Tục tư trị thông giám

Chương 59: Quyển 60

Khoảng 50 phút đọc · 11.003 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Tháng 9, ngày Quý Sửu, xuống chiếu cho Tam ty: vì vụ thu ở Hà Bắc được mùa rất tốt, nên xuất 100 vạn quan tiền trong Nội tàng khố để giúp mua thóc làm quân trữ.

Ngày Nhâm Tuất, Tri Gián viện Dương Điền (楊畋), Tư Mã Quang (司馬光) và những người khác tâu: "Theo lệ cũ, phàm thần liêu vào điện tâu việc, đều cho lui hết bọn nội thần hầu cận, chỉ đứng cách ngự tọa vài bước, e làm lộ việc cơ mật, là điều không tiện." Chiếu: "Từ nay chỉ cho Ngự dược sứ thần và 4 người phụ tá đứng ở góc điện để phòng khi tuyên gọi, còn lại đều cho lui ra."

Tư Mã Quang lại dâng sớ xin sớm định người kế tự, nói: "Thần không dám mong bệ hạ lập tức chính danh Đông cung, chỉ nguyện bệ hạ tự chọn trong tông thất người nào nhân từ, hiếu thuận, thông minh, nuôi làm con, về quan tước, chỗ ở, hơi khác với người thường, để người trong thiên hạ đều biết ý bệ hạ đã có chỗ gửi gắm, nhờ đó buộc được lòng người xa gần. Xin bệ hạ quả quyết mà thi hành sớm."

Ban đầu, Hàn Kỳ (韓琦) đã ngầm tỏ ý đồng tình với lời Tư Mã Quang. Sau 10 ngày, có chiếu lệnh ông cùng Điện trung thị ngự sử lý hành Trần Chu (陳洙) cùng xét kỹ lợi hại của việc hành hộ. Chu cùng Quang cho lui người hầu, nói riêng: "Hôm trước, khi đại yến ở Minh đường, Hàn công quyền giữ chức Thái úy, ta làm Giám sát, công thong thả bảo ta rằng: ‘Nghe khanh thân với Tư mã Quân Thực, Quân Thực gần đây có dâng lời bàn việc lập người kế tự, tiếc là không đem điều đã nói gửi vào Trung thư, muốn phát khởi nghị luận này mà không có chỗ phát ra. Việc hành hộ lợi hại, không phải việc để phiền công, chỉ muốn ta gặp công để đạt ý ấy mà thôi." Bấy giờ Tư Mã Quang lại dâng sớ đầy đủ, và còn trực tiếp tâu mặt: "Trước đây thần dâng lời, bệ hạ vui vẻ, thần tưởng là sẽ thi hành ngay. Nay lặng không nghe gì, ắt là có kẻ tiểu nhân nói: ‘Bệ hạ tuổi xuân còn thịnh, sao vội làm việc chẳng lành này!’ Tiểu nhân không có nhìn xa, chỉ muốn đến lúc cấp bách thì nhân đó dựng lên người mà mình thân cận, được mình hậu đãi mà thôi. Họa hoạn ‘Định sách quốc lão’, ‘Môn sinh thiên tử’, há nói hết được sao!" Hoàng đế cảm ngộ sâu sắc, nói: "Gửi sang Trung thư." Tư Mã Quang đến Trung thư, gặp Hàn Kỳ và các quan, nói: "Các ông nếu không nhân lúc này định nghị, mai sau trong cấm trung nửa đêm đưa ra một tờ giấy, lập một người nào đó làm người kế tự, thì thiên hạ không ai dám trái nữa." Hàn Kỳ và mọi người đều chắp tay nói: "Dám đâu không hết sức!"

Không lâu sau, Trần Chu dâng sớ đầy đủ, xin chọn người hiền trong tông thất lập làm người kế vị. Khi đã phát sớ tâu, Chu bảo người nhà: "Ta hôm nay dâng một tờ văn thư, bàn đại kế xã tắc, nếu mắc tội, lớn thì chết, nhỏ thì bị giáng đày, các ngươi phải chuẩn bị sẵn." Người mang sớ chưa về, Chu bỗng phát bệnh mà chết. Ngự sử trung thừa Vương Trù (王疇) và những người khác xin gia ân phúng viếng, cho 1 con trai được làm quan, ban 10 vạn tiền.

Lúc ấy, Tri Giang châu Lữ Hối (呂誨) cũng dâng sớ nói: "Thần nghe lén rằng trong ngoài thần liêu vì thánh tự chưa lập, nhiều lần có mật sớ xin chọn người trong tông thất. Cúi mong bệ hạ nghĩ đến gốc rễ là trọng, làm kế cho tông miếu, kiểm hội các sớ nghị của thần liêu trước sau, cùng đại thần đình đối, xét chọn cung đệ, lấy thân, lấy hiền, khảo hợp với ý trời. Vạn nhất có gian thần ngầm phụ họa, ngoài mặt làm ra trung thực để làm chậm lòng trên, đó là mối họa lớn nhất, không thể không xét."

Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Ngọ, Khu mật viện xin: "Từ nay, nội thần người ở Tiền, Hậu tỉnh ra làm quan, đều phải trải qua 30 năm mới được mài giám; kẻ đã mài giám rồi, thì tính 20 năm; ai vì công lao mà được giảm năm, không được quá 5 năm."

Trước đó, Sa Uyển thiếu ngựa, đặt trường ở Tần châu, dùng khoán mà mua. Nội thị Lý Kế Hòa (李繼和) mới lĩnh chức ấy, chưa đầy mấy tháng đã được hơn 1.000 con ngựa. Lương Thích (梁適) tiến cử ông ta, chiếu giảm cho 3 năm mài giám. Chế cũ, nội thị vào làm quan, 20 năm mới được mài giám; từ đó về sau, những người vì công lao mà được thăng quan, đều viện Kế Hòa làm lệ, nên mới có tấu nghị này. Chiếu cho theo.

Chiếu lệnh Thái thường Lễ viện tu sửa sách "Thụy pháp". Trước đó, bản viện tâu: "Thụy pháp hiện dùng là do năm Vĩnh Hy định ra, trong đó số chữ so với bản ghi của Hạ Thâm (賀琛), Thẩm Ước (沈約), Vương Diễn Uy (王彥威) có nhiều sai lầm, xin biên soạn lại." Được chuẩn.

Ngày Bính Tuất, chiếu tăng đặt Đô đồng tuần kiểm ở các lộ Kinh Tây, Hoài, Chiết, Kinh Hồ.

Ngày Nhâm Thìn, khởi phục tiền Hữu vệ Đại tướng quân, Nhạc châu Đoàn luyện sứ Tông Thực (宗實) làm Tần châu Phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự.

Ban đầu, sau khi Tư Mã Quang đem chương tâu gửi Trung thư, trong nội đình lại đưa ra chương của Tri Giang châu Lữ Hối. Tể tướng Hàn Kỳ cùng các đồng liêu vào tâu việc ở điện Thùy Củng, đọc 2 chương của Quang và Hối, chưa kịp tâu bày gì, Hoàng đế đã vội nói: "Trẫm có ý này đã lâu, chỉ là chưa được người thích hợp." Nhân đó quay sang tả hữu hỏi: "Trong tông thất ai có thể?" Hàn Kỳ nói: "Việc này không phải điều thần đẳng có thể bàn, nên do thánh ý tự chọn." Hoàng đế nói: "Trong cung từng nuôi 2 đứa trẻ, đứa nhỏ rất thuần, gần đây không được khéo; đứa lớn thì được." Hàn Kỳ xin hỏi tên, Hoàng đế nói: "Tông Thực, nay hơn 30 tuổi rồi." Bàn định xong, sắp lui, Hàn Kỳ lại tâu: "Việc này rất lớn, thần đẳng chưa dám thi hành ngay. Xin bệ hạ đêm nay nghĩ lại, ngày mai xin chỉ." Hôm sau, vào tâu việc ở điện Thùy Củng, lại khơi việc ấy, Hoàng đế nói: "Quyết không còn nghi gì nữa." Hàn Kỳ nói: "Việc phải có tuần tự, xin cho thần đẳng bàn định chức quan sẽ bổ." Lúc ấy Tông Thực còn đang chịu tang cha, bèn bàn khởi phục làm Tần châu Phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự. Hoàng đế vui nói: "Rất hay!" Hàn Kỳ lại nói: "Việc không thể dừng giữa chừng, xin bệ hạ quyết đoán không nghi, cho từ trong nội đình phê ra." Hoàng đế nói: "Việc này há có thể để cho đàn bà biết, chỉ do Trung thư thi hành là được." Bèn hạ chiếu ấy.

Hoàng đế từ cuối niên hiệu Chí Hòa mắc bệnh, triều thần nhiều lần xin sớm lập người kế tự, Hoàng đế đều chưa cho, như thế 5, 6 năm, người nói cũng hơi chán. Hàn Kỳ từng một mình xin lập học trong nội đình, chọn người tông thất nào cẩn hậu, hiếu học đưa vào Nội học, mong được người thân hiền. Nhân gặp đại sự, muốn dùng đó cảm động ý Hoàng đế, nhân lúc rảnh liền nói nên sớm lập người kế tự. Hoàng đế nói: "Trong hậu cung có 1, 2 người sắp sinh con, khanh hãy đợi đó." Sau đều sinh Hoàng nữ. Một hôm, Hàn Kỳ lấy truyện "Khổng Quang" trong Hán thư giấu trong áo mà vào chầu, nói: "Hán Thành Đế không có con, lập con của em. Đó là bậc trung tài chi chủ mà còn làm được như thế, huống chi là bệ hạ! Xin lấy lòng Thái Tổ làm lòng mình, thì không việc gì không thể." Nhân đó, dựa vào lời Tư Mã Quang và những người khác, rốt cuộc thành được ý Hoàng đế.

