Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Kỷ Dậu, lấy Hàn lâm học sĩ Phạm Trấn (范鎮) làm Tri cống cử.
Ngày Tân Hợi, Liêu chúa đi đến Uyên Ương bạc. Lập Hoàng tử Tuấn (浚) làm Lương vương. Tuấn là con do Hoàng hậu sinh, còn nhỏ đã biết nói, hiếu học, hiểu sách. Liêu chúa từng nói: "Đứa con này thông minh lanh lợi, hẳn là trời ban cho vậy!" Khi ấy mới 6 tuổi mà đã được phong vương.
Ngày Quý Sửu, chiếu bảo Hạ quốc chúa Lượng Tộ (諒祚): "Người ngươi sai đến tiến cống là Thạch Phương (石方), xưng là Tuyên huy Nam viện sứ, đó không phải là chức quan của bề tôi phụ thuộc; từ nay nên tuân theo lời thệ, chiếu sắc, không được vượt phận mạo xưng!"
Ngày Bính Dần, lấy Long Đồ các Trực học sĩ, Tri Thẩm quan viện Hàn Chí (韓贄) kiêm Phán Đô thủy giám. Ban đầu đặt Đô thủy giám, muốn coi trọng việc này, nên dùng Tri tạp Ngự sử làm Phán. Đến đây, Tri tạp Triệu Biện (趙抃) từ chối, nói mình không biết việc thủy lợi, vì thế mới sai Chí đảm nhiệm.
Ngày Mậu Thìn, Tể tướng Hàn Kỳ (韓琦) tâu: "Doanh trại Vĩnh Ninh ở Tần châu vốn dùng tiền giấy để mua ngựa. Từ khi sửa doanh trại Cổ Vị ở phía tây Vĩnh Ninh, người phiên và người Hán phần nhiều trao đổi buôn bán với nhau tại đó, nên đặt trường mua ngựa, mỗi năm dùng hơn 10 vạn quan tiền, thật là hao tổn quốc dụng." Bèn chiếu khôi phục trường mua ngựa ở Vĩnh Ninh, bãi trường đặt ở doanh trại Cổ Vị, ngựa của các bộ lạc phiên đến thì bán thẳng cho Tần châu.
Ngày Kỷ Tị, phong Sung nghi Du thị (俞氏) làm Chiêu nghi, Tiệp dư Dương thị (楊氏) làm Tu nghi, Chu thị (周氏) làm Uyển dung.
Ngày Tân Mùi, nước Liêu cấm dân bán đồng.
Tháng 2, ngày Quý Mùi, Hoàng đế không được khỏe. Ngày Giáp Thân, hạ chiếu giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ 1 bậc, từ tội đồ trở xuống thì tha cho.
Ngày Ất Dậu, Thái tử Thiếu phó trí sĩ Điền Huống (田況) mất, truy tặng Thái tử Thái bảo, thụy là Tuyên Giản. Huống sáng suốt, nhanh nhẹn, có tài văn võ, bàn luận việc thiên hạ rất nhiều, như: hợp Thẩm mật viện vào Trung thư để thống nhất gốc của chính sự; mỗi ngày luân phiên cử 1 người trong Lưỡng chế, quán các đến hầu bên điện tiện để sẵn sàng hỏi han; dùng Tích Khánh viện để mở rộng Thái học; khai khẩn doanh điền ở quân Trấn Nhung, các châu Nguyên, Vị; bớt bỏ các quân thừa như Tuyên Nghị, Quảng Tiệp ở các lộ; mưu tính thế lực của Nguyên Hạo suy yếu sẽ chịu hòa, tất phải buộc hắn trả lại toàn bộ đất xâm lấn ở Diên châu, không cho vượt quá lệ cống hàng năm, lại nhập cả vào muối Thanh Trung; xin giết các chủ tướng và thân binh tùy hành ở Thiểm Tây đã để mất đất. Những điều bàn luận ấy rất lớn lao, nhưng không được thi hành hết.
Lúc đầu, nước Liêu xâm lấn Thiền châu, bắt được mấy trăm người, giao cho cha của Huống là Diên Chiêu (延昭) quản thúc. Diên Chiêu thương xót họ, đều thả cho về, nhân đó tự mình trốn về Trung Quốc, sinh được 8 con trai, phần nhiều là người có tiếng tăm. Huống là con trưởng. Trong trận Bảo châu, Huống giết mấy trăm quân hàng, triều đình cho là quyết đoán, về sau trọng dụng. Nhưng cuối cùng không có con, lấy con của anh làm người kế tự.
