Tháng 9, ngày Mậu Thân, Nùng Trí Cao giết Quảng Nam Kiềm hạt Tưởng Giai (蒋偕) ở Thái Bình trường thuộc Hạ châu, các quan Trang trạch phó sứ Hà Tông Cổ (何宗古), Hữu thị cấm Trương Đạt (张达), Tam ban phụng chức Đường Hiến (唐岘) đều chết.
Lúc Giai mới vâng mệnh đi đánh giặc, cưỡi trạm mã suốt 17 ngày, đến dưới thành Quảng Châu, vào thành, nhiều lần trách mắng Tri châu Trọng Giản (仲简) rằng: "Ông giữ quân lại tự thủ, không đánh úp giặc, lại buông cho quân lính chém đầu dân thường để cầu thưởng, đáng chém lắm!" Trọng Giản nói: "Làm gì có chuyện Đoàn luyện sứ lại muốn chém quan thị tòng!" Giai nói: "Gươm chém chư hầu đang ở trong tay ta, huống gì là thị tòng!" Tả hữu can ngăn, bấy giờ mới thôi. Đến khi giặc rút khỏi Quảng châu, Dương Điền (杨畋) gửi công văn bảo Giai đốt lương trữ, lui về giữ Thiều châu. Quân đến Hạ châu, giặc ban đêm vào trại, tập kích giết chết. Giai hành động khinh suất phóng túng, rốt cuộc vì thế mà bại.
Tiết độ sứ Sơn Nam Đông đạo, Đồng bình chương sự Giả Xương Triều (贾昌朝) vừa mới mãn tang mẹ, ngày Ất Mão, được triệu vào điện Nhĩ Anh giảng quẻ Càn. Hoàng đế nói: "Tướng, tướng cùng dự giảng, là việc hưng thịnh của thiên hạ." Xương Triều cúi đầu tạ ơn. Sau đó lệnh Xương Triều làm Phán Hứa châu, sắp lên đường, chiếu cho quan Giảng độc mở tiệc tiễn ở đường Tư Thiện.
Ngày Bính Thìn, giáng chức Dương Điền – người được cử làm Thể lượng an phủ Kinh chế tặc đạo ở Quảng Nam Đông, Tây lộ – làm Tri Ngạc châu; đồng Thể lượng an phủ Kinh chế tặc đạo Tào Tu (曹修) làm Kinh Nam Đô giám; Quảng Nam Đông lộ Kiềm hạt kiêm Chóc sát man tặc Tưởng Giai làm Đô giám Tầm châu.
Trước đó, Điền cùng Tu nghe tin Nùng Trí Cao dời quân đến Sa Đầu, sắp vượt sông, liền lệnh cho Giai bỏ Anh châu, đốt lương trữ, rồi triệu Nội điện thừa chế Kỷ Vân (丌赟), Sầm Tông Mẫn (岑宗闵), Hợp môn chỉ hậu Khai Phong Vương Tòng Chính (王从政) lui về giữ Thiều châu, lại gửi công văn cho Ngự sử đài và Gián viện, nên đều bị trách tội. Lúc ấy Giai đã chết được 9 ngày rồi.
Mã quân Phó đô chỉ huy sứ, Diệu châu Quan sát sứ Chu Mỹ (周美) chết. Hoàng đế ngự đến tế rượu, đình triều 1 ngày, truy tặng làm Trung Vũ Tiết độ sứ, thụy là Trung Nghị.
Từ khi dùng binh ở Thiểm Tây, Mỹ trước sau hơn 10 trận, bình định được hơn 200 bộ tộc, đốt 24 trại, chiêu dụ 11 bộ tộc họ Chủng vào nội phụ, khôi phục rất nhiều thành bảo cũ. Trong quân, bổng lộc và ban thưởng nhận được phần nhiều chia cho thuộc hạ, còn dư đều dùng để yến lao. Đến khi chết, trong nhà không còn dư tài sản.
Ngày Đinh Tị, lệnh Tri Quế châu Dư Tĩnh (余靖) kiêm Đề cử binh giáp Quảng Nam Đông lộ, Kinh chế tặc đạo.
Ngày Kỷ Mùi, truy tặng quan chức có phân bậc cho những người chết vì việc nước ở các châu Lĩnh Nam; Tri Phong châu Tào Cận (曹觐) được truy tặng làm Thái thường Thiếu khanh, Tri Khang châu Triệu Sư Đán (赵师旦) được truy tặng làm Quang lộc Thiếu khanh. Trước đây, Sư Đán từng làm Tri Giang Sơn huyện, việc xét xử đều do tự mình quyết đoán, quan lại không thể lấy của dân được 1 đồng, vật bỏ giữa đường, không ai dám lấy. Đến khi linh cữu ông đi qua Giang Sơn, dân Giang Sơn khóc tế bên đường, mấy trăm dặm không dứt, Khang châu lập miếu thờ ông. Đến khi Điền Du (田瑜) an phủ Quảng Nam, cũng lập miếu cho Cận ở Phong châu.
Ngày Canh Thân, Nùng Trí Cao phá châu Chiêu châu, Tri châu Lưu Ứng Thần (柳应辰) bỏ thành chạy; Quảng Tây Kiềm hạt Vương Chính Luân (王正伦) giao chiến với giặc ở dịch quán Quán Môn, tử trận; Hợp môn chỉ hậu Vương Tòng Chính, Tam ban phụng chức Từ Thủ Nhất (徐守一), Tá chức Văn Hải (文海) đều bị hại. Tòng Chính mắng giặc không ngớt miệng, đến nỗi bị dội nước sôi, vẫn không chịu khuất mà chết.
Ngày Tân Dậu, lấy Thái thường bác sĩ Hàn Cương (韩绛) làm Hữu chính ngôn. Hoàng đế trực tiếp bảo: "Khanh là người trẫm tự chọn dùng, khi bàn việc không nên cầu tiếng kích bốc, phải giữ thể thống triều đình, cố làm sao cho điều nói ra có thể thi hành, chớ để trẫm mang tiếng là người không nghe can gián." Trước đây Cương đi sứ Giang Nam, những việc giảm bớt sưu dịch tài lực, cứu tế làm sống được dân có đến hơn 10 việc; sáng tạo ra “ngũ tắc” để san đều việc nha dịch; bỏ lợi ở đầm hồ, lấy lại những chỗ bị chiếm giữ giao cho dân nghèo; bãi việc dân Tín châu tự vận chuyển muối, thúc giục Phát vận sứ kịp thời vận chuyển; Thủ Tuyên châu tham tàn bạo ngược, Cương bắt giao cho ngục, dân trong châu mừng rỡ. Khi đi sứ về, rất hợp ý Hoàng đế, nên có lệnh bổ nhiệm này.
Ngày Quý Hợi, chiếu: "Ngoại quan có việc gì tâu bày, đều phải kèm theo công văn chuyển đệ mà dâng lên triều đình, không được trình thẳng lên Ngự sử đài." Lúc đó các châu quận phần nhiều dùng trạng văn trình lên Ngự sử đài, muốn cho Ngự sử đài dâng tấu rồi mới thi hành.
Dương Điền, Tào Tu lo việc Kinh chế man sự, quân lâu ngày không có công, đổi lệnh Tôn Miện (孙沔) và Dư Tĩnh cùng những người khác thay, Hoàng đế vẫn còn lo lắng. Có người nói Nùng Trí Cao muốn được phong làm Tiết độ sứ 7 châu Ung, Quế thì sẽ đầu hàng, Khu mật phó sứ Lương Thích (梁适) nói: "Nếu như thế, thì đất ngoài Lĩnh không còn là của triều đình nữa!" Hoàng đế hỏi Tể tướng Bàng Tịch (庞籍) ai có thể cầm quân, Tịch tiến cử Khu mật phó sứ Địch Thanh (狄青). Thanh cũng dâng biểu xin đi; hôm sau vào chầu, tự nói: "Thần xuất thân từ hàng ngũ binh sĩ, nếu không dùng chiến công để báo quốc gia thì không có cách nào khác, xin được vài trăm kỵ binh phiên lạc, thêm cấm binh, sẽ trói đầu giặc đem đến cửa khuyết." Hoàng đế rất khâm phục lời nói ấy. Ngày Canh Ngọ, đổi Thanh làm Tuyên huy Nam viện sứ, Kinh Hồ Nam, Bắc lộ Tuyên phủ sứ, kiêm Đề cử Quảng Nam Đông, Tây lộ Kinh chế tặc đạo sự. Ban đầu, định dùng Nhập nội đô tri Nhâm Thủ Trung (任守忠) làm phó cho Thanh, Gián quan Lý Đối (李兑) nói: "Nhà Đường dùng hoạn quan làm Quán quân dung, khiến chủ tướng bị kiềm chế, đó là điều không nên noi theo." Bèn bãi Thủ Trung.
Tháng này, Liêu chúa đến bái Hoài lăng, truy gia tôn hiệu cho Thừa Thánh Hoàng đế, Thiên Thuận Hoàng đế, đổi thụy Chương Đức Hoàng hậu thành Tĩnh An, thụy Tề Thiên Hoàng hậu thành Nhân Đức. Lại đến bái Tổ lăng, gia tăng thụy Thái Phúc là Đại Thánh Đại Minh Thần Liệt Thiên Hoàng đế, đổi thụy Trinh Liệt Hoàng hậu thành Thuần Khâm, Cung Thuận Hoàng đế thành Chương Túc, Hoàng hậu Tiêu thị thành Hòa Kính.
Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tuất, Điện trung thừa Hồ Nguyên (胡瑗) bãi trí sĩ, cho làm Quang lộc tự thừa, Quốc tử giám Trực giảng, cùng bàn việc Đại nhạc.
Ngày Bính Tý, chiếu cho các lộ Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên chọn mỗi lộ 5.000 quân Phiên lạc Quảng nhuệ đã từng trải chiến đấu, lại sai mỗi lộ 1 viên sứ thần áp giải đến Quảng Nam hành doanh, theo lời xin của Địch Thanh. Thanh nói: "Giặc quen leo cao vượt hiểm, bộ binh không thể chống nổi, nên mỗi trận đều bại. Xin được quân Phiên lạc ở Tây biên đi theo." Có người cho rằng phương Nam không hợp dùng kỵ binh, Khu mật sứ Cao Nhược Nặc (高若讷) nói: "Phiên lạc giỏi bắn, chịu khổ được, lên xuống núi như đi trên đất bằng, nên nhân lúc sương độc chưa phát, nhanh chóng xông đến phá chúng, đó là đạo tất thắng." Thanh rốt cuộc dùng kỵ binh phá giặc.
Ngày Đinh Sửu, Nùng Trí Cao vào Tân châu, Tri châu Trần Đông Mỹ (陈东美) bỏ thành.
Ngày Mậu Dần, Liêu chúa đóng quân ở Trung Hội Xuyên.
Ngày Kỷ Mão, ban xuống 100 đạo không ghi tên người nhận của chiếu thư (tuyên đầu) và trát tử, 200 chiếc áo gấm, 200 đai vàng bạc, giao cho Địch Thanh để chuẩn bị thưởng công quân.
Binh bộ lang trung, Thiên chương các Đãi chế Trọng Giản (仲简) bị giáng chức làm Tri Quân châu.
Ngày Canh Thìn, Địch Thanh từ biệt, bày tiệc ở điện Thùy Củng. Thanh đi rồi, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Thanh có uy danh, giặc tất sợ hắn đến, việc sai khiến bên cạnh, nếu không phải thân tín thì không được, dù là ăn uống ngủ nghỉ cũng phải đề phòng giặc lén tập kích." Bèn sai sứ phi ngựa đến dặn dò.
Ngày Tân Tị, nội hạ thủ chiếu giao cho Địch Thanh: "Những người tránh giặc ở núi rừng, phải mau chiêu dụ cho họ trở về làm ăn. Những kẻ nhân thế giặc mà làm cướp, chỉ cần không giết người, và những kẻ bị giặc ép buộc mà có thể trốn về, đều tha tội. Ai đã từng bị xăm mặt, cho phép lấy chữ làm bằng, cấp công văn cho tự do đi lại. Nếu có người bị giết mà bị mạo xưng là đầu giặc, phải nhận diện cho rõ, cấp tiền gạo chu cấp cho gia quyến. Những người bị đốt cướp, tạm miễn sai dịch dưới hộ tịch; người đang đi dịch, cũng cho hoãn, để họ sửa sang nhà cửa. Phàm thành quách từng bị đốt phá, hoặc trước vốn không có thành, hoặc tuy có thành mà không vững, đều phải gia cố xây dựng. Khí giới mục nát không dùng được thì sửa chữa lại." Hữu chính ngôn Hàn Cương tâu rằng Địch Thanh là võ tướng, không thể một mình gánh vác. Hoàng đế hỏi Bàng Tịch, Tịch nói: "Thanh xuất thân từ hàng ngũ binh sĩ, nếu dùng văn thần làm phó, tất sẽ bị họ kiềm chế, mệnh lệnh không chuyên, chẳng bằng không sai đi." Bèn chiếu cho các tướng tá Quảng Nam đều phải tuân theo tiết chế của Thanh, còn Tôn Miện, Dư Tĩnh chia đường đánh dẹp, thì mỗi người lại nghe lệnh của Miện, Tĩnh.
Ngày Giáp Thân, Nùng Trí Cao lại vào Ung châu, Tri châu Tống Khắc Long (宋克隆) bỏ thành. Khắc Long sau khi giặc giày xéo, không sửa sang phòng bị, lại buông thả binh sĩ xuống các trại núi giết dân chạy trốn, giả xưng là bắt được giặc cướp, mỗi đầu người thưởng 10.000 tiền, giả cấp cho thân binh, để tỏ ra từng có công. Đến khi Trí Cao lại đến, Khắc Long không có cách nào chống giặc, bèn trốn đi.
Ngày Đinh Hợi, Hạ chúa sai sứ sang nước Liêu, xin nới lỏng phòng bị biên giới, nước Liêu liền sai Tiêu Hữu Quát (萧友括) đi bảo dụ.
Ngày Mậu Tý, Liêu chúa đến hai châu Hiển, Ý.
Ngày Canh Dần, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Gần đây người bàn luận việc chính trị được mất ít đi, chẳng phải là vì đường ngôn luận bị bế tắc sao! Hãy hạ lệnh cho Hợp môn, Thông tiến Ngân đài ty, Đăng văn lý kiểm viện, Tiến tấu viện, từ nay tấu chương của châu huyện và biểu sớ của thần liêu, không được tự tiện ngăn giữ."
Ngày Giáp Ngọ, chiếu: "Gần đây có quân tốt chặn xa giá dâng trạng, mà vệ sĩ không kịp quát ngăn, hãy tha cho." Lúc Hoàng đế lần đầu đến Kính Linh cung, vừa lên kiệu, liền dặn vệ sĩ: "Năm nay sĩ tử thiên hạ đều tụ hội ở Kinh sư, nếu có người khiếu tố, chớ quát ngăn." Đến khi quân tốt dâng trạng, vệ sĩ cũng không cản, hữu ty muốn luận tội, Hoàng đế kể rõ việc ấy với các phụ thần rồi tha cho.
Nước Liêu lấy Nam viện Đại vương Lộ vương Trát Lạp (潞王札拉) làm Nam viện Khu mật sứ, tiến phong làm Việt quốc vương; Liêu Hưng quân Tiết độ sứ Tiêu Hư Liệt (萧虚烈) phong làm Trịnh vương.
Ngày Mậu Tuất, Liêu chúa bắn hổ ở Nam Tát Cát Bách.
Tháng 11, ngày Nhâm Dần mồng 1, có nhật thực.
Nước Liêu gia tăng thụy Văn Hiến Hoàng đế thành Văn Hiến Khâm Nghĩa Hoàng đế, và phong thụy cho hai Hoàng hậu là Đoan Thuận, Nhu Thuần, lại đổi thụy Hiếu Liệt Hoàng hậu của Thế Tông thành Hoài Tiết. Ngày Đinh Mùi, gia tăng thụy Hiếu Thành Hoàng đế thành Hiếu Thành Khang Tĩnh Hoàng đế, đổi thụy Thánh Thần Tuyên Hiến Hoàng hậu thành Duệ Trí.
Trước đó lấy Tri chế cáo Trường Xã Hà Trung Lập (何中立) làm Tri Tần châu, Gián quan, Ngự sử đều nói Trung Lập không phải tài biên thùy; ngày Kỷ Dậu, đổi làm Tri Khánh châu. Trung Lập tâu: "Thần đã không kham nổi ở Tần, thì cũng không kham nổi ở Khánh, xin được giữ chức ở Nhữ châu." Không được trả lời. Gặp lúc quân thú cáo tố một Đại hiệu nhận hối lộ, Trung Lập nói: "Ắt là do ôm mối oán khác. Hãy đánh roi kẻ cáo tố, đày đi." Có người nói: "Tha cho kẻ gian được sao?" Trung Lập nói: "Nếu bộ thuộc được nắm chỗ yếu mạnh để khống chế cấp trên, thì người ta không yên được."
Ngày Quý Sửu, lấy Đô quan viên ngoại lang người Đại Danh là Quách Thân Tích (郭申锡) làm Thị ngự sử. Thân Tích từng làm Tri Bác châu, quân thú đi tuần, có kẻ muốn ép tụ tập làm loạn, Thân Tích chém 1 người, xăm mặt 2 người, rồi yên. Tấu đến, Hoàng đế bảo các quan chấp chính: "Thân Tích là tiểu quan, mà khi lâm sự xử trí như thế, há dễ kiếm được sao!" Ở Kinh Đông, giặc bắt Thông phán Bộc châu là Tỉnh Uyên (井渊), chiếu điều Thân Tích làm Tri Bộc châu. Đến nơi chưa đầy 1 tháng, bọn hung đảng đều bị bắt.
Ngày Mậu Ngọ, chiếu miễn cho dân Giang Tây, Hồ Nam, Quảng Nam đã cung cấp quân nhu năm nay 3 phần 10 thuế vụ mùa.