Ngày Quý Tị, lấy Chư vương cung Thị giảng, Đồn điền viên ngoại lang, Biên hiệu thư tịch Vương Liệp (王獵) người Trường Nguyên làm bạn đọc ở Tông chính tự. Vương Liệp làm quan trong cung tổng cộng 13 năm, có công phụ đạo đối với Tông Thực, nên được dùng trước.

Ban đầu, Ngô Khuê (吳奎) khi ở Hàn lâm, tiến cử Vương Liệp có thể đảm nhiệm chức ở Kinh diên, Văn quán. Tể tướng Hàn Kỳ chỉ tên Vương Liệp bảo các quan chấp chính: "Chỉ người này và Mạnh Tuân (孟恂) là không thông tư cầu, đủ thấy họ có giữ tiết." Lúc ấy Mạnh Tuân làm Đô quan lang trung, bèn cùng Vương Liệp đều được bổ làm Biên hiệu thư tịch.

Ngày Mậu Tuất, lấy Nam cựu phủ ty của Thái miếu làm nha xá cho Tri Tông chính tự.

Tháng 11, ngày Đinh Tị, khởi phục Hữu vệ Đại tướng quân, Tần châu Phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự Tông Thực dâng biểu xin để tang cho trọn, Hoàng đế hỏi Hàn Kỳ, Hàn Kỳ nói: "Bệ hạ đã biết ông ta hiền mà chọn dùng, nay ông ta không dám vội nhận, ấy là vì khí độ, kiến thức xa rộng, cho nên mới là hiền. Xin cứ kiên quyết triệu dùng." Biểu dâng 4 lần, rồi mới theo lời xin.

Ngày Canh Thân, Tả Kỳ Kỵ sứ, Nhập nội Đô tri Sử Chí Thông (史志聰) bị bãi chức Đô tri, sung Đề điểm Tập Hỉ quán. Chí Thông mua gỗ khô ở Hậu uyển, sai thân tòng quan làm việc riêng, gỗ đổ, gãy chân mà chết. Điện trung thị ngự sử Hàn Chẩn (韓縝) tâu: "Thân tòng bày hàng túc vệ là để phụng thờ đấng tôn quý, đề phòng bất trắc. Nếu để người chủ quản được sai khiến riêng, thì sự nghiêm của cấm vệ sẽ bị buông lỏng." Việc giao xuống Khai Phong phủ. Theo lệ cũ, hễ có án, Tư lục tham quân tất phải bẩm với Tri phủ rồi mới dám thẩm xét. Bấy giờ nhiều người tìm cách dung túng cho Chí Thông, riêng Tư lục tham quân Nam Cung Lữ Thục (南宮呂璹) tra xét đến cùng. Chí Thông rốt cuộc vì việc này mà bị giáng.

Ngày Quý Hợi, lấy điện mới xây ở Thọ Tinh quán thờ thần ngự của Chân Tông làm Vĩnh Sùng điện. Trước đó, cung Thượng Thanh bị cháy, chỉ riêng Thọ Tinh điện còn, bèn dựng làm Thọ Tinh quán. Có người nói tượng ở Thọ Tinh điện chính là ngự dung của Chân Tông, nên lại xây riêng Thần ngự điện. Thiên Chương các Thị giảng Lữ Công Trứ (呂公著) tâu: "Trong đô thành, Chân Tông đã có 3 Thần ngự điện rồi, mà việc xây dựng vẫn không dứt, trái với nghĩa ‘tế tự không nên quá thân mật, rườm rà’, xin bãi việc xây dựng ấy." Không cho.

Ngày Kỷ Tị, Hạ quốc chúa Lượng Tộ (諒祚) tâu: "Bản quốc trộm mộ y quan nhà Hán, nay người trong nước đều không dùng phiên lễ nữa, sang năm muốn dùng Hán nghi để nghênh tiếp sứ thần triều đình." Chuẩn cho.

Ngày Ất Hợi, Khu mật viện dâng bộ "Cơ yếu văn tự" 1.161 quyển, từ khi bắt đầu biên tập đến khi thành sách, cộng hơn 4 năm.

Ngày Mậu Dần, cho Thứ sử Khang châu Lý Thù (李樞) được lấy chức của mình mà phong tặng cha mẹ.

Tháng này, nước Liêu lấy Tri Hoàng Long sự A Lý Chất (阿裡質) làm Nam viện Đại vương.

Tháng 12, ngày Bính Tuất, phục lại Phong châu.

Ngày Canh Dần, lệnh các Lộ tổng quản tập hợp sổ công quá của quân theo doanh để làm căn cứ thăng bổ.

Lấy Chu Đôn Di (周敦頤) làm Quốc tử bác sĩ, Thông phán Khiên châu. Trước đó, Đôn Di làm Hợp châu Phán quan, Bộ sứ giả Triệu Biện (趙抃) bị lời gièm pha làm mê hoặc, đối xử với ông rất nghiêm khắc, Đôn Di ứng xử vẫn thản nhiên. Đến nay, Biện giữ Khiên châu, xem kỹ việc làm của Đôn Di, bèn đại ngộ, nắm tay ông nói: "Ta suýt nữa bỏ lỡ khanh! Hôm nay mới biết Chu Mậu Thúc vậy."

Thái thường Lễ viện tâu: "Sang năm, ngày Chính đán, Đại khánh điện sẽ nhận triều hạ, đến ngày Thượng tân mồng 3, cầu cốc với Thượng đế, 3 ngày trước không được tấu nhạc, xin theo lệ năm đầu niên hiệu Khánh Lịch dùng ngày thứ Tân." Chuẩn cho.

Ngày Giáp Ngọ, Điện tiền Đô chỉ huy sứ, Kiến Hùng Tiết độ sứ Hứa Hoài Đức (許懷德) mất, tặng Thị trung, thụy Vinh Nghị. Hoài Đức 80 tuổi, mà gân sức vẫn hơn người, ở túc vệ 14 năm, nhiều lần xin cáo lão, Hoàng đế không cho. Hoài Đức nói: "Thần tuổi đã cao, nếu bị Ngự sử đàn hặc, ắt không được kết thúc tốt đẹp." Liền có chiếu giảm vài tuổi (trên sổ sách). Hoài Đức từ khi được cất nhắc giữ biên thùy, liên tiếp vì nhút nhát mà bị giáng, sau lại cùng công thần được tiến cử coi quân; rồi vì tội cầu xin, nhờ vả mà bị tội, đi rồi lại được về. Gặp thời thịnh trị lâu dài, giữ được sủng ái đến hết lộc, thật là có vận may của trời vậy.

Ngày Tân Sửu, Tam quán, Bí các dâng 6.496 quyển sách bản giấy vàng đã chép, bổ sung 2.954 quyển sách bản giấy trắng. Sai nội sứ truyền chiếu cho Trung thư, Khu mật viện hợp với quan Tam quán, Bí các, yến ban tại Sùng Văn viện để khuyến khích sự cần lao của họ. Lại chiếu cho Lưỡng chế xem xét kỹ các sách dâng nộp, chọn cái có thể dùng, lệnh quan Biên hiệu lại hiệu đính, chép làm bản định bản.

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Sửu, Liêu chúa đi đến Áp Tử hà.

Ngày Nhâm Tuất, Hoàng đế ngự cửa Tuyên Đức xem đèn, quay bảo các cận thần: "Đây là nhân dịp tiết năm mà cùng vui với muôn dân, chứ không phải trẫm một mình phóng túng du ngoạn." Trước đó, Gián quan Dương Điền, Tư Mã Quang và những người khác vì năm ngoái có thủy tai, xin bãi việc xem đèn Thượng Nguyên, nên Hoàng đế đặc biệt tuyên dụ như thế.

Ngày Tân Mùi, lại ra lệnh cho Hoàng điệt Tông Thực giữ chức Tần châu Phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự.

Ngày Ất Hợi, chiếu Thái thường Lễ viện: "Từ nay, ở Nam giao lấy Thái Tổ Hoàng đế làm định phối, đổi miếu của Ôn Thành Hoàng hậu làm Từ điện, hàng năm lệnh cung thần dùng thường soạn mà tế."

Trước đó, chiếu lệnh Thái thường Lễ viện kiểm xét những việc chưa hợp trong lễ Giao, lễ Miếu, bèn tâu: "Từ năm Hoàng Hựu thứ 5, chiếu thư lấy Tam Thánh cùng phối tế làm định chế, tuy xuất phát từ lòng hiếu, nhưng việc ấy khá trái với kinh lễ. Lại nữa, miếu của Ôn Thành Hoàng hậu bốn mùa tế tự đều theo lễ Thái miếu, ấy là do lúc bấy giờ hữu ty không khéo khảo cứu. Xưa Cao Tông gặp biến, sửa mình nghĩ lỗi, Tổ Kỷ dạy rằng: ‘Tế tự không nên quá thân mật, rườm rà.’ Huống chi đem người sủng ái xếp vào hàng tước lễ, chẳng phải là cách để hưởng lòng trời, phụng ý tổ tông vậy." Hàn lâm học sĩ Vương Khuê (王珪) và những người khác bàn: "Truy tôn bậc tôn để hưởng Đế, là nghĩa chí cực; suy thân thân để hưởng thân, là nhân chí cực. Tôn tôn không thể làm nhơ, nên Giao không có hai chủ; thân thân không thể vượt lễ, nên miếu chỉ thờ bậc tiên. Nay ba hậu cùng phối, là muốn tỏ lòng hiếu, mà lại thành ra làm nhơ việc hưởng Đế; hậu cung có miếu, là muốn rộng ân, mà lại thành ra làm nhơ việc hưởng thân. Xin theo như nghị của Lễ quan." Vì thế mới có chiếu này.