Ngày Bính Tuất, Trung thư, Thẩm mật viện vào tâu việc ở tây hiên điện Phúc Ninh, thấy màn trướng, chiếu đệm Hoàng đế thường dùng đều mộc mạc, cũ nát, lâu ngày không thay. Hoàng đế nhìn Hàn Kỳ và những người khác nói: "Trẫm ở trong cung, tự mình hưởng dùng chỉ như thế này thôi. Đây cũng là mỡ máu của sinh dân, há có thể tiêu phí một cách khinh suất sao!"
Tháng 3, ngày Giáp Thìn, chiếu triệu Tôn Triệu (孫兆), trước là Quán sát thôi quan ở Vận châu, và Đơn Tường (單驤), Bân châu Tư hộ tham quân, đến bắt mạch cho Hoàng đế. Lúc đầu Hoàng đế không được khỏe, y quan Tống An Đạo (宋安道) và những người khác dâng thuốc, lâu mà không hiệu nghiệm, còn Triệu và Tường đều nổi tiếng về y thuật, nên đặc biệt triệu vào. Ngày Bính Ngọ, chiếu lệnh Trung thư hặc tội Tống An Đạo và những người khác tâu lên.
Ngày Mậu Thân, Thái tử Thái bảo trí sĩ Bàng Tịch (龐籍) mất. Khi ấy Hoàng đế không khỏe, bỏ chầu, việc đến viếng và tế điện đều không làm được, chỉ sai sứ đến phúng viếng, cấp tiền tuất cho gia đình, truy tặng Tư không kiêm Thị trung, thụy là Trang Mẫn. Tịch giỏi việc lại, giữ pháp nghiêm khắc. Trong quân có kẻ phạm tội, đến nỗi có khi chém, mổ, phanh thây, hoặc đánh roi chồng chất đến chết, vì thế quân lính địa phương đều sợ phục; nhưng khi trị dân thì có ân huệ, thương yêu. Đến khi làm Tể tướng, người bàn luận cho rằng thanh danh, uy vọng của ông kém hơn lúc trị quận.
Ngày Giáp Dần, Chiêu Đức quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Lý Chiêu Lượng (李昭亮) mất, truy tặng Trung thư lệnh, thụy là Lương Hi. Chiêu Lượng là người ôn hòa, dễ gần, quen thuộc việc gần vua, đối với việc trị lại thì khá thông minh, nhanh nhẹn, giỏi ủy nhiệm cho thuộc lại, nên nhiều lần đổi trấn nhậm các phiên trấn mà không có lỗi lớn.
Ngày Nhâm Tuất, lấy Tôn Triệu làm Điện trung thừa, Đơn Tường làm Trung đô lệnh, lại lệnh họ hiệu đính y thư. Phong Thần Ứng hầu Biển Thước (扁鵲) làm Thần Ứng công. Hoàng thành sứ Tống An Đạo và những người khác đều bị giáng chức.
Ngày Quý Hợi, sửa chữa Đông môn Ác điện trong Ngự nội.
Ngày Giáp Tý, ngự điện Diên Hòa, ban cho 127 người đỗ Tiến sĩ, người Phúc Kiến là Hứa Tương (許將) đứng đầu bảng, 67 người đồng xuất thân, các khoa khác 147 người đỗ và đồng xuất thân, lại ban cho 100 người Tiến sĩ đặc tấu danh và các khoa khác đỗ, đồng xuất thân, cùng các Văn học, Trưởng sử ở các châu.
Ngày Ất Sửu, vì Thánh thể đã bình phục, các Tể thần đến Đông Thượng các môn dâng biểu chúc mừng.