Ngày Canh Thân, ban tên “Bảo Nghiêm” cho Phật từ dựng bên mộ cố Tham tri chính sự Thái Tề (蔡齐). Trước đây, mẹ Tề là Trương thị xin ban tên, Trung thư cho là không có lệ; Hoàng đế đặc biệt ban, rồi bảo các phụ thần: "Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, bổ nhiệm Tham tri chính sự nhiều lắm, trong đó trung thuần đáng ghi chép chỉ có Thái Tề, Lỗ Tông Đạo (鲁宗道), Tiết Khuê (薛奎) mà thôi. Các Tể thần như Vương Tằng (王曾), Trương Tri Bạch (张知白), đều giữ hạnh trung cẩn, tuy đôi khi có lỗi nhỏ, nhưng rốt cuộc không có đại quá. Lý Địch (李迪) lòng cũng trung phác, chỉ là lời nói thường phát ra quá nhẹ." Bàng Tịch và các quan đáp: "Tài khó, xưa nay đều vậy." Hoàng đế lại nói: "Trẫm nhớ cái lớn, không nhớ cái nhỏ, họ đều là danh thần gần đây vậy."
Gián quan Hàn Chất (韩贽) tâu: "Phát vận sứ theo lệ cũ tuy từng được vào chầu, nhưng không nghe nói mỗi lần đều đổi quan. Xin từ nay mỗi năm không cho vào Kinh tâu việc nữa, chỉ sai 1 người kèm theo tấu chương về số ngạch hàng năm." Chiếu: "Từ nay Phát vận sứ sau khi áp giải gạo đến ngoài thành Kinh đô, không được vào triều yết kiến."
Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đóng ở Trung Hội Xuyên. Hồi Cốt sai sứ dâng ngựa quý, báo văn cho nước Liêu.
Ngày Bính Dần, nước Liêu xét tù.
Tháng 12, ngày Nhâm Thân mồng 1, Quảng Tây Kiềm hạt Trần Thự (陈曙) đánh Nùng Trí Cao, quân bại ở dịch trạm Kim Thành, Đông đầu Cung phụng quan Vương Thừa Cát (王承吉), Bạch châu Trưởng sử Từ Ngạc (徐噩) tử trận. Thự vốn không có uy lệnh, khi gặp giặc, binh sĩ vẫn tụ tập đánh bạc trong trại, Thự sai Thừa Cát đem 500 quân Trung cảm ở Nghi châu làm tiên phong, vội vã mặc giáp xông lên trước, nên đến nỗi quân bị tiêu diệt.
Ngày Đinh Sửu, lấy Khu mật trực học sĩ Trình Kham (程戡) làm Đoan Minh điện học sĩ, Tri Ích châu.
Trước đây, Mạnh Tri Tường (孟知祥) chiếm cứ đất Thục, Lý Thuận (李顺) nổi dậy làm giặc, đều vào năm Giáp Ngọ. Có người nói năm sau Giáp Ngọ, đất Thục sẽ có biến, Hoàng đế bảo Bàng Tịch: "Trẫm chọn trọng thần trấn phủ Tây Nam, không ai bằng Kham." Bèn lại sai ông giữ đất Thục. Những người trước trấn thủ phần nhiều vì kiêng kỵ mà không sửa thành, chỉ có Kham là tu sửa xây dựng.
Ngày Mậu Tý, Tri Quế châu Dư Tĩnh tâu: "Giao Chỉ nhiều lần gửi công văn xin hợp binh đánh giặc, mà triều đình lâu chưa trả lời. Xem điều ước của họ rất thành khẩn, dù chưa thể diệt giặc, cũng có thể khiến chúng chia rẽ." Triều đình theo lời xin. Sau đó Địch Thanh tâu: "Lý Đức Chính (李德政) nói suông rằng sẽ đem 50.000 bộ binh, 1.000 kỵ binh đến cứu viện, đó không phải là thực tình; hơn nữa, mượn binh bên ngoài để trừ giặc trong nước, không phải là lợi cho ta. Chỉ một Nùng Trí Cao mà giày xéo ngang dọc hai Quảng, ta lực không thể đánh, lại phải mượn binh man di. Man di tham lợi quên nghĩa, nhân đó khởi loạn, thì lấy gì để chế ngự? Xin bãi binh Giao Chỉ, không dùng, và gửi công văn cho Tĩnh, không được thông sứ với Giao Chỉ nữa." Mọi người đều phục là Thanh có viễn lược.
Trước đó, ở điện Nhĩ Anh giảng thiên “Vô Dật” trong “Thượng thư”. Hoàng đế nói: "Trẫm rất hiểu rằng vua hưởng nước phải lấy việc răn ngừa an nhàn làm trọng." Dương An Quốc (杨安国) nói: "Xưa có ‘Vô Dật đồ’, xin treo bày giữa bình phong." Hoàng đế nói: "Trẫm không muốn ngồi quay lưng với lời Thánh nhân, nên phải viết riêng treo bên trái." Bèn lệnh Đinh Độ (丁度) lấy 4 chương “Thiên tử”, “Hiếu trị”, “Thánh trị”, “Quảng yếu đạo” trong “Hiếu kinh” đối làm bức đồ bên phải, sai Vương Thù (王洙) viết “Vô Dật”, Tri chế cáo Thái Tường (蔡襄) viết “Hiếu kinh”, lại lệnh Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Vương Củng Thần (王拱辰) làm tựa cho hai bức đồ, rồi giao cho Thái Tường viết. Ngày Giáp Ngọ, Thù, Tường đều dâng bản chữ viết.
Ngày Ất Mùi, truy phong hậu duệ Nhan Chân Khanh (颜真卿).
Ngày Mậu Tuất, nước Liêu lấy Trịnh vương Hư Liệt (虚烈) làm Bắc phủ Tể tướng, lấy Khiết Đan Hành cung Đô bố trí Nha Luật Nghĩ Tiên (耶律义先) làm Đặc Lý Côn, tha cho những người phu dịch đã đến hạn tuổi.
Ngày Canh Tý, Gián quan Hàn Cương nhân lúc vào chầu tâu rằng: "Quyền bính thiên hạ không nên chuyển xuống dưới, việc nên giản lược, xuất phát từ quyết đoán sáng suốt của Hoàng đế." Hoàng đế nói: "Trẫm vốn không ngại phân xử, chỉ lo chưa hợp lẽ, nên mỗi việc đều muốn trước hết nghe hết ý của đại thần rồi mới thi hành." Cương lại nói: "Lâm Hiến Khả (林献可) sai con mang thư đến cho thần, nhiều lần chê trách lỗi lầm của đại thần trong ngoài. Thần không dám không tâu." Hoàng đế nói: "Trẫm không muốn giữ lại trong cung, sợ mở đường cho việc tố giác vu cáo. Hãy mang về đốt đi."
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Nhâm Dần mồng 1, ngự điện Đại Khánh nhận triều hạ.
Ngày Ất Tị, Liêu chúa đến sông Hỗn Đồng.
Ngày Đinh Mùi, chiếu cho Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây lộ gửi công văn ngăn việc Giao Chỉ đưa quân giúp, theo lời xin của Địch Thanh. Thanh hợp quân Tôn Miện, Dư Tĩnh, từ Quế châu tiến đến Tân châu. Trước đó Trương Trung (张忠), Tưởng Giai đều khinh địch mà chết, thanh thế quân đội rất suy. Thanh dặn các tướng: "Không được tự tiện giao chiến với giặc, hãy nghe ta sắp đặt." Trần Thự sợ Thanh một mình lập công, nhân lúc Thanh chưa đến, liền đem 8.000 bộ binh đánh giặc, thua ở Côn Quan, thuộc hạ là Điện trực Viên Dụng (袁用) và những người khác đều chạy trốn. Thanh nói: "Lệnh không nghiêm, nên quân mới bại." Ngày Kỷ Dậu sáng sớm, họp các tướng trên đường đường, mời Thự đứng dậy, đồng thời triệu Dụng và 32 người khác, xét hỏi nguyên do bại vong, rồi đuổi ra ngoài cửa doanh chém, Miện, Tĩnh nhìn nhau kinh ngạc. Tĩnh từng ép Thự xuất chiến, bèn rời chỗ ngồi xuống lạy mà nói: "Thự thất lệnh, cũng là tội của Tĩnh vì đã tiết chế." Thanh nói: "Xá nhân là văn thần, việc quân không phải là điều ông nên đảm nhiệm." Các tướng đều run rẩy.
Chiếu: "Quảng Nam Đông, Tây, Hồ Nam, Giang Tây lộ mới đặt 4 viên Chuyển vận phán quan, là vì dùng binh ngoài Lĩnh, để san đều việc vận lương, không phải là chế độ lâu dài; đợi khi tại chức đủ 3 năm, kê rõ công lao từng người, xin chỉ thị, rồi bãi bỏ, không đặt nữa."
Ngày Tân Hợi, Quan Văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Thượng thư Hữu thừa Đinh Độ (丁度) chết. Hôm đó là ngày tuần hưu, Hoàng đế ngự đến tế rượu, truy tặng Lại bộ Thượng thư, thụy là Văn Giản. Độ tính tình thuần phác, bên cạnh không có cơ thiếp, thường bảo các con rằng: "Vương Đán (王旦) làm Tể tướng 15 năm, đến ngày mất, con vẫn là kẻ áo vải. Các con nên tự gắng sức, ta sẽ không xin gì nữa."
