc lẫm không có thóc tích, chỉ gấp rút lo việc phòng bị biên giới, không nghĩ đến kế sách trị nước, đất càng hoang, lê dân càng nghèo, việc càng nhiều mà tài vật càng ít. Quan lại lo che giấu lỗi còn không kịp, nếu thêm tai họa thủy hạn, lại gặp họa Di địch, thì không biết những người ở triều đình dùng trí lược gì, những người nắm quân binh dùng mưu kế gì! Mong bệ hạ nghe điều thần tâu, hai quyền thưởng phạt không cần việc gì cũng hỏi Trung thư, vạn cơ biến thông không cần việc gì cũng do Khu mật viện; sau đó phân biệt lời gièm, xét tìm trung lương, sớm trừ mầm mống nguy loạn, thì thiên hạ rất may mắn vậy!”
Tháng 11, ngày Nhâm Thìn mồng 1, xuống chiếu cho Lân châu được miễn thuế 1 năm.
Ngày Quý Tỵ, lệnh cho Viên ngoại lang Ty Độ chi Lý Sĩ Hành, Hợp môn Chi hậu Lý Phổ đến các châu Thiểm Tây tăng thuế muối. Từ đó mỗi năm tăng thêm 250.000 tiền.
Ngày Tân Sửu, tế hưởng Thái miếu. Ngày Nhâm Dần, hợp tế trời đất ở Viên Khâu, đại xá, miễn hết tiền lương nợ đọng trong thiên hạ.
Ngày Đinh Mùi, dân Bạch châu là Hoàng Thụ hơn 100 tuổi, được ban thóc lụa. Chẳng bao lâu, lại ban cho lão nhân 100 tuổi ở kinh thành là Trúc Đạo Nham thăng 1 cấp tước.
Ngày Kỷ Dậu, phong Hoàng tử Nguyên Hựu làm Tín Quốc công.
Ngày Quý Sửu, lấy Viên ngoại lang Ty Chức phương Nhạc Sử làm Trực Sử quán. Sử hơn 70 tuổi, Hoàng đế khen sức lực không suy, lại chăm học, trước tác sách, nên giao cho chức cũ. Sử cùng con là Hoàng Mục đều làm Trực Sử quán, người đương thời lấy làm vinh.
Ngày Canh Thân, Phán quan Tiết độ Hà Dương là Thanh Trì Trương Tri Bạch dâng sớ rằng: "Thần nghe ‘Chu lễ’ giao cho Thu quan coi việc hình. ‘Nguyệt lệnh’ nói sau trung khí tháng Mạnh thu thì lệnh cho hữu ty sửa sang ngục tù, chuẩn bị gông cùm, xử các hình phạt nhẹ, quyết các tội nhỏ. Đến tiết Thu phân thì nghiêm các hình phạt, chém giết phải đúng, không để sót tội. Đó đều là thuận theo mệnh lệnh túc sát của thượng thiên. Nay lệnh cho sứ đi quyết án, phần nhiều không theo thời điểm này, hoặc vào mùa xuân, hoặc vào mùa hạ, tuy là chăm lo xét xử, nhưng e có việc giam giữ kéo dài, như thế là chưa thuận theo mệnh lệnh bốn mùa! Mong từ nay, trừ việc mùa hạ vẫn theo lệ cũ xuống chiếu giảm hình, thì mỗi năm từ sau trung khí tháng Mạnh thu đến trước tiết Thu phân, chọn người chu đáo, chia đường đi quyết án. Như thế là thuận theo trời mà hành hình, vạn việc tất hợp nghĩa.
“Thần lại nghe tiên vương để lại lời dạy, coi trọng đức giáo mà nhẹ hình phạt. Nay văn từ pháp lệnh là điều thời thế ưa chuộng, từ trong đến ngoài, những người từ hình pháp mà tiến thân rất nhiều, dù có quan lại hiền lương, cũng đổi chí mà chăm lo hình danh. Thần ngu cho rằng hình pháp là công cụ trị nước, không thể chỉ dựa vào nó, tất phải phối hợp với đức giáo, rồi mới có thể nói là trị tốt.