Ngày Tân Mùi la ngày cuối tháng, Hoàng đế băng ở điện Phúc Ninh. Ngày hôm đó, việc ăn uống, đi lại của Hoàng đế vẫn còn bình thường, đến đầu đêm, bỗng đứng dậy, đòi thuốc rất gấp, lại triệu Hoàng hậu. Hoàng hậu đến, Hoàng đế chỉ vào ngực mà không nói được. Triệu y quan đến xem mạch, cho thuốc, cứu chữa bằng cứu ngải, nhưng đã không kịp. Đến cuối đêm thì băng. Người hầu cận muốn mở cửa cung để triệu các Tể thần, Hoàng hậu nói: "Lúc này cửa cung sao có thể mở ban đêm! Hãy bí mật bảo các Tể thần sáng sớm vào cấm cung." Lại lấy cháo ở Ngự trù. Y quan ra rồi, lại triệu vào, sai người canh giữ họ.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Mậu Thân mồng 1, các Tể thần vào đến tẩm điện. Hoàng hậu định nghị, triệu Hoàng tử vào, bảo rằng Hoàng đế đã băng, khiến nối ngôi. Hoàng tử kinh hãi nói: "Thần không dám làm, thần không dám làm!" rồi quay người chạy ra. Các Tể thần cùng giữ lấy, có người cởi tóc, có người khoác cho Hoàng tử áo ngự, triệu Điện tiền, Mã bộ quân Phó Đô chỉ huy sứ, Đô Ngự hầu và tông thất từ hàng Thứ sử trở lên đến trước điện nghe dụ. Lại triệu Hàn lâm học sĩ Vương Khuê (王珪) thảo di chế. Khuê hoảng sợ, không biết làm thế nào, Hàn Kỳ bảo Khuê: "Tiên đế ở ngôi được mấy năm?" Khuê chợt hiểu, bèn hạ bút. Đến quá trưa, bách quan đều tụ tập, vẫn mặc áo thường, chỉ tháo đai vàng và cá đeo bên mình, từ ngoài cửa điện Thùy Củng khóc mà vào, xếp hàng trước điện Phúc Ninh, khóc xong, Hàn Kỳ tuyên đọc di chế.
Hoàng tử tức Hoàng đế vị, yết kiến bách quan ở phía đông hiên. Bách quan bái 2 lần, trở về chỗ khóc, rồi lui ra. Hoàng đế muốn để tang 3 năm theo lối “lượng âm” (giảm bớt việc chính), lệnh Hàn Kỳ quyền coi việc Trung tể, các Tể thần đều nói không nên, bèn thôi.
Ngày Quý Dậu, đại xá. Ưu đãi ban thưởng các quân, theo lệ thời Càn Hưng. Khi ấy trong cấm vệ có người bảo nhau rằng, thời Càn Hưng, đồ ăn ban trong nội có lẫn vàng. Sau đó trong cung quả nhiên ban đồ ăn, mọi người nhìn trong thức ăn không có gì, xôn xao bàn tán. Điện tiền Phó Đô chỉ huy sứ Lý Chương (李璋) gọi các Thập trưởng bảo: "Bọn ngươi thường ngày áo cơm nhờ vào quan gia, chúa thượng chưa thân chính mà đã ưu đãi ban thưởng, các ngươi có công gì mà còn nói này nói nọ? Kẻ nào dám ồn ào thì chém!" Mọi người mới yên.
Phán Lại bộ Nam tào Vương Đoan (王端) tâu: "Con cháu công khanh còn đang bọc trong tã đã được phong quan, chưa từng đảm nhiệm việc gì, mà áo mũ ban cho lại ngang với người có niên lao, như thế thì lấy gì để khuyến khích! Xin tính từ ngày bắt đầu nhậm chức mới được hưởng." Bèn ghi thành điều lệ. Đoan là em của Vương Chất (王質).
Sai sứ sang báo tang với nước Liêu và nước Hạ.
Tam ty tâu xin lấy 150 vạn quan tiền trong Nội tàng khố, 250 vạn tấm lụa, 5 vạn lạng bạc để giúp việc xây lăng và ban thưởng, được chuẩn cho.
Hoàng đế mới lên ngôi, khi nói chuyện với các Tể thần đều không gọi tên. Đến khi sắp trách giáng các y quan, có người muốn tìm đường cho Tôn Triệu, Đơn Tường, bèn nói với Hoàng đế: "Lúc tiên đế mới dùng thuốc của Triệu và Tường, đều có hiệu nghiệm, chẳng may đến nông nỗi này là do mệnh trời, không phải điều y quan có thể làm được." Hoàng đế nghiêm mặt nói: "Nghe nói Triệu và Tường đều do Lưỡng phủ tiến cử, có đúng không?" Đáp rằng: "Đúng." Hoàng đế nói: "Vậy thì trẫm không dám tự quyết, chỉ xin các khanh định đoạt!" Mọi người đều hoảng sợ. Ngày Giáp Tuất, Triệu bị biếm đến Trì châu, Tường đến Hiệp châu, cùng lúc bị trách giáng có 12 người, chỉ riêng Triệu, Tường bị đày đến nơi xa.