Ngày Bính Thìn, vì Quảng Nam đang dùng binh, bãi việc treo đèn đêm Thượng Nguyên.
Ngày Đinh Tị, Hối Linh quán bị cháy. Đạo sĩ uống rượu trong điện, say rồi thì lửa phát. Nhà cửa, tượng thần đều cháy, chỉ riêng ngự dung Tam Thánh còn lại, bèn chiếu tạm rước an trí ở Kính Linh cung. Gián quan Giả Ám (贾黯) tâu: "Ý trời muốn bỏ, nên đình việc xây sửa, tha tội cho người canh giữ, để tỏ ý răn sợ và tự sửa mình."
Địch Thanh sau khi chém Trần Thự, bèn án binh bất động, lại lệnh điều đủ lương 10 ngày, mọi người không hiểu. Giặc do thám trở về, cho rằng quân chưa tiến ngay. Hôm sau, Thanh bèn tiến quân, Thanh chỉ huy tiền trận, Tôn Miện chỉ huy thứ trận, Dư Tĩnh chỉ huy hậu trận, trong 1 ngày 1 đêm vượt Côn Quan. Lúc đó gặp tiết Thượng Nguyên, Thanh lệnh treo đèn đuốc thật lớn, đêm thứ nhất yến tiệc các tướng tá, đêm thứ hai yến tiệc quan theo quân, đêm thứ ba yến tiệc quân hiệu. Đêm thứ nhất, uống vui đến sáng. Đêm thứ hai, canh hai, Thanh bỗng nói bị bệnh, tạm vào trong; lâu sau, lại bảo Miện chủ trì tiệc rượu, mình uống thuốc rồi ra, nhiều lần khuyên lao khách ngồi. Đến sáng, mọi người chưa dám lui, bỗng có người phi báo rằng “canh ba đã chiếm được Côn Quan rồi”.
Ban đầu, gián điệp của giặc biết Thanh yến lạc, không phòng bị. Đêm ấy gió mưa lớn, Thanh vượt quan xong, vui mừng nói: "Giặc không biết giữ chỗ này, không làm gì được nữa. Chúng cho rằng nửa đêm gió mưa, ta không dám đến." Bèn ra đóng quân ở Quy Nhân phô, bày trận. Ngày Mậu Ngọ, giặc dốc hết quân, bày 3 trận nhọn để chống quân triều đình, cầm đại thuẫn, tiêu thương, mặc áo đỏ, trông xa như lửa. Khi giao chiến, tiền quân hơi lui, Hữu tướng Khai Phong Tôn Tiết (孙节) tử trận. Khí thế giặc rất mạnh, Miện và những người khác sợ hãi biến sắc. Thanh đứng dậy, tự cầm cờ trắng, điều khiển kỵ binh Phiên lạc, giăng hai cánh, đánh vòng ra sau lưng giặc, bên trái sang phải, bên phải sang trái, rồi lại trái về trái, phải về phải, quân giặc không biết làm sao, đại bại bỏ chạy. Nùng Trí Cao lại chạy về Ung châu. Truy kích 50 dặm, bắt chém 2.200 đầu, bọn thủ hạ Hoàng Sư Mật (黄师宓), Nùng Kiến Trung (侬建中), Trí Trung (智忠) cùng bọn quan lại giả mạo, chết 57 người, bắt sống hơn 500 người. Trí Cao ban đêm phóng hỏa đốt thành rồi trốn, theo hợp lưu sông mà vào nước Đại Lý. Trời sáng, Thanh mới cho quân vào thành, thu được vàng bạc vô số, súc vật mấy nghìn con, chiêu tập lại 7.200 người già tráng từng bị giặc bắt ép, an ủi cho về. Chặt đầu Sư Mật và những người khác treo dưới thành Ung châu, thu được 5.341 xác giặc, đắp Kinh quan ở góc bắc thành. Lúc đó có xác giặc mặc áo thêu rồng vàng, mọi người cho là Trí Cao đã chết, muốn làm tấu chương, Thanh nói: "Làm sao biết không phải là giả! Thà để sót Trí Cao, chứ không dám vì tham công mà vu dối triều đình."
Thanh mới đến Ung châu, gặp lúc sương độc mù mịt, có người nói giặc bỏ thuốc độc xuống nước, binh sĩ uống nhiều người chết, Thanh rất lo. Một đêm, có suối phun lên dưới trại, múc lên thấy ngọt, mọi người nhờ đó mà sống. Từ khi Trí Cao nổi dậy đến khi bị dẹp yên, gần 1 năm, giày xéo một phương, như đi trong chốn không người, quan dân không chịu nổi độc hại của hắn. Trước đó có lời sấm rằng “Nông gia trồng, Bịch gia gặt”, sau Trí Cao bị Thanh phá, quả đúng như lời sấm.
Khi giao chiến ở Quy Nhân, Hữu ban Điện trực Trương Ngọc (张玉) làm tiên phong, Như Kinh phó sứ Giả Khuê (贾逵) chỉ huy cánh trái, Tây Kinh Tả tàng khố phó sứ Tôn Tiết chỉ huy cánh phải. Vừa bày trận, Thanh thề: "Ai không đợi lệnh mà tự ý hành động sẽ bị chém!" Đến khi Tiết đánh giặc chết dưới chân núi, Khuê nghĩ thầm: "Quân mình là Trung cảm, Trừng Hải đều là quân bản thổ, nhiều lần khốn đốn, dễ bị đánh lui, nếu đợi lệnh, tất bị giặc áp sát. Hơn nữa, binh pháp nói, ai chiếm cao trước thì thắng." Bèn dẫn quân nhanh chóng chiếm núi, vừa đứng vững thì giặc đến. Khuê dẫn quân xuống, vung kiếm lớn tiếng hô, chém đôi trận giặc; Ngọc đem tiên phong xông ra trước trận, còn Thanh thì điều khiển kỵ binh Phiên lạc đánh vòng sau lưng giặc, giặc bèn đại bại. Khuê đến trước trướng xin tội, Thanh vỗ lưng Khuê nói: "Trái lệnh mà thắng, đó là quyền biến, có tội gì đâu!"
Ngày Nhâm Tuất, lấy Tri Định châu Hàn Kỳ (韩琦) làm Vũ Khang Tiết độ sứ, Tri Bính châu, dời Phán Bính châu Lý Chiêu Lượng (李昭亮) làm Phán Thành Đức quân, Tri Thành Đức quân Tống Kỳ (宋祁) làm Tri Tống châu. Kỳ đến Bính châu, trước hết bãi bỏ những công việc xây dựng không cấp bách mà Chiêu Lượng đã khởi. Tẩu mã Thừa thụ Liêu Hạo Nhiên (廖浩然) ỷ thế trung quan, trước đó vu tấu Chiêu Lượng, việc làm càng phi pháp, Kỳ tâu xin trả về, Hoàng đế lệnh đánh roi ở bản tỉnh.
Lệnh Tri chế cáo Vương Thù biên soạn sách địa lý.
Ngày Giáp Tý, sai sứ đi phủ dụ tướng tá Quảng Nam, ban tiền cho quân sĩ.
Tháng 2, ngày Canh Thìn, Liêu chúa đến Xuân Thủy.
Ngày Quý Mùi, lấy Tuyên huy Nam viện sứ, Chương Hóa Tiết độ sứ Địch Thanh làm Hộ Quốc Tiết độ sứ, Khu mật phó sứ, vẫn giữ chức Tuyên huy Nam viện sứ như cũ.
Trước đó, khi tin thắng trận ở Quảng Tây đến, Hoàng đế rất vui, bảo Tể tướng Bàng Tịch: "Thanh phá giặc, là nhờ sức bàn nghị của khanh." Bèn muốn thăng Thanh làm Khu mật sứ, Đồng bình chương sự. Tịch cho là không thể, hết sức tranh luận, nên thôi.
Ngày Giáp Thân, chiếu xá tội cho Quảng Nam. Phàm người chết trận, cấp quan tài, hộ tống về nhà, người không có thân thuộc thì chôn cất, tế lễ. Miễn tô thuế 1 năm cho các châu huyện bị giặc đi qua, miễn sưu dịch 2 năm cho người chết vì việc nước; sĩ tử dự thi mà được miễn giải đến Lễ bộ, không được dự xướng danh, cũng phải tâu tên lên.
Ngày Ất Dậu, lấy Tôn Miện, Dư Tĩnh đều làm Cấp sự trung, lại chiếu cho Tĩnh lưu quân đóng ở Ung châu, Kinh chế dư đảng, đợi xử trí xong mới trở về Quế châu. Địch Thanh từng hỏi Miện làm sao phá giặc, Miện nói: "Khiến giặc dùng thượng sách, giữ chỗ hiểm, thu quân về bảo tụ, ta sẽ từ từ tính kế. Nếu giặc giữ Ung châu để chống quân ta, đó là trung sách. Nếu ỷ thắng mà cầu chiến, đó là hạ sách nhất. Nhưng giặc có lòng khinh ta, tất sẽ dùng hạ sách. Rồi sẽ thành tù binh thôi." Sau quả đúng như vậy. Miện cùng Thanh ban đêm bàn mưu trong trướng, ban ngày thì chỉ có Thanh xử lý, những kẻ theo giặc phần nhiều bị giết. Miện xin cùng Thanh chia nhau xử lý, tha được mấy trăm người. Lệnh trong quân chế tạo đao dài, rìu lớn, người ta cho rằng đao rìu không dùng được, đến khi giao chiến, giặc đều che đại thuẫn, hai bên cầm tiêu thương, bày trận rất vững, tên đá không lay chuyển được, rốt cuộc nhờ đao rìu lẫn đoản binh xáp chiến, trận mới phá. Mọi người đều khâm phục.