“Thần lại nghe thánh nhân ở vào thời giữ văn, muốn làm trong sạch nguồn hóa, cốt ở chỗ chính đính Nho thuật. Người học thời xưa, sách ít mà có hạn, đạo thuần mà có ích; người học thời nay, sách không bờ bến, đạo không một đường, nên học càng nhiều, tính càng loạn. Nay những người học để thi Tiến sĩ, là kinh, sử, tử, tập. Điều mà hữu ty chọn là thơ, phú, sách, luận. Ý nghĩa của Ngũ thường, Lục nghệ không kịp tìm tòi, những điều họ học thì tràn lan mà không chỗ chuyên, không những không được chuyên nhất, lại còn làm hại sinh ra trong đó. Nếu sáng suốt thi hành chế lệnh, lập khuôn phép lớn, mỗi khi ra đề khảo thí, lấy kinh điển làm chủ, lại tham khảo chính sử, đến như các sách chư tử, tất phải là những sách phụ trợ cho kinh, hợp với đạo mới dùng, ngoài ra đều bỏ không dùng, rồi sau mới lấy sách luận trước, thơ phú sau, yêu cầu nắm được đại thể trị đạo, bỏ qua những lỗi nhỏ về thanh vận. Như thế thì sách mà Tiến sĩ học sẽ ít, văn mà họ học sẽ chính, mà sự trị hóa sẽ hưng thịnh vậy.” Hoàng đế xem và khen, triệu Tri Bạch vào triều, khảo ở Viện Xá nhân, bổ làm Tả Chính ngôn.
Tháng 12, ngày Quý Mùi, dời dân nội thuộc Lân châu đến Lâu Phiền.
Điền Tích tâu: "Bệ hạ nối ngôi đã 5 năm, cung trữ chưa lập, e mở đầu mối cho kẻ dòm ngó, nên nghĩ đến nghĩa trọng và cẩn.”
Phủ Ngũ trướng, Lục Tiết độ của Liêu ở Vương phủ Khiết dâng 7 núi vàng, đất sông Thổ Hà, Liêu chúa ban cho vàng tiền.
Năm ấy, nước Liêu lấy 6 người Tiến sĩ là Hình Tường và những người khác.
Mùa xuân, tháng Giêng, Liêu chúa đi đến Uyên Ương Lạc.
Tháng 2, ngày Kỷ Mão, sai sứ cứu tế nạn lụt ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam.
Tù trưởng Lục Cốc là Ba Lặc Kết sai quan Di đến dâng cống, trong biểu nói: "Cảm ân tín của triều đình, phẫn nộ vì Kế Thiên cứng đầu, đã tập hợp 6 vạn kỵ binh, xin hợp với quân triều đình, thu phục Linh châu.” Hoàng đế nói: "Kế Thiên mỗi lần đến cướp biên, quân ta ra thì hắn trốn. Nếu khiến các bộ Lục Cốc giữ trại gần đó chống giữ, hợp với quan quân, cũng là lợi cho quốc gia.” Bèn xuống chiếu cho phép. Ngày Canh Thìn, lấy Ba Lặc Kết làm Tiết độ sứ Sóc Phương quân, Đô tuần kiểm sứ phía tây Linh châu.
Tháng 3, ngày Tân Mão mồng 1, Điền Tích (田錫) tâu rằng: "Từ mùa thu năm ngoái đến nay, mưa dầm liên miên sinh ra tai độc, các nơi gần kinh kỳ đều bị nước lụt làm tai họa. Tuy có việc kiểm tra, khám xét chỗ bị tổn hại, nhưng chỉ là hư danh, còn việc phát chẩn, cho vay thóc gạo thì lại chẳng được thực hiện. Lại nữa, triều đình vì thiếu binh để phòng bị biên thùy, bèn ở vùng giữa các châu Tào, Đan, Tống, Bạc, Trần, Thái, Nhữ, Nghiễn chọn lấy trai tráng khỏe mạnh, được 5–7 vạn người. Lúc đầu xuống chỉ huy, chỉ bảo họ ở lại bản thành để phòng thủ, đến khi tâu báo tổng số lên rồi, thì đều bị áp giải đưa cả về kinh sư. Thất tín như thế, dân dưới há lại không oán hận mong mỏi sao! Xưa dân là gốc nước, ăn là trời của dân, nay triều đình lấy tráng đinh làm lính, đã là mất gốc nước; lại vì tai hại mà mất ăn, há còn có ‘trời của dân’ nữa! 5–7 vạn người đều rời ruộng nương, sau tai độc, nếu giặc cướp nổi lên, thì chỉ đủ làm lợi cho ngoại địch mà thôi.”
Ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa xuống chiếu cho quan sửa lịch Nhật Lịch quán không được ghi chép việc vụn vặt.
Tả Tư gián, Trực Chiêu Văn quán là Chủng Phóng (種放) lại dâng biểu xin tạm trở về núi, được chấp thuận. Ngày Bính Ngọ, đặc biệt bổ làm Khởi cư xá nhân. Khi sắp lên đường, mở yến tiễn ở Long Đồ các, lại xuống chiếu cho quan 3 quán và Bí các mở yến tiễn ở vườn Quỳnh Lâm, Hoàng đế ban 3 bài thơ thất ngôn, những người dự tiệc đều làm thơ họa lại.
Mùa hạ, tháng 4, đặt quân Thần Nhuệ, Thần Hổ ở Hà Đông, cộng hơn 13.000 người, lập đơn vị chỉ huy, thường xuyên huấn luyện tập dượt.
Ngày Ất Sửu, Nữ Chân sai sứ sang Liêu dâng cống.
Ngày Canh Ngọ, dời Tri Ích châu Mã Tri Tiết (馬知節) sang làm Tri Diên châu, kiêm Phu Diên trú bạc đô bộ sứ. Khi Tri Tiết ở Thành Đô, có vụ kiện lính Long Kỵ mưu làm biến, dây dưa lôi ra đến hàng ngàn người. Tri Tiết bí mật bắt bọn đồng đảng, tra xét cho rõ thực, chỉ giết 7 kẻ cầm đầu. Từ khi đời Càn Đức bình đất Thục đến nay, mỗi năm dâng nộp gấm vóc tính bằng vạn, ghi tên dân trong làng, bắt dùng thuyền thay phiên chở, chìm đắm gần một nửa, nhiều người phải phá sản để bồi thường. Tri Tiết xin chọn 20 người trong hàng đình thần và quan lại ở Bộ Lại, cứ 20 chiếc thuyền làm 1 “cương”, giao cho 2 người trông coi, 3 năm thay một lượt rồi đối chiếu công khóa, từ đó ít khi bị tổn thất. Sau loạn giặc cướp, ông thu quân, vỗ về phong tục, uy đức tỏ rõ. Nhưng vì ghét điều ác quá mức, quân dân có phạm tội, phần nhiều bị đày đi nơi khác, người ta rất oán sợ. Triều đình bàn việc cốt để yên ổn phong tục nơi xa, lo Tri Tiết không hợp được lòng người Thục, mà ông vốn có tài võ lược, nên dời ông ra giữ vùng Tây biên, lại có tay chiếu dụ, tỏ ý ủy thác giao phó.
Chế độ cũ, nếu gia nô, đầy tớ của sĩ, thứ phạm tội, thì có khi chủ nhân tự ý xăm mặt chúng. Hoàng đế cho rằng bọn nô sai ngày nay vốn là lương dân đi làm thuê, ngày Quý Dậu, xuống chiếu: "Kẻ trộm tài vật của chủ từ 5 quan trở lên, thì đánh vào lưng, xăm mặt, đày ra lao thành; từ 10 quan trở lên thì tâu lên để định đoạt, không được tự tiện xăm trổ chúng.”
Ngày Ất Hợi, Tham tri chính sự Vương Khâm Nhược (王欽若) dâng sớ nói: "Thông phán Quế châu, Thái thường bác sĩ Vương Hựu Chi (王佑之), mới chịu tang mẹ hơn 1 tháng, mà liên tiếp dâng 5 tờ trạng, đều không hợp thời nghi; hoàn toàn quên vẻ đau buồn, chỉ chăm lòng cầu tiến, mong được cất nhắc. Xin giáng phạt nặng để khuyến răn những người đang có chức vị.” Chiếu cắt bỏ 3 lần bổ nhiệm của Hựu Chi, đày làm dân thuộc lệ ở Lâm châu, lại lệnh cho Ngự sử đài dán bảng ở triều đường để cáo dụ.
Lý Kế Thiên (李繼遷) đánh cướp trại Hồng Đức, quan Phiên là Khánh Hương cùng những người khác đánh lui được. Bổ Khánh Hương và những người ấy làm Thứ sử.