Tháng 2, ngày Mậu Mão mồng 1, đổi phép muối ở Giang Tây.

Trước đó, muối vận từ Giang, Hồ đã lẫn xấu, mà giá quan định lại cao, nên dân thích ăn muối lậu, do đó kẻ buôn lậu rất nhiều, bắt gắt thì nổi lên làm giặc. Ở vùng Giang, Hoài, dù là sĩ nhân áo mũ, cũng quen với lợi lớn, hoặc lấy việc buôn muối làm nghề. Giang Tây thì đất Khiên châu liền với Quảng Nam, mà Đinh châu của Phúc Kiến cũng giáp với Khiên, muối Khiên không tốt, Đinh vốn không sản muối, dân 2 châu phần nhiều buôn lậu muối Quảng Nam để kiếm lời. Mỗi năm vào mùa thu đông, việc đồng áng vừa xong, thường có vài chục đến trăm người kết thành bọn, mang giáp binh, cờ trống, qua lại vùng đất 8 châu Khiên, Đinh, Chương, Triều, Tuần, Mai, Huệ, Quảng, đến đâu cướp lúa lụa, bắt phụ nữ, đánh nhau với quan quân tuần bắt. Đến khi giết hại quan quân, thì nổi lên làm giặc, dựa vào nơi hiểm yếu. Bắt không được, hoặc tha tội để chiêu dụ, năm tháng dần dần càng nhiều. Triều đình lấy đó làm họa, từng sai Chức phương viên ngoại lang Hoàng Bính (黃炳) cưỡi trạm đến hội họp với các Ty muối sở thuộc và Tri châu, Quân, Thông phán để bàn. Bấy giờ Hoàng Bính và những người khác cùng bàn, cho rằng: "Khiên châu ăn muối Hoài Nam đã lâu, không thể đổi, chỉ giảm bớt giá quan định tăng thêm mấy năm gần đây, mỗi cân là 40 tiền, lấy 10 huyện, hộ 5 đẳng, thuế mùa hạ bình quân 100 tiền, lệnh mua 2 cân muối, theo tiền thuế mùa hạ mà trả cho quan." Sau đó lại lệnh Đề điểm Chú tiền Thẩm Phù (沈扶) đến xem xét lại xem có nên chăng. Thẩm Phù cùng với các Chuyển vận sứ Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, quan lại Khiên châu, lại xin chọn thuyền vận Giang Tây, hợp thành 10 cương, lấy Tam ban sứ thần chỉ huy, trực tiếp lấy muối ở các đô thương Thông, Thái, Sở. Lại lệnh Tỷ bộ viên ngoại lang Tăng Giai (曾楷) đến Quảng Nam cùng Giám ty bàn lại việc thông hành muối Quảng Nam, còn Chuyển vận phán quan Trần Tòng Ích (陳從益) xin đặt 5 đô thương ở Huệ, Tuần, Mai, Triều, khiến Khiên châu mộ hộ muối, nộp tiền cho 2 châu, đến 5 kho nhận muối, rồi trở về 2 châu buôn bán. Gọi là "biến muối lậu thành muối quan, đổi giặc cướp thành thương nhân đi lại". Triều đình bàn là khó, rốt cuộc dùng sách của Hoàng Bính, Thẩm Phù; nhưng mỗi năm chỉ tăng mua hơn 60 vạn cân.

Ngày Tân Tị, lấy Tri Kì châu Trương Điền (張田) làm Đề cử Hình ngục lộ Kinh Hồ Nam. Gián quan Tư Mã Quang hai lần dâng sớ nói Trương Điền là kẻ xu nịnh, hiểm độc, mỏng bạc, không thể giao cho chức Giám ty, liền đổi làm Tri Hồ châu.

Ngày Quý Mão, chiếu: Duyện quốc công chúa (兗國公主) vào nội, An châu Quan sát sứ, Phò mã đô úy Lý Vĩ (李瑋) làm Tri Vệ châu. Mẹ đẻ của Vĩ là Dương thị gả cho anh là Chương (璋), vú nuôi của Công chúa là Hàn thị ra ở ngoài, nhà Công chúa giao cho nội thần Lương Hoài Cát (梁懷吉) về Tiền tỉnh, các hạng người hầu hạ đều giải tán.

Sau khi Lương Hoài Cát và những người khác bị trách phạt, Công chúa oán hận, muốn tự vẫn, hoặc phóng hỏa đốt phủ, để buộc Hoàng đế phải triệu Hoài Cát và bọn hắn về, Hoàng đế bất đắc dĩ cũng phải triệu về. Gián quan Dương Điền, Tư Mã Quang, Cống Đỉnh Thần (龔鼎臣) và những người khác đều can gián, Hoàng đế không nghe. Nhưng Công chúa rốt cuộc vẫn ghét Lý Vĩ, không chịu vào Trung các nữa, dáng như cuồng loạn, nhiều lần muốn tự vẫn. Phi Miao Hiền (苗賢妃) cùng Dư Sung Nghi (俞充儀) mưu với nhau, sai nội thần Vương Vụ Tư (王務滋) quản câu phủ Phò mã để rình bắt lỗi của Vĩ. Vĩ vốn cẩn thận, Vụ Tư không bắt được lỗi, bèn bảo Miao, Dư: "Chỉ cần được thánh chỉ, Vụ Tư xin dùng một chén rượu mà giải quyết." Miao, Dư tâu với Hoàng đế, Hoàng đế không đáp. Chốc lát, Hoàng đế cùng Hoàng hậu ngồi chung, Dư lại tâu, Hoàng hậu nói: "Bệ hạ nhớ đến Chương Ý Thái hậu, nên Vĩ mới được lấy Công chúa, nay sao lại muốn làm việc này?" Đô tri Nhâm Thủ Trung (任守忠) ở bên nói: "Lời Hoàng hậu là phải." Mưu của Vụ Tư rốt cuộc không thi hành, rồi có chiếu như trên.

Quyền Thiểm Tây Chuyển vận phó sứ Tiết Hướng (薛向) tâu: "Quân Thiểm Tây, quân Thương, Cấm cộng 25 vạn người, trong đó già yếu, bệnh tật, kẻ mượn cớ khéo tay để trốn tránh, số ấy quá nửa, xin hạ lệnh các lộ, chọn những người không đủ sức đi đánh dẹp mà thải bỏ, ai dám mượn cớ khéo tay thì luận tội theo pháp." Chuẩn cho.

Tháng này, Liêu chúa đóng quân ở Nạp Cát Lạc (納葛濼).

Tháng 3, ngày Mậu Thân mồng 1, Khu mật sứ nước Liêu là Sở vương Tiêu Cách (蕭革) về trí sĩ. Cách nhờ nịnh hót mà kết được lòng chúa, ỷ quyền tham ô, hãm hại trung trực. Liêu chúa dần dần hiểu rõ gian tà của hắn, sủng ái ngày một suy, nên bãi chức, nhưng vẫn tiến phong làm Trịnh quốc vương.

Ngày Tân Hợi, chiếu Lễ bộ cử người thi.

Ngày Nhâm Tý, Duyện quốc công chúa bị giáng phong làm Nghi quốc công chúa (沂國公主), An châu Quan sát sứ Lý Vĩ làm Kiến châu Quan sát sứ, bãi chức Phò mã đô úy. Từ khi Công chúa vào cấm trung, anh của Vĩ là Chương dâng sớ nói: "Vĩ ngu độn, không đủ để nhận ân trời, xin ban cho ly tuyệt." Hoàng đế định cho. Tư Mã Quang lại nói: "Bệ hạ lúc đầu nhớ đến Chương Ý Thái hậu, nên cho Vĩ lấy Công chúa, muốn nhờ đó mà bền chặt thân thích, luôn quý trọng nhà ấy. Nay mẹ con Vĩ chia lìa, gia sự tan tác, lớn nhỏ sầu khổ, gần như không sống nổi, há phải là ý ban đầu của bệ hạ sao! Gần đây đến ngày kỵ Chương Ý Thái hậu, bệ hạ xem lại đồ vật cũ trong hòm, nhớ đến chỗ ở khi sinh tiền, há có thể không có nỗi buồn mưa móc, lòng bi thương sao! Vĩ đã bị giáng, Công chúa cũng không thể không có tội." Hoàng đế cảm ngộ, bèn cùng trách Công chúa, đãi nhà họ Lý ân lễ không giảm, lại ban cho Vĩ 200 lạng vàng, bảo rằng: "Phàm người phú quý, cũng không nhất thiết phải làm rể Công chúa vậy!"

Ngày Quý Sửu, Đại Tông chính ty tâu: Hữu vệ Đại tướng quân, Nhạc châu Đoàn luyện sứ Tông Thực xin trả lại cáo chỉ Tần châu Phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự, không cho.