Quảng Nam Đông, Tây, Hồ Nam, Giang Tây lộ An phủ phó sứ, Nhập nội áp ban Thạch Toàn Bân (石全彬) cùng Hợp môn chỉ hậu Địch Tư (狄谘), Hữu thị cấm Địch Vịnh (狄咏) đều được thăng quan. Tư, Vịnh đều là con của Địch Thanh. Ban cho Thanh một khu nhà ở Đôn giáo phường.
Ngày Bính Tuất, chiếu cho Quảng Tây Đô giám Tiêu Chú (萧注) cùng những người khác truy bắt Nùng Trí Cao.
Ngày Đinh Hợi, hạ đức âm, giảm tội cho tù nhân Giang Tây, Hồ Nam 1 bậc, từ đồ trở xuống đều tha; trai tráng vận chuyển quân nhu cho Quảng Nam, giảm một nửa thuế mùa hạ, lại miễn sưu dịch 1 năm.
Ngày Mậu Tý, chiếu: "Văn võ quan khi gặp lễ Nam giao, được dâng tấu tiến cử con cháu, còn người già không có con cháu, cho phép tiến cử 1 người thân trong hàng kỳ thân." Theo lời xin của Tri Gián viện Lý Đối.
Bàn luận tội bỏ thành ở Quảng Tây, ngày Nhâm Thìn, tha chết cho Tri Ung châu Tống Khắc Long, cách chức, đánh trượng vào lưng, xăm mặt, đày ra đảo Sa Môn. Khê Động Đô tuần kiểm Lưu Trang (刘庄), cách chức, đánh trượng vào lưng, xăm mặt, đày đến lao thành Phúc Kiến. Tùy châu Thôi quan, Quyền Thông phán Vương Phương (王方), Lăng Sơn huyện Chủ bạ, Quyền Thôi quan Dương Đức Ngôn (杨德言), đều bị cách chức, miễn đánh trượng, đày đến bản thành Hồ Nam, vĩnh viễn không được dùng lại.
Ngày Ất Mùi, chiếu cho Đại Tông chính ty, phàm tông thất có người giỏi thơ phú văn từ thì phải tâu tên lên. Hai ngày sau, lại chiếu: người thông kinh thì sai quan khảo nghiệm, e rằng họ chỉ chuộng văn chương hoa mỹ mà không chú ý điển tịch vậy.
Ban cho Đô giám đường Hồ Bắc lộ Tôn Tiết (孫節) làm Lưu hậu quân Trung Vũ, phong quan cho 2 con trai, 3 người cháu họ của ông, cho họ được hưởng bổng lộc Phó sứ các ty cho đến hết thời gian để tang.
Tháng 3, ngày Canh Tuất, Hữu Long Vũ đại tướng quân Khắc Tủng (克悚) dâng lên 10 quyển thơ, phú, luận dự định đem ra thi, lại xin được theo các Tiến sĩ vào điện dự thi. Hoàng đế nói: "Tông tử ham học, đó cũng là việc tốt đẹp của triều đình vậy." Bèn lệnh Học sĩ viện ra đề 3 bài để khảo thí, vì trúng hạng trung, nên thăng làm Tả Vệ đại tướng quân.
Cổ Vị châu cách Tần châu 300 dặm, đường đi qua Ả Nhi Hiệp. Các quan biên thần nhiều lần muốn đắp thành ở đó, triều đình cho là khó bề cung cấp lương thực nên không cho phép. Chuyển vận sứ Thiểm Tây Phạm Dạng (范样), quen thói ham công lợi, tạm quyền lĩnh việc châu, vội xin tu sửa xây đắp, chưa đợi trả lời, đã tự ý phát động dân dịch. Các bộ phiên tộc kinh động rối loạn, người Khương tộc Thanh Đường đánh phá bảo Quảng Ngô Lĩnh, vây trại Ả Nhi Hiệp, giết hơn 1.000 quân quan.
Ngày Tân Dậu, ban cho Tiến sĩ Trịnh Giải (鄭獬) người An Lục cùng các hạng đỗ Cập đệ, Xuất thân, Đồng xuất thân. Ngày Nhâm Tuất, ban cho các hạng khoa khác Cập đệ, Xuất thân. Ngày Bính Dần, ban cho Tiến sĩ Đặc tấu danh, các hạng khoa khác và bọn Đặc tấu danh ở Quảng Nam được Xuất thân, cùng bọn dự thi hàm Văn học, Trưởng sử.
Liêu chúa đi đến Hắc Thủy Lạc.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Ngọ mồng 1, Chuyển vận sứ Thiểm Tây, Hộ bộ viên ngoại lang Phạm Tường (范祥) bị giáng làm Đồn điền viên ngoại lang, Tri Đường châu, vì tội tự tiện phát động việc xây dựng ở Cổ Vị. Người bàn luận cho rằng trách phạt Tường quá nhẹ.
Lệnh cho Chuyển vận sứ Thiểm Tây là Lý Tham (李参) người Tu Thành trông coi việc chế trí muối giải, thay cho Phạm Tường. Lúc ấy, Tham làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây đã 5 năm. Từ khi có việc binh, các Kinh lược sứ các lộ phần nhiều vay tiền Tam ty để giúp quân, gọi là “tùy quân tiền”; khi binh xong mới hoàn trả. Tham tạm quyền ở Khánh châu, tra xét được số tiền đã vay là 80.000 quan, bèn trả hết, rồi bỏ luôn kho ấy. Lại nữa, quân đồn trú đông mà lương thực khổ thiếu, Tham xét dân bị thiếu thốn, bèn tùy thời lệnh cho tự khai báo số thóc mạch nhập kho, cho vay trước tiền quan của nhà nước, đến khi thóc mạch chín thì hoàn trả, gọi là “Thanh miêu tiền”. Vài năm, lương thực quân đội thường có dư. Về sau phép Thanh miêu vốn lấy từ đây. Triều đình lo phép Nhập trung mỗi năm chi phí tăng nhiều, Tham xin lập “Phi tiền” ở các quận biên để bình giá thu mua, tạm bãi việc Nhập trung. Tính từ khi phép của Tham thi hành, bớt được tiền cho vay trưng thu ước chừng 20.000.000.
Ngày Nhâm Thân, Địch Thanh (狄青) về triều, bày tiệc ở điện Thùy Củng.
Ngày Canh Thìn, ngự điện Sùng Chính, lệnh cho kỵ binh các bộ phiên lạc bày trận, theo thế phá giặc ở Quy Nhân Phô, xem họ phi chạy, đuổi đánh, đâm chém, rồi xếp hạng mà ban thưởng, lại lấy 300 con ngựa Củng Thánh bổ sung chỗ thiếu. Đô đại đề cử Giáo duyệt trận pháp, Hữu ban Điện trực Trương Ngọc (張玉) được thăng làm Nội điện thừa chế.
Khu mật trực học sĩ, Cấp sự trung Tôn Miện (孫沔) từ Lĩnh Nam trở về, Hoàng đế hỏi han an ủi, cởi đai áo đang mặc ban cho ông. Ngày Nhâm Ngọ, lệnh làm Tri Hàng châu, là do Miện tự xin.
Ngày Mậu Tý, Liêu chúa đi săn ở Hạc Điện.
Ngày Canh Dần, chiếu không được liên tiếp dùng lại những tên cũ của Thái Tông, Chân Tông.
Ngày Giáp Ngọ, lệnh Tham tri chính sự Lưu Hãng (劉沆), Lương Thích (梁适) giám nghị việc Đại nhạc.
Tháng 5, ngày Ất Tị, Khu mật sứ, Hộ bộ Thị lang Cao Nhược Nặc (高若讷) bị bãi làm Thượng thư Tả thừa, Quán Văn điện học sĩ.