Ngày Bính Tý, Liêu sai Nam phủ Tể tướng Gia Luật Nặc Cổn (耶律諾袞), Nam Kinh Thống quân sứ Tiêu Đạt Lan (蕭達蘭) tiến đánh Định châu. Hành doanh đô bộ sứ Vương Siêu (王超) cho bộ binh 1.500 người xuất phát trước, nghênh chiến ở huyện Vọng Đô, giết hại rất nhiều. Phó đô bộ sứ, Vân châu quan sát sứ Khai Phong Vương Kế Trung (王繼忠) đánh nhau với Nặc Cổn ở thôn Khang, từ lúc mặt trời xế đến canh hai, thế giặc hơi lui. Trời tờ mờ sáng, lại giao chiến, người Liêu dốc hết quân đánh vào phía đông doanh trại, rồi sau khi ra trận thì đốt phá, cắt đứt đường lương. Kế Trung dẫn quân dưới cờ, thúc ngựa phi tới, vốn hay phô trương y phục, người Liêu nhận ra, vây mấy chục vòng, quân sĩ đều bị thương nặng, liều chết chiến đấu, vừa đánh vừa rút, men theo núi phía tây mà đi về phía bắc, đến Bạch Thành, sức không chống nổi, bèn bị bắt. Vương Siêu và những người khác liền rút quân về Định châu, sai sứ tâu báo.
Tả vệ Thượng tướng quân Tín Quốc Tây Nguyên Hựu (信國西元祐), hiếu thuận, cẩn thận, thông minh, được Hoàng đế rất mực yêu quý. Đến khi mắc bệnh, Ty Tư thiên nói rằng mặt trăng phạm sao Tiền Tinh và sao Thứ Tử; Hoàng đế lo lắng, nhiều lần lập trai giới, cầu đảo trừ tai. Ngày ấy ông mất, mới 9 tuổi, truy phong làm Chu vương, thụy Đạo Hiến. Sau 15 ngày, hoàng tử mới sinh được 2 tháng cũng không sống, Hoàng đế bèn chọn con trong tông thất, nuôi trong cung.
Thành Đô thiếu người trấn giữ, triều đình khó chọn được người thích hợp. Hoàng đế cho rằng Tri Vĩnh Hưng quân phủ Trương Vịnh (張詠) trước kia từng ở đất Thục, chính sự sáng suốt, nghiêm minh, chăm lo an tập, dân xa đều được lợi, ngày Giáp Thân, gia cho Vịnh chức Hình bộ Thị lang, sung Khu mật trực học sĩ, Tri Ích châu. Dân nghe tin Vịnh lại đến, đều phấn khởi, mừng rỡ lẫn nhau.
Tháng 5, ngày Tân Mão, Định châu đô bộ sứ Vương Siêu tâu rằng quân Liêu đã ra khỏi biên giới.
Ngày Giáp Ngọ, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.
Ngày Ất Mùi, bổ Điền Tích làm Tả gián nghị đại phu, lại sai Trung sứ dụ bảo Tích rằng: "Cứ yên tâm trước tác, ắt không có sai sót. Nếu muốn vào điện tâu bày thì cho phép được dâng sớ trước.”
Hoàng đế nghe tin Vương Kế Trung tử trận, ngày Đinh Dậu, truy tặng làm Tiết độ sứ Đại Đồng quân kiêm Thị trung, ban quan chức cho 3 con trai, đều gia cấp bậc. Kế Trung sau khi bị bắt, được yết kiến Liêu chúa ở Than Sơn, Thái hậu biết ông có tài, cho làm Hộ bộ sứ, lại ban vợ con; Kế Trung cũng tự mình phấn phát, hết sức làm việc cho Liêu.
Ngày Tân Hợi, ghi nhận con cháu các tướng sĩ tử trận ở Vọng Đô.
Vọng Đô thất bại, Hoàng đế nói với cận thần: "Dùng binh vốn có thắng bại, nhưng trận này nghe nói có kẻ ngay nơi trận tiền công nhiên không bảo vệ chủ soái, dẫn quân bỏ chạy trước. Nếu không truy xét đến cùng, thì lấy gì răn về sau!” Bèn lệnh cho Cung uyển sứ Lưu Thừa Khuê (劉承珪), Cung bị khố Phó sứ Lý Doãn Tắc (李允則) cưỡi trạm mã đi tra hỏi. Ngày Quý Sửu, Trấn châu Phó đô bộ sứ Lý Phúc (李福) bị tội xóa tên trong sổ quan, đày ra Phong châu; Củng Thánh đô chỉ huy sứ Vương Thăng (王升) bị đánh trượng, đày làm dân thuộc lệ ở Quỳnh châu. Nhân đó xuống chiếu răn nhắc các tướng soái các lộ.