Ngày Ất Hợi, quần thần dâng biểu xin Hoàng đế ra nghe chính sự, không được chấp thuận.
Chiếu: "Trong thiên hạ, những tên quan, tên đất, họ tên người mà trùng với ngự danh thì đều phải đổi; đổi tên chức Bộ Thự thành Tổng quản."
Sai Hàn Kì làm Sơn lăng sứ.
Trước đó, khi các Tể thần tâu việc, Hoàng đế tất hỏi kỹ đầu đuôi, rồi mới quyết đoán, không điều gì không hợp lẽ, trong ngoài đều khen là minh chủ. Chiều hôm ấy, bỗng phát bệnh, không nhận ra người, lời nói lộn xộn, lại triệu các y quan đã bị trách giáng là Tống An Đạo, Chân Lập Lý (甄立裡), Tấu Tông Nhất (奏宗一), Vương Sĩ Luân (王士倫) và những người khác vào hầu bệnh.
Ngày Bính Tý, tôn Hoàng hậu làm Hoàng thái hậu.
Ngày Đinh Sửu, quần thần 3 lần dâng biểu xin Hoàng đế ra nghe chính sự. Ngày Mậu Dần, chiếu cho phép, nhưng rồi vì bệnh nên không thực hiện được. Hữu ty xin đổi ngày đại liệm, Ty Tư thiên nói bói những ngày gần đây thì bất lợi cho Hoàng đế và Thái hậu, Hoàng đế lệnh chỉ tránh cho Thái hậu mà thôi. Ngày Kỷ Mão, đại liệm, bệnh Hoàng đế càng nặng, kêu gào, chạy cuồng, không thể làm trọn lễ. Hàn Kỳ vội ném gậy, vén rèm, ôm giữ Hoàng đế, gọi nội nhân, dặn phải hết lòng chăm sóc, che chở. Lại cùng các đồng liêu vào tâu với Thái hậu xin hạ chiếu, đợi đến ngày nghe chính sự, mời Thái hậu tạm cùng quyết đoán. Lễ viện tâu xin: "Ngày ấy Hoàng đế cùng Thái hậu cùng ngự ở tiểu điện Nội Đông môn, buông rèm, Trung thư, Thẩm mật viện hợp ban vào chầu, lần lượt tâu việc. Hoặc khi không phải lúc mà triệu Học sĩ, cũng cho phép đến tiểu điện. Hoàng Thái hậu khi xử phân chính sự xưng ‘Ngô’, quần thần dâng danh thiệp, vào chầu ở Nội Đông môn." Chuẩn theo.
Ngày Tân Tị, sai sứ nước Liêu mừng tiết Càn Nguyên là Bảo Tĩnh quân Tiết độ sứ Da Luật Cốc (耶律穀) và những người khác dâng thư tế trước linh cữu, yết kiến Hoàng đế ở bậc thềm phía đông, lệnh Ngự môn đưa thư và tặng vật vào. Lúc đầu, sứ Liêu đến Đức Thanh, triều thần có người muốn đuổi về, có người muốn đợi đến cửa quốc đô rồi bảo cho quay về, nghị luận chưa quyết. Thái thường thừa, Tập hiền Hiệu lý Thiệu Kháng (邵亢) xin cho sứ giả được đặt quốc thư trước linh cữu, cho yết kiến Hoàng đế, để an lòng người xa, chiếu theo lời ông. Khi ấy Long Đồ các Trực học sĩ Chu Hạng (周沆) làm Quán bạn sứ Liêu, ban đầu không cho yết kiến, trước hết chiếu lấy thư đặt trước linh cữu. Sứ giả cố xin được yết kiến, nói: "Lấy thư đi, không phải là phép cũ." Hoàng đế vì đang đội mũ tang, mặc áo sô, nên từ chối. Sứ giả cầm thư không chịu trao cho Ngự môn, Hạng nói: "Xưa Bắc triều có tang, sứ ta đến Lưu Hà rồi quay về. Nay triều đình coi trọng tình láng giềng, cho Bắc sứ đến kinh sư, trình mệnh ở trước án, ân lễ đã rất hậu, sao lại còn lấy chuyện nhận thư làm điều nghi kỵ!" Sứ giả bèn trao thư, nhưng Hoàng đế rốt cuộc cũng yết kiến Cốc và những người khác. Triều đình chưa biết tuổi của Liêu chúa, Hạng nhân lúc chuyện trò phiếm, hỏi xen vào, sứ giả không ngờ, vội đáp thật. Sau đó hối hận, nhìn nhau nói: "Nay lại phải coi Nam triều như anh rồi."