Hoàng đế lại muốn dùng Địch Thanh làm Khu mật sứ, Đồng bình chương sự. Tể thần Bàng Tịch (庞籍) nói: "Xưa thời Thái Tổ, Mộ Dung Diên Chiếu (慕容延钊) cầm quân, một trận lấy được đất Kinh Nam, Hồ Nam mấy ngàn dặm, binh không đổ máu, mà cũng chỉ là thăng quan, gia tước ấp, ban vàng lụa, chứ không dùng làm Khu mật sứ. Tào Bân (曹彬) bình định nước Giang Nam, bắt được Lý Dục, muốn cầu chức Sứ tướng, Thái Tổ không cho, nói: ‘Nay phía tây có Phần, Tấn, phía bắc có U, Kế; ngươi làm Sứ tướng rồi, há còn chịu vì trẫm mà liều chết đánh trận nữa sao!’ Chỉ ban cho 200.000 quan tiền mà thôi. Tổ tông ta coi trọng danh khí như núi non, coi nhẹ vàng lụa như phân đất, đó là điều bệ hạ nên noi theo. Địch Thanh phụng uy linh của bệ hạ, diệt trừ bọn hung ác, thật đáng được khen thưởng. Nhưng so với công lao của Diên Chiếu và Bân thì còn kém xa. Nếu nay dùng làm Khu mật sứ, Đồng bình chương sự, thì danh vị của Thanh đã đến tột bậc, vạn nhất sau này lại lập đại công, thì còn lấy chức gì để thưởng nữa? Vả lại, Khu mật sứ Cao Nhược Nặc không có lỗi, sao lại bãi ông ta? Chi bằng tạm cho Địch Thanh đổi trấn, gia thêm chức Kiểm hiệu, ban nhiều vàng lụa, cũng đủ để báo đáp công lao của Thanh vậy." Hoàng đế nói: "Trước đây quan Ngự sử, Gián quan nói Nhược Nặc tiến cử Hồ Khôi (胡恢) chép ‘Thạch kinh’, mà Khôi là kẻ cuồng hiểm, không có hạnh kiểm; lại nữa, người dẫn đường của Nhược Nặc đánh người đến chết, sao bảo là không có lỗi?" Tịch nói: "Nay các quan thứ liêu tiến cử người vào làm Kinh quan, kẻ chưa được thăng quan còn không bị tội, huống chi Nhược Nặc là đại thần, tiến cử Khôi dùng bản chức chép ‘Thạch kinh’, chưa từng có việc tuyển bổ gì, sao có thể vì thế mà bãi chức Khu mật của ông ta! Nhược Nặc ngồi trên ngựa, người dẫn đường cách hơn 1 dặm, chẳng may đánh người đến chết, Nhược Nặc liền bắt giao cho Khai Phong xử theo pháp luật, Nhược Nặc có tội gì! Vả lại, bệ hạ đã từng ân xá việc ấy, nay lại đem ra truy xét làm tội, há chẳng phải là không nên sao!" Tham tri chính sự Lương Thích nói: "Vương Tắc Chỉ (王则止) chỉ chiếm giữ một thành Bối châu, Văn Ngạn Bác (文彦博) đánh lấy được, về sau làm Tể tướng. Nùng Trí Cao quấy nhiễu 2 lộ Quảng Nam, Địch Thanh đánh dẹp yên, làm Khu mật sứ, có gì là quá đâu!" Tịch nói: "Việc thưởng ở Bối châu, người bàn luận đã cho là quá hậu. Tuy nhiên, Ngạn Bác làm Tham tri chính sự, nếu Tể tướng có khuyết, theo thứ tự cũng nên do ông ta đảm nhiệm, huống chi lại có công. Lại nữa, từ xưa triều ta, văn thần làm Tể tướng, ra vào không nhất định; võ thần làm Khu mật sứ, nếu không có đại lỗi thì không thể bãi. Vả lại, thần không muốn Địch Thanh làm Khu mật sứ, không chỉ vì tiếc danh khí của quốc gia, mà cũng là muốn bảo toàn công danh của Thanh. Địch Thanh xuất thân từ hàng ngũ binh sĩ, được cất nhắc làm Khu mật phó sứ, trong ngoài đều cho là triều ta chưa từng có việc như thế. Nay Thanh lập công, lời bàn luận mới tạm lắng, nếu lại thưởng quá mức, tức là lại tự rước lấy lời bàn tán vậy." Tranh luận mấy ngày, Hoàng đế mới theo lời, nói: "Vậy thì lại ban chức cho các con của ông ta, thế nào?" Tịch nói: "Xưa Vệ Thanh có công, 4 con đều được phong hầu. Đời trước đã có, cũng không hại gì." Hoàng đế đã theo lời Tịch, mấy ngày sau, khi hai phủ vào tâu việc, Hoàng đế nhìn Tịch cười nói: "Hôm trước khanh bàn việc bổ chức cho Địch Thanh, rất hợp lẽ, lo liệu được việc lâu dài vậy."
Lúc ấy, Lương Thích cho rằng nếu Cao Nhược Nặc làm Khu mật sứ, địa vị ở trên mình, khi Tể tướng khuyết thì sẽ theo thứ tự mà bổ; còn Địch Thanh là võ thần, tuy làm Khu mật sứ cũng không ngăn trở đường tiến thân của mình, nên mới tranh luận trước mặt Hoàng đế. Đã không được như ý, trở ra rất không vui, bèn ngầm dâng tấu nói: "Công của Địch Thanh lớn mà thưởng mỏng, không đủ để khuyến khích người sau." Lại ngầm sai người đem lời nói của Hoàng đế hôm trước nói cho Thanh biết, lại sai người nói với Nội thị Áp ban Thạch Toàn Bân (石全彬), bảo y trong cung tự kể công mình, hết sức nói rằng Địch Thanh và Tôn Miện được khen thưởng quá mỏng. Hoàng đế ngày ngày nghe như thế, không khỏi tin, bèn khi hai phủ vào chầu, Hoàng đế bỗng nói với Bàng Tịch: "Công bình định phương Nam, trước đây thưởng quá mỏng, nay cho Địch Thanh làm Khu mật sứ, Tôn Miện làm Phó; Thạch Toàn Bân trước cho hưởng bổng lộc Quan sát sứ, đợi 1 năm nữa sẽ bổ làm Quan sát sứ; Cao Nhược Nặc thăng 1 cấp, gia chức Cận thượng học sĩ, đặt vào hàng Kinh diên; triệu Trương Nghiêu Tộ (張尧佐) trở về Viện Tuyên Huy." Giọng nói, sắc mặt đều nghiêm khắc. Tịch kinh ngạc, tâu rằng: "Xin cho thần và các đồng liêu lui về Trung thư bàn bạc, ngày mai sẽ tâu lại." Hoàng đế nói: "Cứ bàn ngay trong cửa điện, trẫm ngồi đây chờ." Tịch bèn cùng các đồng liêu bàn tâu, đều theo đúng thánh chỉ. Lại vào chầu, sắc mặt Hoàng đế mới hòa. Nhân đó hạ chiếu: "Các việc đại chính quân quốc, việc trọng yếu biên phòng, đợi sau khi lui chầu tiền điện, sẽ xin chầu ở hậu điện, trước 1 ngày phải trình bày điều sẽ tâu." Theo lệ cũ, khi bãi chức Khu mật sứ, tất Học sĩ viện phải soạn chiếu, đến khi bãi Nhược Nặc, chỉ lệnh Xá nhân thảo văn, về sau bèn thành lệ.
Ngày Bính Ngọ, chiếu cho Phán Hà Dương, Tuyên Huy Nam viện sứ Trương Nghiêu Tộ trở về viện nhận chức.
Ngày Đinh Mùi, lấy Khu mật trực học sĩ, Cấp sự trung, Tri Hàng châu Tôn Miện làm Khu mật phó sứ. Miện đi đến Nam Kinh thì được triệu về.
Lấy Cấp sự trung, Tri Quế châu Dư Tĩnh (余靖) làm Công bộ Thị lang. Lúc ấy, Ngự sử Lương Thiến Thiến (梁蒨倩) nhiều lần nói rằng Tĩnh được thưởng quá mỏng, Tôn Miện đã cùng Địch Thanh nối nhau bước vào hai phủ, nên Tĩnh cũng được gia chức.
Ngày Mậu Thân, chiếu rằng: "Nghe nói các Chuyển vận sứ các lộ phần nhiều bóc lột dân, lấy tiền quan làm thặng dư, đem nộp thêm cho Tam ty, lại nâng giá các vật mùa hạ, mùa thu, ép dân hộ nộp tiền mặt, đều nên cấm tuyệt." Lúc ấy, Tam ty thường đòi các đạo nộp thặng dư, riêng Chuyển vận sứ Hoài Nam là Trương Tường (張瓖) chỉ dâng 9 tiền vàng, Tam ty giận, gửi công văn trách mắng rất gắt. Tường lấy cớ thuế khóa nặng, dân nghèo mà đối đáp, rốt cuộc không bị ép đổi.
Ngày Mậu Ngọ, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Vương Củng Thần (王拱辰) tâu: "Phụng chiếu xét định Đại nhạc, khi thần đến cục thì chuông khánh đã làm xong. Xét ra luật có dài ngắn, khánh có lớn nhỏ. Hoàng chung 9 tấc là dài nhất, khí là dương, tượng là thổ, chính thanh là cung, là đầu của các luật, tượng trưng đức vua, không thể đem sánh ngang. Nay 12 chuông khánh đều lấy Hoàng chung làm chuẩn, khác với xưa. Thần cũng từng hỏi đám người Nguỵên Dật (阮逸), Hồ Nguyên (胡瑗), họ đều nói nếu làm lớn nhỏ theo đúng luật thì âm thanh không thể hài hòa. Thần có điều nghi, xin giao lại cho Ty Tường định Đại nhạc xét kỹ nghĩa cổ mà cùng định lại."