Lý Kế Thiên đánh Tây Phiên, chiếm Tây Lương phủ. Đô thủ lĩnh Ba Lặc Kết (巴勒結) giả hàng, Kế Thiên tin nhận không nghi. Ba Lặc Kết liền tập hợp các bộ Tây Cốc Phiên và tộc Kết Long cùng đánh, Kế Thiên đại bại, trúng tên giữa dòng, chạy về Linh châu. Ngày Đinh Tị, Kế Thiên chết, con là Đức Minh (德明) sai sứ báo với Liêu.
Tháng 6, ngày Kỷ Mùi mồng 1, Hoàng đế ngự tiện điện, đem bản đồ trận thế ra cho các phụ thần xem, đồng thời ban cho các tướng phương lược: "Lệnh cho quân 3 lộ Trấn, Định, Cao Dương đều hội ở Định châu, kẹp sông Đường mà bày đại trận, tùy xem giặc xa gần, cho quân ra ngoài dựng rào lũy, giặc đến thì kiên thủ, không được đuổi, đợi qua 2 đêm giặc mệt, bấy giờ đánh trống khiêu chiến, không được rời đội ngũ, quý ở chỗ giữ vững, để kỵ binh địch không thể xông phá. Lại chia quân ra 3 lộ: cho 6.000 kỵ binh đóng ở Uy Lỗ quân, do Ngụy Năng, Bạch Thủ Tố, Trương Duệ chỉ huy; 5.000 kỵ binh đóng ở Bảo châu, do Dương Diên Lãng, Trương Diên Hỉ, Lý Hoài Tịch chỉ huy; 5.000 kỵ binh đóng ở trại Bắc Bình, do Điền Mẫn, Trương Ngưng, Thạch Diên Phúc chỉ huy, để đương đầu mũi nhọn của giặc. Lúc mới đến, không được giao chiến, đợi khi khí thế chúng suy, thì dựa lưng vào thành mà khiêu chiến, khiến chúng phải chạy ngược xuôi không kịp. Nếu Khiết Đan vượt xuống phía nam Bảo châu mà gặp đại quân, thì lệnh cho quân Uy Lỗ hội với Diên Lãng, khiến chúng bị đánh cả trước lẫn sau, nhân cơ hội mà đánh giết. Nếu Khiết Đan không đánh Định châu, buông thả tràn xuống phía nam, thì lại hội với Bắc Bình, để Điền Mẫn hợp thế tiến vào bắc giới, chặn đường lương thảo, khiến từ Hùng, Bá, Phá Lỗ trở xuống đều ứng cứu lẫn nhau. Lại lệnh cho Tôn Toàn Chiếu, Vương Đức Quân, Bùi Tự Vinh đem 8.000 quân đóng ở Ninh Biên quân; Lý Trọng Quý, Triệu Thủ Luân, Trương Kế Mân đem 5.000 quân đóng ở Hình châu, chẹn đường đông tây, nếu giặc muốn rút, thì lệnh cho đại quân Định châu hội với kỵ binh 3 lộ đánh chúng.” Các việc tuyển dùng khác đều đại loại như thế. Trước đó, Phùng Chửng (馮拯) dâng kế, cho rằng yếu điểm phòng biên là phải chẹn nơi hiểm yếu để chế chỗ xung yếu của địch, nếu ở giữa Bảo châu và Uy Lỗ mà dựa vào sông Từ, sông Bão để bày trận, thì thế có thể giành thắng. Đến đây, Hoàng đế phần nhiều dùng theo kế ấy.
Ngày Đinh Mão, xuống chiếu: "Quan lại bị lưu đày vào Lĩnh Nam, cho tiền mân để đưa hài cốt về chôn.”
Các bộ tộc Mạt Tễ, Gia La, Muội Khắc ở lò ngói Phong châu vượt sông Hoàng Hà đánh Lý Đức Minh, đánh bại được.
Ngày Đinh Sửu, thủ lĩnh phía tây núi Lũng là Thốc Bô (禿逋) cùng những người khác dâng ngựa, xin theo đại quân đánh giặc.