Ngày Ất Mão, lấy Lễ bộ Thị lang, Tham tri chính sự Tôn Biện (孫抃) làm Quán Văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Đồng Quần mục chế trí sứ. Tôn Biện ở Lưỡng phủ, tuổi càng già, không có ý kiến phải trái, lại hay quên, người thích chuyện đàm tiếu đem truyền làm miệng lưỡi. Lúc ấy Khu mật sứ Trương Biện (張昪) xin nghỉ, triều nghị cho rằng Tôn Biện theo thứ tự sẽ bổ vào, ắt không đảm đương nổi; Điện trung thị ngự sử Hàn Chẩn nhân lúc được vào chầu, hết lời nói Tôn Biện bất tài, tuy không có lỗi rõ rệt, xin đặt ông ta vào chỗ tản chức, Giám sát ngự sử lý hành Phó Nghiêu Du (傅堯俞) cũng nói theo. Tôn Biện bèn lấy cớ bệnh xin miễn, được cho.

Lấy Khu mật phó sứ, Lễ bộ Thị lang Triệu Khái (趙概) làm Tham tri chính sự, Hàn lâm học sĩ, Quyền Tri Khai Phong phủ Ngô Khuê làm Hữu gián nghị đại phu, Khu mật phó sứ.

Ngày Bính Thìn, triệu Hữu chính ngôn, Tri Thái châu Vương Đào (王陶) vào Gián viện giữ chức. Vương Đào nói: "Thần cùng Đường Giới (唐介), Phạm Sư Đạo (范師道), Lữ Hối, Triệu Biện đều bị xuất tri châu, nay chỉ triệu thần và Sư Đạo, là không phải. Xin trả lại chức vụ cho Giới và những người khác." Lúc ấy Sư Đạo cũng từ Phúc châu được triệu làm Diêm thiết phó sứ, còn Hối, Biện và Giới đều chưa được thăng.

Ngày Đinh Tị, chiếu: "Thẩm hình viện tâu bổ Kinh triều quan, người lần đầu đến kỳ mài giám, từ nay phải có 1 người làm cử chủ, rồi mới cho đổi quan."

Ngày Canh Thân, lấy Long Đồ các Trực học sĩ kiêm Thị giảng Tiền Tượng Tiên (錢象先) làm Hữu gián nghị đại phu, Tri Thái châu. Tượng Tiên giỏi giảng giải, lời ít mà nghĩa rõ. Hoàng đế có điều hỏi, tất dựa theo kinh mà đáp, lặp đi lặp lại khuyên dụ, rồi nhân đó bàn đến việc đương thời, được gọi là người hiểu kinh thuật. Ông ở lại hầu Kinh diên trước sau 15 năm, thường được ân lễ. Theo lệ cũ, quan giảng chia ngày thay nhau vào giảng, Tượng Tiên đã xin bổ ra ngoài, Hoàng đế nói: "Đại phu sắp đi, hãy giảng cho xong một thiên." Thế là các đồng liêu thôi không vào giảng suốt mấy ngày.

Lấy Thiên Chương các Thị giảng, Sùng Văn viện Kiểm thảo Lữ Công Trứ làm Thiên Chương các Đãi chế kiêm Thị độc. Công Trứ ban đầu được triệu vào thi ở Trung thư, sắp được bổ làm Tri chế cáo, 3 lần từ chối không nhận, nên mới có mệnh này.

Ngày Tân Dậu, lệnh Tham tri chính sự Âu Dương Tu (歐陽修) Đề cử Tam quán, Bí các việc chép, hiệu đính sách.

Ngày Nhâm Thân, châu Từ tâu: ở địa phận Bạch Hạc hương, huyện Bành Thành sinh ra bột mì, cộng hơn 10 khoảnh, dân đều lấy ăn. Hoàng đế sai nội sứ Đậu Thừa Tú (竇承秀) đến xem. Thầy chiêm nói: "Đất sinh bột, dân sẽ đói." Sau đó châu Hào cũng tâu: ở huyện Chung Ly đất sinh bột, dân lấy ăn.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Ngọ, Tể thần Hàn Kỳ và những người khác dâng bộ "Gia Hựu biên sắc" đã tu sửa, bắt đầu từ năm Khánh Lịch thứ 4 đến năm Gia Hựu thứ 3, cộng 12 quyển. Những chiếu chỉ ban đầu chỉ hành ước thúc mà không lập hình danh, lại tách ra làm "Tục phụ lệnh sắc", cộng 5 quyển. Chiếu ban hành.

Ngày Kỷ Sửu, Hạ quốc chúa Lượng Tộ dâng biểu xin bản khắc đá chữ thảo, chữ lệ thơ do Thái Tông ngự chế, muốn dựng các thư để cất giữ, lại dâng 50 con ngựa, xin bộ "Cửu kinh", "Đường sử", "Sách phủ nguyên quy" và nghi lễ triều hạ chính, chí của bản triều. Chiếu ban "Cửu kinh", trả lại ngựa. Lượng Tộ lại xin được lấy Công chúa, chiếu đáp rằng trước đây đã từng ban họ, không cho.

Ngày Nhâm Thìn, đổi mệnh Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo kiêm Thị giảng Tư Mã Quang làm Thiên Chương các Đãi chế. Trước đó, Tư Mã Quang cùng Lữ Công Trứ đều được triệu vào thi ở Trung thư, Quang đã thi, còn Công Trứ thì rốt cuộc từ chối. Đến khi bổ làm Tri chế cáo, Quang bèn tự tâu: "Thần vụng về văn từ, vốn nên từ chối khi được triệu, ban đầu nghi triều đình không cho, nên cố gắng vâng mệnh, sau nghe Công Trứ rốt cuộc từ chối mà được chấp thuận, thần mới hối hận vì trước đây không từ chối mà vọng đoán triều đình sẽ không cho." Chương dâng 9 lần, rốt cuộc đổi sang chức khác.

Tháng 5, ngày Đinh Mùi mồng 1, lệnh Khởi cư xá nhân, Thiên Chương các Đãi chế kiêm Thị giảng Tư Mã Quang vẫn kiêm Tri Gián viện. Tư Mã Quang dâng sớ nói: "Bệ hạ có sự nghiêm cung của Trung Tông, sự cẩn thận nhỏ nhặt của Văn Vương, mà chính sự lớn nhỏ phần nhiều khiêm nhường, không quyết, giao cho thần hạ. Thật ra, nếu người được giao phó thường là trung hiền thì còn được, vạn nhất có kẻ gian tà ở trong đó, há chẳng nguy lắm sao! Cái gọi là ‘ủy nhiệm mà trách thành hiệu’ của người xưa, là chọn người mà giao cho chức nghiệp, những việc vụn vặt thì không thân tự làm, nhưng đến việc tước lộc, bãi bổ, giết sống, cho lấy, thì không thể không do chính mình quyết.

"Lại nữa, gần đây vì dùng binh ở Tây biên, tạm đặt Kinh lược An phủ sứ, một lộ binh được phép tùy nghi mà làm, đến khi việc Tây đã yên, lại nhân đó không bãi. Lộ Hà Đông, tổng cộng 22 châu quân, quyền của Tiết độ sứ ngày xưa cũng chỉ đến thế mà thôi."

Lại nói: "Đại thần coi các châu, phần nhiều ỷ vào quý mà kiêu, Chuyển vận sứ muốn chấn chỉnh chức nghiệp, thường cố ý trái nghịch mà không chịu theo. Bậc Tướng tướng đại thần, khi ở triều đình, thì Chuyển vận sứ về danh vị vốn cách xa; nhưng khi ra ngoài làm Tri châu, thì Chuyển vận sứ là người thống lĩnh chức vụ các châu, sao có thể lấy cái quý của một thân mà che lấp việc của một châu, khiến Chuyển vận sứ không thể quay chuyển được?"

"Từ niên hiệu Cảnh Hựu trở về sau, quốc gia vì lâu ngày yên ổn mà sinh lười biếng, thích theo lệ cũ mà lo giảm việc, những người chấp sự phần nhiều thi hành chính sách dung túng. Do đó, lại dịch ồn ào mà đuổi Ngự sử trung thừa, bọn xe kéo ngạo mạn mà bãi Tể tướng, vệ sĩ hung nghịch mà án không tra hết gian, những việc khác như một người tung tin đồn trên đường mà vì đó đổi lệnh, ban ân thì nhiều. Những điều ấy, há phải là cách để tập cho dân biết phận trên dưới đâu! Triều đình là khuôn mẫu của bốn phương; chính sự triều đình như thế, thì bốn phương ắt có chỗ còn quá hơn. Rốt cuộc đến chỗ Nguyên soái sợ Phó tướng, Phó tướng sợ Tướng hiệu, Tướng hiệu sợ sĩ tốt. Bọn thần gian tà, nhút nhát, hoặc giảm bớt việc dạy luyện, khiến họ kiêu lười; che chở kẻ già yếu, khiến họ đông đúc; uốn cong pháp chính, khiến họ phóng túng; chê bai lương bổng, khiến họ phẫn uất; lời ngọt, tiếng cười, không gì không làm, do đó sĩ tốt đều khen ngợi họ, mà đổ oán về trên vậy."