Ngày Tân Dậu, Tri Gián viện Lý Đối (李兑) tâu: "Trước đây ở điện Tử Thần xem nhạc mới của Thái thường, người bàn luận cho rằng hình chế chuông chưa hợp luật độ, nên bãi không dùng, lại chiếu cho cận thần xét định. Nghe nói ở Sùng Văn viện tụ họp bàn bạc, mà Vương Củng Thần muốn sửa đổi văn nghĩa trong sử cũ, Vương Thù (王洙) không theo, lời qua tiếng lại, gần đến ồn ào. Đạo của âm nhạc, rộng lớn vi diệu, nếu không phải người biết âm đến mức thần diệu, há có thể bàn luận khinh suất! Nguỵên Dật là kẻ có tội bị phế, cố làm dị thuyết để cầu ân thưởng. Triều đình chế nhạc mấy năm, đúng lúc quốc gia tài chính thiếu thốn, phiền phí rất lớn; khí cụ đã làm xong, lại muốn đổi làm, tuy lệnh cho đại thần hai phủ giám nghị, nhưng chưa thể quyết định cho đúng. Xin lấy chuông khánh mới làm so với âm thanh của nhạc cũ thời Tổ tông, chỉ chọn thứ nào hài hòa, gần với nhã nhạc mà dùng chung." Vương Thù đã cùng Hồ Nguyên, Nguỵên Dật chế tạo lại chuông khánh, mà không phân biệt hình chế, dung lượng, lại nhiều lần khuyên Hoàng đế dùng nhạc mới ở Nam Giao, người bàn luận phần nhiều cho là không phải, về sau cũng không dùng nữa.
Ngày Quý Hợi, Ngự sử trung thừa Vương Cửu Chính (王举正) bị bãi làm Quán Văn điện học sĩ, Tri Thông tiến, Ngân đài ty kiêm Môn hạ phong bác sự. Ban đầu, khi Địch Thanh được thăng Khu mật sứ, Cửu Chính hết sức tranh luận, không được, bèn xin bỏ chức ngôn quan. Hoàng đế khen ông có phong độ của quan Phong hiến, sai sứ đến nhà ban cho 300 lạng bạch kim, rồi ra lệnh như thế.
Lấy Hàn lâm học sĩ Tôn Biện (孙抃) tạm quyền Ngự sử trung thừa. Gián quan Hàn Cương (韩绛) tâu luận rằng Biện không có tài chỉnh đốn, không thể đảm nhiệm chức Phong hiến. Biện liền tự tay dâng sớ nói: "Thần xem sĩ nhân ngày nay, kẻ chạy theo tiến đạt thì nhiều, kẻ liêm khiết lui về thì ít, lấy việc cầu chức bằng điều thiện làm tinh thần, lấy khả năng công kích người khác làm phong thái, nhanh nhẹn như kẻ tiểu lại thì gọi là có nghị luận, khắc nghiệt như quan lại tàn bạo thì gọi là có chính sự; cái mà Gián quan gọi là ‘tài’, há chẳng phải là như thế sao! Nếu vậy, thần thật không làm được." Hoàng đế xét lời ấy, thúc giục ông nhận chức, lại lệnh kiêm chức Tri Thẩm quan viện. Biện từ chối, nói rằng đã gánh trách nhiệm ngôn quan thì không nên kiêm việc ở ty cục, nên thôi.
Ngày Giáp Tý, chiếu: "Gián quan, Ngự sử dâng chương luận việc, không được kết bè để hãm hại người hiền lương."
Tháng 6, ngày Tân Mùi, trả lại nhà cửa ở Lạc Du mà Cao Lợi Dụng (曹利用) từng bị tịch thu. Hoàng đế thương Lợi Dụng chết oan, trước đã ban thụy, dựng bia, đến nay lại trả nhà cho.
Ngày Nhâm Thân, Liêu chúa đóng quân ở núi Hồ Lữ.
Ngày Ất Hợi, ngự điện Tử Thần, diễn tấu nhạc “Đại An” mới định của Thái thường tự, triệu các Tể phụ đến, cùng quan học ở Tỉnh, Phủ, Quán, Các dự xem. Lại xem đồ khí tế tông miếu, ban cho các quan xét định khí vật, tiền tệ có khác nhau.
Ngày Nhâm Ngọ, Hữu Vũ Vệ đại tướng quân Tông Ngạc (宗谔) dâng bộ “Trị nguyên” 15 quyển, hạ chiếu khen ngợi khuyến dụ. Tông Ngạc là con của Dung Ninh (允宁).
Ngày Bính Tuất, Tân tu Tập Hỉ quán hoàn thành. Ban đầu, Hội Linh quán bị cháy, đổi tên là Tập Hỉ, tức là ở phía tây chỗ cũ dựng thêm 1 điện, cùng thờ Ngũ Nhạc, gọi là Phụng Thần điện.
Ngày Nhâm Thìn, chiếu: "Các Chuyển vận sứ các lộ khi nộp thóc gạo lên, phải tùy thời giá mà mua vật, không được ép buộc phân phối cho dân hộ; lại bãi phép khảo hạch thưởng phạt." Trước đó, Tam ty cùng Phát vận sứ mưu việc vơ vét, tâu rằng các Chuyển vận sứ các lộ nếu nộp lên không đủ thì đều bị trách phạt giáng chức, nếu có dư thì được thăng bổ, vì thế kẻ ham tiến đua nhau bóc lột, dân không chịu nổi. Hoàng đế nghe, đặc biệt hạ chiếu này.
Ngày Giáp Ngọ, truy tặng Tư hộ tham quân Ung châu Khổng Tông Đán (孔宗旦) làm Thái tử Trung doãn. Tri Viên châu Tổ Vô Trạch (祖无择) trước đây vì báo việc Tông Đán chết vì việc công nên được truy tặng.
Ngày Ất Mùi, chiếu: "Hà Bắc đói kém liên tiếp, Chuyển vận sứ xét các Trưởng lại châu, huyện có thể chiêu tập, an ủi dân chúng thì tâu lên công trạng, kẻ không xứng chức thì đàn hặc."
Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tị, chiếu: "Dân đường Hồ Bắc vì tai họa tổn hại, số gạo vay ở kho Thường bình được miễn trả."
Ngày Kỷ Dậu, chiếu rằng: "Trẫm nghĩ muốn được hiền tài, nên mở đường tiến cử, thành tâm tiếp nhận. Nhưng mấy năm gần đây, phần nhiều sai lầm, hoặc nhân tài tầm thường mà khen ngợi quá sự thật, hoặc vốn mang tiếng xấu mà vội xin rửa sạch, hoặc chức trách vốn xa xôi mà đề cử quá nặng, xét tâm tích, nếu không phải là phô trương, mua chuộc, tư lợi, thì sao đến nỗi như thế! Từ nay, ai tiến cử không đúng người, lệnh Ngự sử đài đàn tấu, phải xử theo pháp. Những người đang giữ chức Giám tư trở lên, không được luận bàn tiến cử."
Chuẩn Bố Đại vương dẫn các thủ lĩnh dâng ngựa, lạc đà cho nước Liêu.
Ngày Canh Tuất, Hoàng đế bảo các Tể phụ: "Gần đây nghe các châu, quân thường vào lúc mùa hạ, mùa thu, trước tâu rằng mưa thuận đủ, ruộng lúa tốt tươi; sau đó nếu gặp tai hại tổn thất, bèn không dám tâu, khiến cho thuế dân không được miễn giảm, rất không phải là ý thương dân của Trưởng lại, nên nghiêm sức răn bảo."
Ngày Mậu Ngọ, chiếu Thái thường định thụy không được quá lời ca ngợi.
Ngày Canh Thân, lấy Trang trạch phó sứ Triệu Tư (赵滋) người Khai Phong tạm quyền Bính đại Kiềm hạt. Ban đầu, Tư được bổ làm Đô giám trú bạc Định châu lộ, thường khi phát lương cho quân, có đồng liêu nói thóc không tốt, Tư quát: "Ngươi muốn dùng việc này để chọc giận đám đông sao! Nếu trong đám đông có một lời oán, sẽ chém ngươi trước để răn!" Hàn Kỳ (韩琦) nghe, khen là khí độ, cho là tài tướng quốc thật sự. Tư được lệnh này là do Kỳ dâng tấu.
Liêu chúa đi đến Hắc Lĩnh.
Nhuận tháng, ngày Mậu Thìn mồng 1, chiếu Nội thị tỉnh: "Từ nay quan Nội thị Cung phụng cho đến Hoàng môn, lấy 180 người làm ngạch."
Chiếu: "Ở Quảng Nam, nơi nào bị man tặc giày xéo mà dân bỏ trốn chưa trở về, hạn 1 năm phải trở lại làm ăn, được miễn 2 năm thu thuế và miễn lao dịch 3 năm." Theo lời tâu của Thể lý An phủ Chu Hanh (周沆). Trước đó, dân tránh giặc, phần nhiều bỏ ruộng vườn đi xa; quan lại theo lệ thường, quá nửa năm không về thì cho người khác chiếm cày. Hanh nói: "Há có thể coi như hạng trốn thuế, trốn dịch trong năm mất mùa sao?" Bèn tâu xin kéo dài hạn thêm 1 năm, những ruộng đã bị chiếm cày đều trả lại như cũ, kẻ nghèo thì nhà nước cho vay giống. Ban đầu, Hoàng đế chiếu bảo Hanh: "Đất Quảng Nam xấu, nơi nào giặc không đến thì không cần đi." Hanh nói: "Dân xa mới chịu khổ sở, nên phải ban bố đức trạch của Hoàng đế." Bèn đi khắp các châu, huyện.