Ngày Nhâm Ngọ, các Tể thần vào chầu ở tây hiên điện Nhu Nghi, Hoàng Thái hậu ngự tiểu điện Nội Đông môn, buông rèm nghe chính sự. Lúc đầu nghị bàn rằng Hoàng đế cùng Thái hậu cùng ngự Đông điện, buông rèm, các Tể thần hợp ban lần lượt tâu việc. Đến đây Hoàng đế đang uống thuốc, tạm ở gian tây của tây hiên điện Nhu Nghi, Thái hậu ở gian đông. Các Tể thần vào gian tây, hỏi thăm Thánh thể, nhân đó tâu việc quân quốc, rồi Thái hậu lại một mình ngự Đông điện, các Tể thần lại đem chính sự tâu trước rèm.
Ngày Quý Mùi, trong nội ban phát đồ vật còn lại của tiên đế cho Lưỡng phủ, tông thất, cận thần, quan giữ binh, có phân biệt bậc bậc. Phú Bật (富弼), Văn Ngạn Bác (文顏博) khi ấy đang để tang, đều sai sứ đến nhà ban cho. Tri Gián viện Tư Mã Quang (司馬光) tâu: "Quốc gia vốn túng thiếu về chi dùng, lại gặp đại tang, những gì tích trữ qua nhiều đời gần như quét sạch. Nghe nói ở các châu ngoài, quân, quan khố không có tiền, hoặc vay mượn tiền dân để cấp thưởng, một sớm thu xếp, ép buộc bằng roi vọt. Trong lúc như thế này, quần thần còn lòng dạ nào mà nhận ân thưởng hậu đãi!" Bèn cố từ chối, rốt cuộc không được chấp thuận. Quang bèn lấy châu báu được ban làm công quỹ của Gián viện, lấy vàng tặng cho bên ngoại.
Ngày Giáp Thân, Tể tướng Hàn Kỳ được gia phong Môn hạ Thị lang kiêm Binh bộ Thượng thư, tiến phong Vệ quốc công; Tằng Công Lượng (曾公亮) được gia phong Trung thư Thị lang kiêm Lễ bộ Thượng thư; Thẩm mật sứ Trương Biện (張昪), Tham tri chính sự Âu Dương Tu (歐陽修), Triệu Khái (趙概) đều được gia phong Hộ bộ Thị lang; Thẩm mật Phó sứ Hồ Túc (胡宿), Ngô Khuê (吳奎) đều được gia phong Cấp sự trung.
Tri Gián viện Tư Mã Quang dâng sớ lên Hoàng Thái hậu rằng
Ngày Ất Dậu, chế tạo Bảo “Thụ mệnh”, lệnh Âu Dương Tu viết triện văn rằng: "Hoàng đế Cung ưng Thiên mệnh chi bảo”.
Phát hơn 46.000 quân ở các lộ để tu sửa, phụng sự Sơn lăng.
Ngày Bính Tuất, lấy bộ Cửu kinh và Chính nghĩa, Mạnh Tử, y thư do Quốc tử giám khắc in ban cho nước Hạ theo lời họ xin.
Ngày Đinh Hợi, lấy Hoàng tử Hữu Thiên Ngưu vệ Tướng quân Trọng Châm (仲針) làm An châu Quan sát sứ, Quang quốc công; Hữu Nội suất phủ Phó suất Trọng Củ (仲糾) làm Hòa châu Phòng ngự sứ, Lạc An quận công Trọng Khác (仲恪) làm Bác châu Phòng ngự sứ, Đại Ninh quận công.
Hàn lâm học sĩ Vương Khuê tâu: "Thánh thể đã yên, Hoàng Thái hậu xin thôi quyền cùng nghe chính sự." Liền lệnh Khuê thảo chiếu hoàn chính, nhưng rồi không thi hành.
Sao Huỳnh Hoặc từ đêm Canh Thân tháng tám năm trước lại xuất hiện, kéo dài 249 ngày. Sai các quan phụ trách cúng tế dời lễ trừ tai sang điện Tập Anh; đến ngày Kỷ Sửu thì sao chuyển sang phương Đông.