Thần ngu dại cho rằng bệ hạ nên phát huy chí khí cương kiện, tuyên dương đức thần minh,凡 mọi việc quần thần dâng tấu, đều phải xét xem là tà hay chính, phân biệt điều hay điều dở, hỏi kỹ, suy nghĩ sâu, cầu cho hợp với đạo, rồi sau đó mới thưởng phạt, bãi truất hay thăng tiến, quyết đoán mà thi hành, thì thiên hạ ai là người không khoan khoái vui mừng! Các việc dân sự còn lại, đều nên giao cho châu huyện, một mực căn cứ theo pháp luật mà quyết đoán; hoặc là pháp nặng tình nhẹ, tình nặng pháp nhẹ, có thể xử tử, có thể lưu đày, có thể tha, có thể xá, thì đều cho phép bản châu tâu trình, để triều đình quyết định, hà tất phải do Kinh lược an phủ sứ mà ra! Chức Chuyển vận sứ chỉ nên lo hoạch định, ban bố hiệu lệnh, thi hành xuống các châu; kẻ nào trái lệnh không theo, triều đình phải phân biệt phải trái. Nếu sự lý thực là có thể thi hành, mà châu tướng cậy thế cậy quý mà trái lệnh, thì nên trị tội châu tướng, chớ nên trị tội Chuyển vận sứ. Tướng hiệu, sĩ tốt đối với châu huyện và các quan thuộc quyền, hoặc đối với công khanh đại thần, mà có hành vi ngỗ nghịch vô lễ, thì phải ghi rõ phép tắc theo từng cấp bậc, để người xử đoán khỏi phải nghi ngờ. Quan tướng soái mà bỏ pháp trái đạo để lấy lòng kẻ dưới, đổ oán lên trên, thì nên tùy theo nặng nhẹ mà giết, đày, phế, bãi; còn kẻ công chính vô tư, thống ngự quân chúng nghiêm chỉnh, thì nên cân nhắc tài năng, cất nhắc dùng và ban thưởng. Làm như thế thì trên tuy có vất vả, nhưng kẻ dưới ắt sẽ hết lòng nghe lệnh vậy."

Lại nói: "Việc ăn mặc, tài hóa là việc cấp bách của thiên hạ, xin khôi phục đặt chức Tổng kế sứ, giao cho Tể tướng kiêm lãnh. Nếu kho tàng trống rỗng, dân gian trong ngõ xóm sầu khổ, dân bốn phương lưu ly chết chóc, mà lại nói rằng ta có thể luận đạo trị nước, điều hòa âm dương, thì đó không phải điều kẻ ngu thần này có thể hiểu nổi vậy!"

Ngày Kỷ Dậu, Long đồ các trực học sĩ, Lại bộ viên ngoại lang kiêm Thị giảng, Tri Gián viện Dương Điền (楊畋) mất, truy tặng Hữu gián nghị đại phu. Điền vốn cẩn trọng, kính sợ, mỗi lần dâng tấu, tất phải mở phong xem đi xem lại vài lần rồi mới trình lên. Tự mình rất đỗi thanh đạm, đến khi mất, trong nhà không còn dư tài sản. Đặc biệt ban cho 200 lạng vàng; sau đó đến tiết Đoan Ngọ, ban quạt có chữ ngự bút lối Phi bạch cho các quan Giảng đọc, cũng sai sứ đặc biệt ban cho, đặt ngay tại chỗ quàn linh cữu.

Ngày Kỷ Mùi, lấy Tri Kinh Nam phủ Lý Tham (李參) làm Quần mục sứ. Lúc đầu, các quan chấp chính bàn định muốn dùng Tham làm Tam ty sứ, riêng Tôn Biện (孫抃) không đồng ý, nói: "Người này nếu nắm việc tài chính, thì Ngoại đài sẽ đua nhau đón ý mà hà khắc bóc lột, khiến thiên hạ càng thêm khốn khổ tàn tệ." Vì thế rốt cuộc không dùng.

Ngày Canh Thân, Đại tông chính ty tâu rằng Hữu vệ đại tướng quân, Nhạc châu đoàn luyện sứ Tông Thực (宗實) trả lại chiếu chỉ phong Tần châu phòng ngự sứ, Tri Tông chính sự; chiếu không cho.

Ngày Canh Ngọ, Khu mật phó sứ, Cấp sự trung Bao Chửng (包拯) mất, truy tặng Lễ bộ Thượng thư, thụy là Hiếu Túc. Chửng tính tình cương trực, đứng trong triều thì cứng cỏi quả quyết, người ta nói nụ cười của ông còn khó hơn nước Hoàng Hà trong. Khi làm Tri Khai Phong phủ, kinh sư có câu nói: "Quan hệ không thông, thì có Diêm La Bao lão." Tuy vậy, tấu nghị của ông luôn công bằng, chính trực, thường ghét bọn lại dịch tham dục, hà khắc, mà chủ trương làm cho phong tục thêm đôn hậu; tuy rất căm ghét điều ác, nhưng chưa từng không lấy lòng trung và sự khoan thứ mà suy xét. Ngày thường không có thư từ riêng tư, cố nhân thân thuộc có việc cầu cạnh, ông đều cự tuyệt cả. Ở nhà thì tiết kiệm, giản dị, y phục, đồ dùng, ăn uống, tuy địa vị tôn quý mà vẫn như lúc còn là thứ dân.

Tháng 6, ngày Bính Tý mồng 1, Tuế tinh hiện ra ban ngày.

Liêu chúa đóng quân ở Đồ Khố Lý.

Ngày Quý Mùi, lấy Đơn châu đoàn luyện sứ Lưu Vĩnh Niên (劉永年) làm Tri Đại châu.

Người Liêu lấy gỗ núi, chất đống dài hơn 10 dặm, xe chở nối nhau trên đường; viên thủ trước đó sợ sinh chuyện, không dám ngăn cản. Vĩnh Niên nói: "Quân địch chặt gỗ trong cõi ta mà không trị, thì ngày sau sẽ không thể chế ngự được nữa." Bèn sai người phóng hỏa, một đêm thiêu sạch; tâu việc ấy lên, Hoàng đế khen là phải. Nước Liêu gửi văn thư sang Đại châu, đòi bắt bọn trộm phóng hỏa, Vĩnh Niên trả lời: "Giặc vốn có tội; nhưng ở trong cõi ta, thì can hệ gì đến các ngươi!" Bọn họ bèn không dám nói nữa.

Kinh lược ty Phu Diên tâu: "Nhận được công văn của Hựu châu, nước Hạ đổi Tây thị giám quân ty thành Bảo Thái quân, Uy châu giám quân ty thành Tĩnh Tái quân, Tùy châu giám quân ty thành Tường Hựu quân, Tả xưởng giám quân ty thành Thần Dũng quân." Lại tâu rằng: "Lượng Tộ gần đây trong mọi việc làm, phần nhiều không theo quy củ cũ, e rằng sẽ càng lấn lướt, mô phỏng danh hiệu của triều đình. Thói ấy không thể để kéo dài, xin chọn một tài thần, hạ chiếu tra hỏi, để chặn mầm gian." Chiếu theo lời.

Bèn sai Cung bị khố phó sứ Trương Tông Đạo (張宗道) mang lễ vật mừng sinh nhật Lượng Tộ. Lúc Tông Đạo mới vào cõi, người ra nghênh tiếp đến nơi, muốn cho Tông Đạo đi ngựa sau, đến khi vào chỗ ngồi, lại muốn ngồi phía đông, Tông Đạo kiên quyết tranh. Người nghênh tiếp nói: "Chủ nhân ngồi bên trái, đó là lẽ thường trong lễ, Thiên sứ sao còn nghi ngờ!" Tông Đạo nói: "Tông Đạo cùng Hạ chủ vai kề vai mà phụng sự Hoàng đế, nếu Hạ chủ tự đến, thì mới là chủ khách. Ngươi là bề tôi hầu cận, sao có thể làm chủ nhân! Phải theo lệ cũ, Tông Đạo ngồi ở trên." Tranh cãi lâu mà không quyết, người nghênh tiếp nói: "Ngài có mấy cái đầu mà dám như thế!" Tông Đạo cười lớn nói: "Tông Đạo chỉ có một cái đầu, ngày mai đã từ biệt gia nhân rồi. Nay nếu muốn lấy đầu Tông Đạo thì cứ lấy, Tông Đạo chết cũng là chết đúng chỗ, chỉ e nước Hạ không dám đó thôi." Người nghênh tiếp nói: "Người phiên dịch lỡ lời, ta chỉ tự nói mình không có hai cái đầu mà thôi." Tông Đạo nói: "Phiên dịch lỡ lời, sao không chém phiên dịch!" Thế là cho Tông Đạo ngồi trước. Người nghênh tiếp nói: "Tình giao hảo giữa hai nước, như cá với nước vậy." Tông Đạo nói: "Đúng thế. Thiên triều là nước, nước Hạ là cá. Nước có thể không có cá, cá không thể không có nước."

Ngày Đinh Hợi, Bí các dâng việc bổ chép lại sách ngự lãm.

Trước đó, Âu Dương Tu (歐陽修) tâu rằng: "Bí các lúc đầu là kho tàng sách của Thái Tông, đều dùng lụa vàng để đóng bìa, gọi là bản Thái Thanh. Sau vì vời vào nội đình, phần nhiều lưu lại trong cấm trung, mà sách bị thiếu hụt khá nhiều. Xin ban các bản cũ, cho chép bổ lại." Bèn hạ chiếu cho các nội thần quản câu Long đồ, Thiên chương, Bảo văn các, Thái Thanh lâu, kiểm kê những sách bị thiếu, ghi chép tâu lên, để ở Môn hạ tỉnh chép bổ. Đến đây dâng xong, ban cho Phán Bí các Phạm Trấn (范鎮) và các quan quản câu việc chép bổ bạc và lụa, mỗi người mỗi mức khác nhau.

Ngày Tân Sửu, nước Liêu lấy Hữu Y Lặc Hy Ba Mã Lục (右伊勒希巴瑪陸) làm Đại vương Lục bộ Khiết.