Ngày Kỷ Mão, Liêu truy tặng Lý Kế Thiên chức Thượng thư lệnh, sai Tây Thượng các môn sứ Đinh Chấn (丁振) đến điếu phúng, an ủi.
Ngày Tân Tị, Đảng Hạng vào dâng cống Liêu. Ngày Ất Dậu, các bộ Chuẩn Bố quy phụ Liêu.
Vì huyện Bồ Âm thuộc Định châu là đường hội quân ở cửa ải Cao Dương, nên xuống chiếu tu sửa thành. Cung phụng quan, Hợp môn chỉ hậu Tạ Đức Quyền (謝德權) kiêm coi việc ấy. Một hôm, ông cưỡi trạm mã vào triều xin được yết kiến, tâu rằng: "Dân dọc biên phần nhiều dắt cả nhà vào thành ở. Năm trước Khiết Đan vào cõi, Phó Tiềm đóng lũy tự giữ, Khang Bảo Duệ bị bắt, quân ta chưa từng có trận thắng. Thần cho rằng năm nay tất lại vào cướp, quân tụ một chỗ lại càng không tiện lợi. Xin sớm chia quân trấn giữ 3 lộ Trấn, Định, Cao Dương; thành Thiên Hùng tường lũy rộng xa, xin gấp xuống chiếu thu hẹp lại, lại tu sửa bắc thành Chấn châu, đào sâu hào lũy quân Đức Thanh để làm dự bị.” Hoàng đế đổi sắc mặt nói: "Đây là việc lớn, không phải điều ngươi nên nói.” Đức Quyền nói: "Thần được ơn sai khiến, liều vạn chết cầu được yết kiến, mong bệ hạ để tâm. Thần thực đã cân nhắc, công việc ở Bồ Âm chưa xong, thì giặc tất sẽ đến gấp.” Hoàng đế an ủi rồi cho lui. Quả nhiên sau đó người Liêu vây Bồ Âm.
Trước đây, Tam ty đều đặt ty cục riêng, không có người tổng thống, mỗi bên tự lo đủ dùng, chỉ cốt thúc ép cho xong việc. Đến khi xuất nạp, điều chuyển, san đều chỗ có chỗ không, thì chỉ chăm chăm giữ chặt, thường hay trái ngược nhau, hoặc vin lấy chỗ lợi, chỗ hại của nhau để cầu công, mong được thăng tiến. Lời oán than ngày ngày dâng lên trên, Hoàng đế phải phiền lòng tự mình quyết đoán, văn thư qua lại, không biết theo đâu. Ngày Đinh Hợi, bắt đầu hợp 3 ty Diêm thiết, Độ chi, Hộ bộ làm 1 sứ, lệnh cho Quyền tri Khai Phong phủ Khấu Chuẩn (寇准) làm Binh bộ Thị lang, sung Tam ty sứ. Lại đặt Diêm thiết, Độ chi, Hộ bộ phó sứ, lấy Biện Cổn (卞袞) coi Diêm thiết, Tra Đạo (查道) coi Độ chi, Lâm Đặc (林特) coi Hộ bộ. Những việc của Tam ty, nếu không phải tâu việc hoặc có điều sửa đổi, thì chỉ ký tên xem xét, còn lại đều do phó sứ và phán quan của bản bộ chủ trì. Từ đây, Tam ty phó sứ bắt đầu được dự nội triều.
Lấy Lại bộ Thị lang Trần Thứ (陳恕) làm Thượng thư Tả thừa, Tri Khai Phong phủ. Thứ ở Tam ty, trước sau hơn mười mấy năm, các điều lệ lợi hại, phần nhiều do ông sửa đổi, sáng lập. Khi ông đổi chức, từng tiến cử Khấu Chuẩn có thể dùng được. Đến khi Chuẩn làm Tam ty, liền sưu tập các điều việc mà Thứ trước sau đã sửa đổi, lập thành phương sách, các bảng cáo dụ, đều khắc bản mới chép lại, mang đến nhà Thứ xin ký tên, Thứ lần lượt ký hết, không từ chối, Chuẩn lạy tạ rồi lui. Bởi vậy, các việc ở Tam ty phần nhiều theo nếp cũ của Thứ, bắt đầu từ thời Chuẩn.