Ngày Quý Tị, Quyền Tam ty sứ Thái Tương (蔡襄) tâu việc Sơn lăng của Tiên đế đều dùng chế độ Vĩnh Định, bèn Hữu Tư gián Vương Đào (王陶) tâu: "Dân lực đang khốn khổ, Sơn lăng không nên lấy Vĩnh Định làm chuẩn." Sau đó, Kinh Tây Chuyển vận sứ Ngô Sung (吳充), Sở Kiến Trung (楚建中), Tri Tế châu Điền Phỉ (田棐) lần lượt tâu: "Xin theo di chiếu của Tiên đế, việc Sơn lăng phải hết sức tiết kiệm, trong Hoàng đường, Thượng cung trừ minh khí ra, còn vàng ngọc, châu báu thì đều bỏ hết." Kiến Trung là người Tu Thành. Lễ viện Biên soạn Tô Tầm (蘇洵) cũng gửi thư cho Hàn Kỳ hết lời can gián, đến nỗi dẫn chuyện Hoa Nguyên bất thần để trách, Kỳ biến sắc. Bèn chiếu cho Lễ viện cùng Thiếu phủ giám bàn nghị, chỉ bớt những minh khí tăng thêm thời Càn Hưng, còn lại vẫn dùng chế độ Định lăng.
Hữu Tư gián, Trực Tập hiền viện, Đồng tu Khởi cư chú Trịnh Giải (鄭獬) tâu: "Nay quốc dụng trống rỗng, tài phú không đủ, gần đây thưởng quân đã thấy việc hà khắc thu góp, nhà giàu than oán, tiếng đồn đến kinh sư. Thầm nghĩ Tiên đế tiết kiệm, thương dân, vốn là thiên tính, không ham châu báu kỳ lạ, không thích chó ngựa, du ngoạn; y phục đến mức phải giặt vá, đồ dùng đến mức mộc mạc, thô sơ, đó là điều thiên hạ đều biết. Nay chế độ Sơn lăng lại lấy thời Càn Hưng thịnh nhất làm chuẩn, há chẳng tổn hại đức tiết kiệm của Tiên đế sao? Thần cho rằng nên sắc cho Hữu ty kê rõ danh mục, số lượng, bàn nghị giảm bớt lần nữa."
Từ khi Hoàng đế không khỏe đến nay, tang lễ đều do Lễ quan chủ trì, quần thần đến an ủi thì rèm buông, Hoàng đế không ngồi. Ngày Ất Mùi, Đại tường, Hoàng đế mới thân hành làm lễ, lại vén rèm ngồi nhận lời an ủi, lòng người có phần yên.
Ngày Đinh Dậu, khởi phục Văn Ngạn Bác, ông cố từ; biểu dâng 3 lần, mới cho phép để hết tang. Sau đó có chiếu cấp bổng lộc bằng nửa Tể thần, Ngạn Bác lại từ chối, được chấp thuận.
Ngày Mậu Tuất, Tư Mã Quang dâng tấu đầu tiên nói
Ngày Kỷ Hợi, quần thần dâng biểu xin Hoàng đế vào chầu nghe chính sự. Biểu dâng ba lần, rồi mới chấp thuận.
Ngày Canh Tý, lập Kinh Triệu quận quân Cao thị (高氏) làm Hoàng hậu, hậu là con gái của Bắc tác phường sứ Tuân Phủ (遵甫). Tuân Phủ là con của Kế Huân (繼勳). Mẹ là Tào thị, chị ruột của Hoàng Thái hậu. Hoàng hậu 4 tuổi thì cùng Hoàng đế được nuôi trong cấm cung, Nhân Tông thường bảo Thái hậu rằng sau này tất sẽ lấy nàng làm phối ngẫu cho Hoàng đế, Thái hậu ưng thuận. Lớn lên, ra khỏi cung; năm Khánh Lịch thứ 7, về ở phủ Bộc vương, phong làm Kinh Triệu quận quân, đến nay chính vị Hoàng hậu.