Tháng này, Liêu chúa ngự điện Thanh Lương, cho tiến sĩ Vương Đỉnh (王鼎) đỗ thứ 93.

Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thân, sao Thái Bạch vạch ngang trời.

Ngày Nhâm Tý, Thái thường lễ viện tâu: "Niên hiệu Hoàng Hựu dùng xen lẫn vị trí Bách thần ở Nam giao, không hợp với pháp tế tự. Nên theo chế cũ nhà Tùy, nhà Đường, đặt Hạo Thiên Thượng Đế, Ngũ phương vị, lấy Chân Tông phối hưởng, còn Ngũ nhân đế, Ngũ quan thần thì theo thờ, những vị khác đều bỏ. Lại nữa, ngày trước một ngày, thân ngự tế Thái miếu, khi ấy từng đình việc dâng lễ mùa đông tháng 10. Khảo xét điển lễ, việc tế thường kỳ ở Tông miếu, chưa từng vì lễ Nghiêm phối mà bỏ. Nay từ Minh đường đến ngày định lễ tháng 10 còn xa, xin phục lại việc dâng lễ ở miếu. Trước đây, Tổ tông đều cùng phối, nay theo điển chỉ một mình phối; trước đây Địa kỳ, Thần châu đều được hưởng, nay vì phối trời mà cũng bỏ. Đó đều là những thay đổi lớn trong lễ chế. Hai bộ Lễ Khai Nguyên, Khai Bảo, Ngũ đế không có nghi thức thân hiến. Lễ cũ là trước đến Hạo Thiên dâng lễ, Ngũ đế cùng làm lễ phân hiến, do thị thần dâng tơ lụa, Hoàng đế lạy 2 lần, rồi tiếp đến chỗ ngự của thần vị Chân Tông, như thế mới hợp lễ." Chiếu kính cẩn làm theo, mà Ngũ phương đế cũng được thân hiến.

Ngày Giáp Dần, Quảng Tây Chuyển vận sứ Lý Sư Trung (李師中), Chuyển vận phán quan Lưu Mục (劉牧), mỗi người bị phạt 20 cân đồng. Trước đó, Lĩnh Nam có nhiều đất hoang, cỏ tranh cỏ gian mọc rậm, tích tụ hơi độc. Sư Trung chiêu mộ dân khai khẩn ruộng đất, huyện lập sổ sách, hẹn vĩnh viễn không thu thuế, ai trồng được đến 30 khoảnh thì làm Điền chính, miễn sưu dịch. Nhờ đó đất đai dần được khai phá, hơi độc giảm bớt. Nhưng Sư Trung và Mục vì tội tự tiện miễn thuế mà không tâu, nên bị phạt.

Ngày Giáp Tý, lấy Tri Khiên châu Triệu Biện (趙抃) làm Lễ bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự.

Ngày Đinh Mão, Hữu vệ đại tướng quân, Nhạc châu đoàn luyện sứ Tông Thực xin từ chức Tần châu phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự, không cho.

Tháng này, Hữu chính ngôn Vương Đào (王陶) dâng sớ rằng: "Năm ngoái bệ hạ thân ban đức âm, khảo theo chuyện cũ nhà Đường, chọn tông tử cho biết Tông chính tự. Trong ngoài nghe tin, đều cho rằng việc làm này đặt ra ổn thỏa, không làm kinh động tai mắt, mà lòng người thiên hạ đang chao đảo bỗng chốc yên định. Về sau dần nghe việc bị trì hoãn, bốn phương trông ngóng, há tránh khỏi lo nghi! Lời đồn hoặc trách Tông Thực, cho rằng từ đời Đường đến nay, người phán Tông chính tự đều dùng tông tử, xét trong điển cố, đó chỉ là một lần điều bổ thông thường, hà tất phải quá lời từ chối. Hoặc có người nói việc do cung trung tần phi, hoạn quan vì chiều chuộng mà nói, khiến thánh ý vì thế hơi bị mê hoặc. Thần nghe Tông Thực từ khi có mệnh này đến nay, sớm tối sợ hãi, đóng cửa không dám gặp người. Từ khi mãn tang tháng 2 đến nay đã hơn nửa năm. Thần e rằng người thiên hạ sẽ nói bệ hạ lúc đầu thuận theo lòng trời, ý người mà phong mệnh cho ông ta, nay lại nghe lời chiều chuộng của kẻ tả hữu mà sinh nghi, không chỉ trăm đời sau khiến người ta than tiếc vì chính sự của thánh nhân đầu cuối không nhất quán, mà còn e từ nay về sau, kẻ gian hùng xa gần trong ngoài sẽ nhân đó mà rình mò khe hở vậy." Nhân đó xin được vào chầu, nói rõ rằng cung tần, hoạn quan có điều làm mê hoặc thánh thính, khiến Tông Thực sợ hãi tránh né không dám vào. Hoàng đế hỏi Đào: "Muốn ban cho một tên gọi khác, thì thế nào?" Đào đáp: "Đây chỉ là một tên gọi của một lần điều bổ, xin giao cho các đại thần chấp chính bàn định." Hoàng đế nói: "Sẽ ban cho một tên gọi khác." Từ đó Hàn Kỳ (韓琦) và những người khác mới có bàn luận lập làm Hoàng tử.

Tháng 8, ngày Ất Hợi mồng 1, trong nội đình đưa ra các khúc nhạc chương Minh đường nghênh thần, tống thần, đem hỏi Thái thường vì còn nghi.

Ngày Bính Tý, Hữu vệ đại tướng quân, Nhạc châu đoàn luyện sứ Tông Thực xin từ chức Tần châu phòng ngự sứ, Tri Tông chính tự, được cho phép.

Lúc đầu, Tông Thực nhiều lần xin trả lại chiếu chỉ, Hoàng đế bảo Hàn Kỳ: "Ông ta đã như thế, sao không tạm thôi đi?" Kỳ nói: "Việc này sao có thể bỏ dở! Xin bệ hạ ban cho một tờ thủ trát, để ông ta biết là xuất phát từ thánh ý, ắt không dám từ chối." Đến khi sai sứ triệu vào, ông ta lấy cớ bệnh không vào. Kỳ cùng Âu Dương Tu riêng bàn rằng: "Mệnh Tông chính đã ban, người ngoài đều biết ắt sẽ lập làm Hoàng tử, chi bằng cứ chính danh cho rồi." Tu nói: "Chiếu chỉ phong Tri Tông chính tự giao cho Các môn, còn có thể không nhận; nay lập làm Hoàng tử, chỉ dùng một tờ chiếu, việc sẽ định." Bèn vào chầu, xin cho Tông Thực được từ chức đã bổ. Hoàng đế nói: "Chớ đặt tên gọi khác nữa, cứ lập làm Hoàng tử, trước lễ Minh đường thì mau chóng làm xong." Kỳ nhân đó xin báo cho Khu mật viện. Đến khi Trương Nhật (張曰) vào, Hoàng đế mặt đối mặt bảo ông ta, Nhật nói: "Bệ hạ không nghi ngờ chứ?" Hoàng đế nói: "Trẫm muốn lòng dân trước có chỗ quy thuộc, chỉ cần mang họ Triệu là được." Nhật bèn lạy 2 lần chúc mừng. Kỳ và những người khác xin Hoàng đế viết thủ trát ban ra ngoài để thi hành. Vừa lui ra, các phụ thần còn chưa kịp chia về các nha môn, thì nội thần đã truyền thủ trát đến Trung thư.

Ngày Đinh Sửu, Kỳ triệu Hàn lâm học sĩ Vương Khuê (王珪), lệnh thảo chiếu, Khuê nói: "Đây là việc lớn, không thể không đích thân nhận chỉ." Hôm sau, xin được vào chầu, nói: "Thiên hạ trông đợi việc này đã lâu, quả là xuất phát từ thánh ý chăng?" Hoàng đế nói: "Ý trẫm đã quyết." Khuê lạy 2 lần chúc mừng, rồi lui ra thảo chiếu. Âu Dương Tu than rằng: "Thật là học sĩ vậy!"

Ngày Kỷ Mão, chiếu rằng: "Đạo người lấy thân thân làm đầu, đó là việc bậc vương giả phải lo trước. Hữu vệ đại tướng quân, Nhạc châu đoàn luyện sứ Tông Thực, là con của Hoàng huynh Bộc An Ý vương, cũng như con của trẫm vậy, từ nhỏ được nuôi trong cung, thông minh, nhân từ, hiền đức, đã thấy rõ từ sớm. Ngày trước chọn tông tử gần gũi, mệnh cho coi việc Tông chính, sứ giả nhiều lần đến nhà, mà ông ta càng giữ lòng khiêm nhường, lâu không nhận mệnh, trẫm ngầm khen vậy. Đạo lập ái, bắt đầu từ người thân, nay phong làm Hoàng tử." Ngày Tân Tị, Hoàng đế triệu toàn thể tông thất vào cung, bảo cho biết ý lập Hoàng tử.

Ngày Nhâm Ngọ, chiếu cho Nội thị tỉnh Hoàng thành ty, lập Hoàng tử vị ở phía tây kho Hương dược trong nội. Ngày Quý Mùi, ban tên cho Hoàng tử là Thự (曙).