Ngày Canh Ngọ, Ô Khố (乌库) dâng cống cho nước Liêu.
Ngày Tân Mùi, đổi Tri Thanh châu Văn Ngạn Bác làm Tri Tần châu, Tri Tần châu Trương Biện (张昪) làm Tri Thanh châu. Lúc ấy đang bàn việc đắp thành Cổ Vị châu, ý kiến của Biện không hợp nên bị đổi. Ngự sử trung thừa Tôn Biện tâu: "Triều đình trước đây xây thành ngoài biên giới, lòng các bộ phiên đã đều bất an. Nay lại đặc mệnh cựu tướng đến trấn giữ biên, việc này khác với lệ thường, tất càng tăng nghi ngờ, có thể sinh biến khác. Nghe Tri Vĩnh Hưng quân Yến Thù (晏殊) sắp mãn nhiệm, chi bằng sai ông ta trấn giữ Quan Trung, kiêm coi việc Tần, Phụng, thì các bộ phiên không đến nỗi kinh động, xét về thể diện quốc gia, thật là rất tiện."
Ngày Nhâm Thân, Hộ bộ Thị lang, Bình chương sự Bàng Tịch bị bãi, giữ nguyên bản chức làm Tri Vận châu.
Ban đầu, Học cữu ở Tề châu là Hoàng Phủ Uyên (皇甫渊) bắt được giặc, theo luật được thưởng tiền, Uyên dâng thư xin đổi lấy một chức quan. Đạo sĩ Triệu Thanh Khoan (赵清贶) là cháu ngoại của Tịch, lừa nói sẽ thay Uyên bẩm với Tịch, rồi cùng Đường lại nhận hối lộ của Uyên. Uyên nhiều lần đến Đãi lậu viện tự trình bày, Tịch bèn ép Uyên trở về Tề châu. Có tiểu lại tố cáo việc bọn Thanh Khoan nhận hối lộ, Tịch liền bắt giao Khai Phong phủ, Thanh Khoan và Đường lại đều bị tội tham ô, phát phối Lĩnh ngoại, đi đến Hứa châu thì chết. Gián quan Hàn Cương nói Tịch ngầm xui Khai Phong đánh chết Thanh Khoan để diệt khẩu, lại nói việc này nên giao cho Khu mật viện, không nên để Trung thư tự làm, nên Tịch bị bãi. Nhưng nói Tịch ngầm xui Khai Phong, xét lại không có thực.
Lấy Phán Đại Danh phủ Trần Chấp Trung (陈执中) làm Lại bộ Thượng thư, Bình chương sự, Cấp sự trung, Tham tri chính sự Lương Thích làm Lại bộ Thị lang, Bình chương sự.
Ngày Giáp Tuất, truy tặng Bí thư giám trí sĩ Hồ Đán (胡旦) làm Công bộ Thị lang, lại ban cho nhà ông 300.000 quan tiền, lệnh Tương châu lo việc mai táng. Tri châu Hạng Thành Mã Tầm (马寻) tâu rằng nhà Đán nghèo, lâu không thể chôn cất, nên được thương xót. Tầm nổi tiếng am hiểu luật lệ, khi ở Tương châu, gặp năm đói, có người tụ tập vào nhà giàu cướp thóc trong kho, Ngục lại xét hỏi theo tội cường đạo, Tầm nói: "Đây là bị đói bức bách, tình trạng khác với cường đạo." Tâu lên, được giảm tội chết, rồi thành lệ.
Ngày Ất Hợi, chiếu: "Các võ thần làm Tri châu, quân các lộ, đều phải cùng liêu thuộc bàn bạc công việc, không được tự ý quyết định, lại lệnh An phủ, Chuyển vận sứ, Ty Đề điểm hình ngục thường xuyên kiểm tra."
Ngày Bính Tý, lấy Tập hiền hiệu lý Lý Trung Sư (李中师) làm Chuyển vận sứ Hoài Nam. Trung Sư vào từ biệt, Hoàng đế bảo: "Gần đây nghe các Chuyển vận sứ các lộ phần nhiều dâng thặng dư để cầu tiến, nhưng gặp tai hại thì không tránh khỏi việc vơ vét dân, đó là điều trẫm không chấp nhận, khanh nên răn mình." Lại xuất 100.000 quan tiền ở Nội tàng khố, 200.000 tấm quyên, 100.000 cân bông, đưa xuống Hà Bắc giúp mua lương cho quân.
Ngày Canh Thìn, Tần, Phụng lộ báo tin Bộ thự Lưu Hoán (刘涣) và những người khác phá được các bộ phiên, chém hơn 2.000 thủ cấp.
Ngày Mậu Tý, chiếu Lễ bộ Cống viện: "Từ nay các sĩ tử các khoa, đến cuối trường sẽ hỏi 10 đạo ‘Đại nghĩa’, mỗi đạo lấy 1, 2 câu trong phần đầu của mỗi khoa làm câu hỏi, ai có thể dùng bản kinh chú sớ mà đối, lại thêm văn từ tu sức, phát minh nghĩa lý thì là hạng trên; hoặc không chỉ rõ nghĩa lý mà dẫn chú sớ đầy đủ thì là hạng kế, đều là thông; nếu chỉ dẫn chú sớ đến 6 phần thì là hạng thô; nếu không biết bản nghĩa, hoặc dẫn lẫn sang kinh khác khiến văn ý sai lệch, chương cú đứt đoạn thì là bất thông. Lấy 4 đạo thông trở lên là hợp cách. ‘Cửu kinh’ chỉ hỏi ‘Đại nghĩa’, không cần chú sớ đầy đủ; số trường thi ‘Cửu kinh’ đều giảm 2 trường, lại không hỏi kiêm kinh." Lại chiếu: "Tiến sĩ ở Khai Phong phủ, Quốc tử giám, từ nay cứ 100 người lấy 15 người, quan khảo thí nếu có thân thích thì lệnh phủ, giám đổi cho nhau; nếu cả hai nơi đều có thân thích, thì gửi sang nơi khác."
Ngày Kỷ Sửu, chiếu: "Trước đây nói rằng quân sửa thành ở Tắc, tạm cấp tiền ‘Bảo tiệp’, lại lấy phiên quan Tả ban Điện trực Nột Chi Lận Chiên (讷支蔺氈) làm Phân tuần kiểm bản địa, mỗi tháng bổng lộc 5.000 tiền, đợi 1 năm, nếu có thể trấn áp các bộ phiên, sẽ bổ làm Thuận châu Thứ sử."
Lận Chiên đời đời ở Cổ Vị châu, gần sát biên giới nước Hạ. Người Hạ chăn bò dê ở trên biên giới, Lận Chiên cướp lấy, người Hạ giận, muốn đánh, Lận Chiên sợ lực không địch nổi, bèn dâng đất ấy, mong được quân đồn trú để chống người Hạ. Phạm Tường muốn lập công kỳ, vội đến xây thành. Họ Lận Chiên đời trước chiếm giữ 9 thung lũng, sau dần suy, chỉ giữ được 3 thung lũng, còn lại đều bị các bộ khác cắt lấy. Bộ Thanh Đường là mạnh nhất, chiếm giữ mỏ muối, mỗi ngày được lợi, có thể mua 800 con ngựa. Lận Chiên nói với Tường: "Đây vốn là đất của ta, cũng xin nhà Hán lấy lại." Tường lại cướp nhiều đất của các bộ để chiêu mộ cung tiễn thủ, vì thế Thanh Đường và các bộ đều giận, kéo quân phản. Tường đã bị trách phạt giáng chức, Trương Biện xin bỏ Cổ Vị, không xây thành nữa. Người Hạ lại đến nói: "Cổ Vị châu vốn là đất của ta, nay triều đình đặt châu ở đó, trái với thệ chiếu." Hoàng đế sai Phó Cầu (傅求) trông coi việc lương thảo, chuyên xét lợi hại, Cầu tâu: "Nay bỏ không xây thành, người Hạ tất chiếm đất ấy, lại thành mối họa cho Tần châu. Vả lại, đã được mà bỏ, không phải là cách làm mạnh nước. Xét ra tổ phụ Lận Chiên đều nhận quan chức nhà Hán, đất ấy rõ ràng không phải của người Hạ, chỉ nên đổi tên là Cổ Vị trại, không làm châu, để hợp với thệ chiếu mà thôi." Bèn triệu các thủ lĩnh bộ Thanh Đường, bảo rằng: "Triều đình nay xây thành, thực là để giữ cho các bộ của các ngươi, thế mà các ngươi phản, là cớ gì?" Họ đều nói: "Quan cướp mỏ muối và đất của ta, ta không có gì sinh sống." Cầu nói: "Nay nếu không lấy mỏ muối và đất của các ngươi nữa thì sao?" Mọi người đều vui, nghe lệnh, bèn bãi binh. Cầu bèn cắt 1/4 đất ấy cho bộ Thanh Đường, rồi hoàn thành việc xây thành Cổ Vị. Bắt đầu gia phong tước vị cho Lận Chiên.
Ngày Quý Tị, nước Liêu đặt Ty Tiền bạc ở Trường Xuân châu.