Tháng 5, ngày Quý Mão, lấy Thái thường Thiếu khanh Lý Thụ (李受) làm Tả Tư lang trung, Đồn điền Viên ngoại lang Vương Liệp (王獵) làm Hình bộ Viên ngoại lang, đều sung Thiên Chương các Đãi chế, Thụ kiêm Thị độc, Liệp kiêm Thị giảng. Chiêu Tuyên sứ, Đoan châu Thứ sử, Hữu ban Phó Đô tri Thạch Toàn Dục (石全育) lĩnh Nguyên châu Đoàn luyện sứ, sung Nhập nội Phó Đô tri. Lệ cũ, Đô tri có 4 người, đến đây thêm Toàn Dục thành 5, chiếu rằng sau này nếu khuyết thì không bổ thêm.
Ở nước Liêu, Ni Lỗ Cổ (尼嚕古) và Tiêu Hô Đôn (蕭呼敦) mưu phản ngày càng gấp. Hô Đôn muốn phát động sớm, Ni Lỗ Cổ bày với cha là Trọng Nguyên (重元) rằng có thể giả bệnh, đợi Liêu chúa đến thăm thì mưu giết để làm phản; nhưng sau lại sợ Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) đang ở triều, nên mưu không phát. Ni Lỗ Cổ, Hô Đôn cùng nói với Liêu chúa: "Nhân Tiên có thể đảm nhiệm chức Tây Bắc lộ Chiêu thảo sứ." Liêu chúa định theo, Bắc viện Thẩm mật sứ Da Luật Y Tốn (耶律伊遜) can rằng: "Nhân Tiên là cựu thần của Tiên đế, đức cao hơn người, không thể vội vàng rời khỏi triều đình." Liêu chúa tỉnh ngộ, ngày Bính Ngọ, lấy Nhân Tiên làm Nam viện Thẩm mật sứ, đổi phong làm Hứa vương.
Ngày Canh Tuất, phong hoàng trưởng nữ làm Đức Ninh công chúa, hoàng nữ thứ 2 làm Bảo An công chúa, hoàng nữ thứ 3 làm Thọ Khang công chúa.
Chiếu: "Tiền của, vật dụng dùng cho Sơn lăng đều lấy từ quan cấp, không được làm phiền dân." Tuy chiếu đã ban, nhưng việc điều phái lao dịch chưa từng giảm. Tam ty tính việc Sơn lăng phải dùng 50 vạn quan tiền, thóc mà vẫn không đủ, có người xin chuyển số muối nộp thuế ở vùng biên Thiểm Tây vào huyện Vĩnh An. Chuyển vận Phó sứ Tiết Hướng (薛向) bày 5 điều không nên, lại xin nộp thay số ấy, được chấp thuận.
Lấy Hữu Tư gián Vương Đào làm Hộ bộ Viên ngoại lang, Trực Sử quán, sung Hoàng tử vị Bạn độc; Đồn điền Viên ngoại lang Chu Mạnh Dương (周孟陽), Bí thư thừa Tôn Tư Cung (孫思恭) sung Hoàng tử vị Thuyết thư. Mạnh Dương tự cho mình là quan dạy học của Vương phủ, có tình cũ với Hoàng đế từ khi còn tiềm long, mà Lý Thụ, Vương Liệp đều không phải người Hoàng đế quen biết, lại được trước mà làm Đãi chế, vì thế bất mãn, cố từ chối chức Thuyết thư, không nhận.
Ngày Đinh Tị, ban cho Trịnh châu 500 quan công sử tiền, vì linh giá đi qua nơi đó. Phú Bật mãn tang, ngày Mậu Ngọ, bổ làm Khu mật sứ, Lễ bộ Thượng thư, Đồng bình chương sự.
Ngày Canh Thân, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê tâu: "Cẩn xét sách Tăng Tử Vấn nói: ‘Kẻ tiện không làm văn tế cho kẻ quý, kẻ nhỏ không làm văn tế cho người lớn, đó là lễ. Chỉ có Thiên tử mới xưng trời mà làm văn tế.’ Xuân Thu Công Dương truyện nói: ‘Đọc văn tế, định thụy ở Nam giao, như nói là nhận từ trời.’ Thế mà năm Càn Hưng thứ 1, mùa hạ đã định thụy hiệu cho Chân Tông Hoàng đế, đến mùa thu mới cáo trời ở Viên khâu. Sử thần cho rằng thụy hiệu của Thiên tử phải tập trung quan từ Ngũ phẩm trở lên của Trung thư, Môn hạ, Ngự sử đài, Tứ phẩm trở xuống của Thượng thư tỉnh, Tam phẩm trở lên của các ty ở Nam giao cáo trời, bàn định, rồi mới liên tấu dâng lên. Chế độ gần đây chỉ để Từ thần bàn nghị, liền hạ chiếu ban, các quan khác không được dự, khá trái với nghĩa ‘xưng trời’. Thần vâng mệnh soạn dâng tôn thụy cho Tiên đế, mong ban minh chiếu cho Hữu ty khảo xét kỹ điển cũ, trước hết cáo trời ở Nam giao rồi sau mới dùng nghị của thần, để đức lớn, công rực rỡ của Tiên đế được truyền tin vững chắc muôn đời." Chiếu lệnh Lưỡng chế bàn kỹ. Hàn lâm học sĩ Giả Ảm (賈黯) và những người khác bàn theo lời Khuê, được chấp thuận.