Thủ lĩnh Miểu Xuyên là Gia Lặc Tư Lại (嘉勒斯賚) đã già, mọi việc trong nước đều giao cho con là Đống Tiển (棟戩), Tri Tần châu Trương Phương Bình (張方平) từng dụ Đống Tiển vào cống, hứa tâu phong làm Phòng ngự sứ, Đống Tiển liền sai sứ vào cống. Tri tạp Ngự sử Ngô Trung Phục (吳中復) hặc tâu Phương Bình tự tiện lấy quan tước hứa cho rợ Địch, khơi dậy lòng tham của chúng, nên nghị của Phương Bình rốt cuộc không thi hành.

Trước đó, nước Liêu gả con gái cho Đống Tiển, cùng mưu với y đánh nước Hạ, Hạ chủ Lượng Tộ giao chiến, nhiều lần bị y đánh bại. Đến đây Lượng Tộ đem quân đánh Đống Tiển, đóng ở Cổ Vị châu, các thục hộ, Điện trưởng đều sợ, vội xin Phương Bình cầu cứu. Phương Bình sợ, sửa sang lầu gác, làm chuẩn bị giữ thành, kê hết ngựa các huyện, phát hết quân dưới quyền. Cuối niên hiệu Hoàng Hựu, thục hộ Cổ Vị châu làm phản, tăng quân đồn trú Tần châu rất nhiều, việc yên, Văn Ngạn Bác (文彥博) đều chia quân đóng ở 3 lộ Vĩnh Hưng, Kinh Nguyên, Hoàn Khánh, hẹn khi có báo động thì triệu về, để tiết kiệm cỏ rơm, gọi là Hạ phiên binh. Đến đây Phương Bình mới phát số quân ấy, vùng Quan Tây chấn động, lại dùng trạm dịch tâu xin phát 10 đô cấm quân Kinh Kỳ đến bản lộ. Khu mật sứ Trương Nhật tâu với Hoàng đế rằng: "Thần trước đây ở Tần châu, người biên giới nói Tây Nhung muốn vào cướp rất nhiều, nhưng sau đều không có việc thật. Nay việc còn chưa rõ, mà phát quân Kinh Kỳ đến đó, kinh động xa gần, không phải kế, xin hãy chờ." Hoàng đế theo lời. Vài ngày sau, Phương Bình lại tâu Lượng Tộ đã kéo quân về phía tây đánh Đống Tiển rồi. Lượng Tộ chẳng bao lâu lại bị Đống Tiển đánh bại, xây đồn bên cạnh Cổ Vị châu rồi rút.

Gián quan Tư Mã Quang (司馬光) nhân đó hặc tâu Phương Bình nhút nhát, khinh suất động binh, xin giáng đày. Tể tướng Tăng Công Lượng (曾公亮) một mình bênh vực Phương Bình, bèn tâu rằng: "Quân chưa ra khỏi ải, sao gọi là khinh suất động binh? Vả lại, giặc sở dĩ không vào được, là vì có phòng bị. Có phòng bị mà giặc không đến, lại lấy tội khinh suất mà trách, thì từ nay biên thần sẽ không dám chuẩn bị trước nữa." Quang dâng sớ đến 3 lần. Ngày Giáp Thân, dời Phương Bình làm Tri Ứng Thiên phủ.

Ngày Ất Dậu, chiếu cho Thái thường tự khi đăng ca dùng trúc, ngô, theo lời Hàn lâm học sĩ Vương Khuê.

Ngày Tân Mão, lấy Tư phong lang trung người Giang Nam là Lý Thụ (李受) làm bạn đọc ở Hoàng tử vị, đổi bạn đọc Tông chính tự là Vương Liệp (王獵) làm Thuyết thư ở Hoàng tử vị.

Ngày Nhâm Thìn, chiếu tạm dùng nha môn Hoàng thành ty làm Hoàng tử vị. Bèn lệnh cho Nội cao ban Vương Trung Khánh (王中慶), Lương Đức Chính (梁德政) điều xe cộ, thuyền phà, hành lý vào nội. Hoàng đế đã hạ chiếu ngày Kỷ Mão, mà Hoàng tử vẫn cố nằm, lấy cớ bệnh không vào. Tư Mã Quang, Vương Đào và những người khác tâu rằng: "Phàm người ta thấy chút lợi nhỏ, còn tranh đoạt nhau. Nay Hoàng tử từ chối không nhận phú quý, đã hơn 300 ngày không nhận mệnh, thì hơn người rất xa. Người có hiểu biết nghe chuyện này, đủ để biết bệ hạ là bậc thánh, có thể vì thiên hạ mà được người. Nhưng thần nghe rằng cha gọi thì không được đáp ‘vâng’, vua gọi thì không đợi xe giá mà phải đi, sứ giả nhận mệnh thì không nhận lời từ chối; Hoàng tử không nên tránh nhường, sứ giả không nên về tay không. Phàm các nội thần mang chiếu đến Hoàng tử, đều xin trách phạt, và nên lấy đại nghĩa làm thần làm con mà trách Hoàng tử, ắt sẽ vào." Hoàng đế cùng các phụ thần bàn, Hàn Kỳ nói: "Nay đã là con của bệ hạ, còn có gì cách trở! Xin lệnh cho tộc thuộc trong bản cung hết lòng khuyên bảo, lại chọn nội nhân thân tín đến truyền ý chỉ, ông ta ắt không dám trái."

Ngày Đinh Dậu, ban cho Hoàng tử áo khoác, đai vàng, bạc và lụa, mỗi thứ 1.000. Chiếu cho Đăng châu phòng ngự sứ, Đồng phán Đại tông chính sự Tòng Cổ (從古), Di châu phòng ngự sứ, Quắc quốc công Tông Ngạc (宗諤) hết lòng khuyên bảo Hoàng tử, lại cùng với các tướng quân từ bậc Đại tướng quân ở phủ Nhuận vương trở lên cùng vào nội, nếu Hoàng tử nói là bệnh, thì lập tức khiêng lên kiệu. Ngày Kỷ Hợi, Tòng Cổ và những người khác tâu rằng Hoàng tử vẫn cố nói bệnh. Đêm ấy, sứ giả đi lại mấy phen, ở lại ngoài cấm môn đến canh tư, Hoàng tử rốt cuộc không đến, bèn chiếu đổi chọn ngày khác.

Ngày Canh Tý, lấy việc lập Hoàng tử cáo với Trời Đất, Tông miếu và các lăng.

Ngày Tân Sửu, Hoàng tử ngồi kiệu vào nội. Trước đó, Tông Ngạc trách Hoàng tử rằng: "Ngài làm tôi con, há có thể cứng cỏi chống lại mệnh vua, mệnh cha mà rốt cuộc không nhận sao? Tôi không phải không thể cùng mọi người bắt ngài, cưỡng bức đặt ngài lên kiệu, chỉ e khiến ngài mất hẳn nghĩa làm bề tôi, làm con, rơi vào tiếng xấu đó thôi!"

Lúc đầu Hoàng tử từ chối chức Tông chính, cùng với Ký thất Chu Mạnh Dương (周孟陽) bàn mưu, các biểu tâu đều do bút của Mạnh Dương, mỗi lần một tờ biểu, Hoàng tử biếu Mạnh Dương 10 lạng vàng. Mạnh Dương từ chối, Hoàng tử nói: "Đó chưa đủ để tạ ơn, đợi khi ta xin được với triều đình, mới nên trọng thưởng." Tổng cộng 18 tờ biểu, Mạnh Dương được hơn 1.000 quan. Đến khi lập làm Hoàng tử, vẫn cố nói bệnh. Mạnh Dương vào gặp trong buồng, nói: "Quan gia xét rõ đức hạnh của Thái úy, lại có sự giúp đỡ của trời và người, nên mới ban đức âm, mà Thái úy lại một mình nói bệnh, cố nằm. Nghĩa lý ở đâu?" Hoàng tử nói: "Không dám cầu phúc, là để tránh họa đó thôi." Mạnh Dương nói: "Nay đã có dấu vết như thế, giả sử cố từ chối không nhận, khiến bọn nội thần tâu điều khác, thì có thể được yên ổn vô sự chăng?" Hoàng tử vỗ giường mà ngồi dậy, nói: "Ta nghĩ chưa tới đó." Bèn cùng Tông Ngạc và những người khác cùng vào nội, người hầu kẻ hạ không đầy 30 người, hành lý tiêu điều, không khác gì hàn sĩ, chỉ có mấy tủ sách mà thôi.

Ngày Giáp Thìn, Hoàng tử yết kiến Hoàng đế ở điện Thanh Cư. Từ đó, mỗi ngày 2 lần vào chầu ở cửa Đông nội, hoặc vào hầu trong cấm trung.

Tháng 9, ngày Ất Tị mồng 1, lấy Hoàng tử làm Phòng ngự sứ Tề châu, tiến phong làm Cự Lộc quận công.

Ngày Kỷ Dậu, triều hưởng Cảnh Linh cung. Ngày Canh Tuất, hưởng Thái miếu. Ngày Tân Hợi, đại hưởng Minh đường, đại xá. Lệnh cho thiên hạ các chùa quán có nhà thuộc hệ sổ sách, và trong quản hạt 4 kinh, tuy không thuộc hệ sổ sách mà có nhà từ 100 gian trở lên, đều đặc biệt ban tên hiệu. Gián quan Tư Mã Quang tâu rằng: "Giáo lý Phật, Lão không có ích cho việc trị thế, mà chỉ tụ tập bọn lười biếng, hao tổn, đục khoét lương dân, nên triều đình đã có điều lệ, hễ ai dựng chùa quán từ 100 gian trở lên, cho phép người ta tố cáo, xử tội trái chế, lại lập tức phá bỏ. Ấy là vì phong tục ngu độn, tệ cũ đã sâu, không thể trừ ngay, nên đặt ra hạn chế, không cho sinh sôi thêm mà thôi. Nay nếu có kẻ công nhiên trái pháp lệnh, tự tiện dựng chùa quán từ 100 gian trở lên, thì tội đã rất lớn. May gặp ân xá, miễn tội đã là đủ, còn nhà cửa, ngói gỗ vẫn nên phá bỏ, sung công cho huyện. Nay đã không phá, lại rõ ràng ban chiếu ân, ban cho tên đẹp, tức là khuyến khích họ. Nay lập pháp để cấm trước, mà phát chiếu xá để khuyến sau, e rằng từ nay về sau, kẻ gian xảo sẽ không còn coi pháp lệnh ra gì, dựa vào giáo lý Phật, Lão để lừa dối dân ngu, gom góp tài sản, mở rộng xây chùa quán, cố cho đủ 100 gian, mong chờ ân xá về sau, thì không thể cấm được nữa. Cúi xin thu hồi mệnh trước, không thi hành nữa."

Lúc đầu, Hoàng đế tế Minh đường, đang lúc trai giới, thì Sung viên Đổng thị (董氏) bệnh nguy kịch, sai người nói với Hoàng hậu rằng: "Thiếp chẳng may sắp chết, xin đừng vội tâu, để khỏi làm rối loạn tâm ý trai giới của Quan gia." Hoàng hậu rơi lệ mà nghe theo. Ngày Nhâm Tý, Hoàng đế đến viếng, rất thương xót, truy tặng làm Uyển nghi; ngày Quý Sửu, lại gia tặng làm Thục phi, đặc biệt thăng cha nàng từ Hữu thị cấm tư lên Nội điện sùng ban, phong quan cho 4 người em trai, cháu trai, táng ở Phụng Tiên Tư Phúc viện. Sau lại lệnh hữu ty định thụy và làm lễ sách phong cho nàng, đến ngày táng vẫn cấp đủ lỗ bộ. Tư Mã Quang tâu rằng: "Xưa đàn bà không có thụy, gần đây chỉ có Hoàng hậu mới có thụy và việc thêm sách mệnh. Lỗ bộ vốn là để thưởng công quân sĩ, chưa từng dùng cho phụ nữ. Cúi xin đặc chiếu cho hữu ty, bãi hết việc bàn định thụy hiệu và lễ sách phong, đến ngày táng cũng không cấp lỗ bộ, mọi việc tang lễ đều nên giảm bớt." Hoàng đế vui lòng nghe theo.

Ngày Kỷ Mùi, quan trong ngoài đều nhờ chiếu xá Minh đường mà được gia ân, Tể tướng Hàn Kỳ được phong Nghi quốc công.

Ngày Mậu Thìn, đổi Thọ Tinh quán thành Sùng Tiên quán.

Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Hợi, Hoàng tử dâng biểu từ chức đã bổ, chiếu không cho.

Ngày Giáp Ngọ, lệnh Tri chế cáo Vương An Thạch (王安石) cùng quản đương Tam ban viện. Trước đó, An Thạch làm chức Cửu sát tại kinh hình ngục, có một thiếu niên được con chim cút chọi, bạn bè xin, không cho, cậy thân mật, liền tự tiện mang đi, thiếu niên đuổi theo giết chết. Khai Phong phủ xét tội người ấy đáng chết. An Thạch bác lại rằng: "Theo luật, công lấy, trộm lấy đều là trộm; nay người này không cho, mà kẻ kia cưỡng mang đi, ấy là trộm. Đuổi theo mà đánh chết, ấy là bắt trộm. Tuy chết cũng không nên luận tội." Bèn hặc phủ ty xử sai, quan phủ không phục. Việc đưa xuống Thẩm hình, Đại lý, đều cho rằng phán quyết của phủ là đúng, chiếu tha tội cho An Thạch. Chế độ cũ, người được tha tội đều phải đến cửa khuyết tạ ơn, An Thạch nói mình không có tội, không chịu tạ; Ngự sử đài dâng tấu hặc, rồi thôi không hỏi nữa.

Lấy Bí các hiệu lý Thái Kháng (蔡抗) làm Quảng Đông Chuyển vận sứ. Trước đó, mỏ đồng ở Tầm Thủy khai thác rất nhiều, quan mua của dân, chỉ cấp văn khống, nợ tích lại đến hàng triệu. Kẻ gian không có chỗ lấy vốn, bèn tụ tập đúc trộm, hợp với bọn trộm muối ở Giang Tây, châu huyện rất khổ vì chúng, thúc ép bắt bớ rất nghiêm. Kháng nói: "Những người đào đồng đều là bọn lười biếng, chơi bời, đồng đều vào tay quan mà không trả tiền, nếu không đúc trộm, thì lấy gì mà ăn mặc! Lại còn bắt tội họ, ấy là giăng lưới hại dân." Bèn lệnh hễ đồng vào là trả tiền ngay, dân đều vui lòng nộp, việc đúc trộm dứt hẳn. Muối ở Phiên Ngu mỗi năm vận cấp cho Anh, Thiều 2 châu, đường xa, thường bị xâm lấn, trộn lẫn tạp ác. Kháng lệnh 10 thuyền làm một chuyến vận, chọn quan kiêm nhiệm trông coi, cuối năm xét công tội. Năm ấy, thuế muối tăng thêm 15 vạn quan.

Ngày Ất Mùi, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày. Ngày Bính Thân, chiếu rằng: "Thường bình thương ở thiên hạ phần nhiều bị điều động dùng vào việc khác, nên không đủ để chống đỡ năm mất mùa, lệnh Nội tàng khố cùng Tam ty cùng chi ra 100 vạn quan tiền, giao cho các lộ mua thóc trợ cấp." Theo lời xin của Hữu chính ngôn, Phán Ty Nông tự Vương Đào.

Tháng 11, ngày Kỷ Tị, tiến phong Ngụy quốc công chúa làm Kỳ quốc công chúa, Kiến châu quan sát sứ, Tri Vệ châu Lý Vĩ (李瑋) đổi làm An châu quan sát sứ, lại phong làm Phò mã đô úy.

Tháng 12, lính tuần Hoàng thành ty là Ngô Thanh (吳清) và những người khác mật tâu phú nhân Trương Văn Chính (張文政) từng giết người, hữu ty tra hỏi không ra, xin cho Thanh được tra hỏi đến cùng, mà người chủ việc không cho đi. Ngự sử Phó Nghiêu Du (傅堯俞) tâu rằng: "Bệ hạ tiếc Ngô Thanh, e rằng từ nay về sau sẽ không còn nghe được việc ngoài nữa. Chi bằng giao cho hữu ty, phân biệt phải trái mà thưởng phạt, thì những việc tâu lên đều là thật, đó là cách để mở rộng tai mắt vậy." Gián quan Tư Mã Quang và những người khác cũng hết lời nói rõ cái hại. Chiếu đánh roi Ngô Thanh và đồng bọn, đày xuống hạ quân.

Tri Khu mật Bắc viện sự Tiêu Đồ Cố Lý (蕭圖固哩) nước Liêu là người lanh lợi, giỏi xem sắc mặt, ứng đối hợp ý Liêu chúa. Thái hậu từng nói: "Có việc lớn, không phải Đồ Cố Lý thì không quyết được." Vì thế được sủng ái ngày càng sâu. Ngày Canh Thìn, phong làm Bắc viện Khu mật sứ, cho phép tùy nghi làm việc. Đồ Cố Lý ham vơ vét, chuyên đoán, thay đổi pháp độ. Khi ấy Hoàng Thái thúc Trọng Nguyên (重元) có chí khác, Đồ Cố Lý làm Khu mật mấy tháng, những người y tiến cử phần nhiều là đảng của Trọng Nguyên, gian nịnh như thế đó.

Ngày Quý Mùi, Liêu chúa đi Tây kinh.

Ngày Mậu Tý, Liêu Thái hậu làm lễ Tái sinh, đặc xá tù nhân ở Tây kinh.

Ngày Bính Thân, Hoàng đế ngự Long đồ, Thiên chương các, triệu các phụ thần, cận thần, Tam ty phó sứ, Đài gián quan, Hoàng tử, tông thất, Phò mã đô úy, Chủ binh quan đến xem bút tích của Tổ tông. Lại ngự Bảo văn các, viết chữ Phi bạch, chia ban cho các quan theo hầu, dưới đến các quan ở các các. Làm bài "Quan thư thi", Hàn Kỳ và những người khác họa vần. Rồi yến ở điện Quần Ngọc. Truyền chiếu cho học sĩ Vương Khuê soạn tự cho bài thơ, khắc đá ở trong các.

Ngày Canh Tý, lại triệu quần thần đến Thiên chương các xem điềm lành, lại yến ở điện Quần Ngọc. Hoàng đế nói: "Thiên hạ lâu nay vô sự, niềm vui hôm nay, cùng các khanh chia sẻ, nên uống say chớ từ chối." Ban hoa trong cấm trung, mâm vàng, hương dược. Lại triệu Hàn Kỳ đến trước ngự sàng, riêng ban cho một chén rượu. Các quan theo hầu đều say, đến chiều mới tan.

Năm ấy, mùa đông không có băng. Thiên hạ xử án đại biện (tử hình) 1.683 người.

Hết chương 59

Chương sauQuyển 61

Đọc chương 60 →

Bình luận về truyệnTrang truyện