Ngày Mậu Thìn, Hoàng tử Trọng Châm, Trọng Củ bắt đầu đến Đông cung nghe giảng. Ngày ấy, lần đầu ngự điện Diên Hòa. Bệnh Hoàng đế vẫn chưa khỏi, lệnh các Tể thần cầu phúc ở trời đất, tông miếu, xã tắc và Cảnh Linh cung, chùa quán, lại sai sứ cầu đảo ở các núi, sông lớn, danh sơn.
Tháng 6, ngày Quý Dậu, Hoàng đế lại vì bệnh mà không ra. Khi ấy chỉ có Lưỡng phủ được vào chầu ở Nhu Nghi, rồi lui, đến trước rèm tiểu điện Nội Đông môn, lại tâu chính sự với Hoàng Thái hậu như trước.
Trước đó, Lễ viện tâu rằng Tiên đế sẽ được phối thờ trong Thái miếu, mà 7 gian Thái miếu đều đã đầy, xin tăng thêm 1 gian, chiếu lệnh Lưỡng chế và quan từ Đãi chế trở lên cùng Lễ quan khảo nghị. Quan Văn điện Học sĩ Tôn Biện (孫抃) và những người khác bàn rằng: "Cẩn xét Lễ nói: ‘Ba Chiêu, ba Mục, cộng với Thái Tổ là 7 miếu.’ Thư nói: ‘Bảy đời miếu có thể xem đức.’ Nói đời là Chiêu, Mục là theo đúng đạo cha con mà nói. Nếu là anh em thì Chiêu, Mục như nhau, không thể lấy đời mà tính. Tổ Đinh nhà Thương có con là Dương Giáp, Bàn Canh, Tiểu Tân, Tiểu Ất, 4 người đều làm vua, mà miếu nhà Thương có Thủy Tổ, có Thái Tổ, có Thái Tông, có Trung Tông. Nếu lấy 1 vua là 1 đời, thì tế tự Tiểu Ất không đến được cha là Tổ Đinh, thế là xưa kia anh em nối nhau, Chiêu, Mục như nhau mà không lấy đời để tính, đã rõ. Vì thế miếu nhà Tấn có 11 gian mà chỉ 6 đời, miếu nhà Đường có 11 gian mà 9 đời. Trung Tông, Duệ Tông đối với Cao Tông, Kính Tông, Văn Tông đối với Mục Tông, đều cùng ở vị Mục. Quốc triều ta, Thái Tổ là Thụ mệnh chi Tổ, Thái Tông là Công đức chi Tông, đó là những vị muôn đời không dời. Vì thế ở gian Thái Tổ, Thái Tông xưng Hiếu Đệ, Chân Tông xưng Hiếu Tử, Tiên Hoàng đế xưng Hiếu Tôn. Trong Đồ tế hiệp, Thái Tổ, Thái Tông cùng ở vị Chiêu, quay mặt về nam, Chân Tông ở vị Mục, quay mặt về bắc. Ấy là Tiên triều đã khảo dùng cổ lễ mà ghi vào điển tế. Thần chủ của Tiên Hoàng đế phối thờ trong miếu, xin tăng thêm 1 gian thành 8 gian, để đủ lễ Thiên tử thờ 7 đời." Chiếu theo.
Bấy giờ Long Đồ các Trực học sĩ kiêm Thị giảng Lư Sĩ Tông (盧士宗), Thiên Chương các Đãi chế kiêm Thị độc Tư Mã Quang (司馬光) dâng nghị rằng
Chiếu cho Biện và những người khác bàn lại.
Bấy giờ lại dâng nghị rằng
Chiếu cho theo.
Ngày Mậu Dần, lấy Hàn lâm học sĩ, Quyền Tam ty sứ Thái Tường (蔡襄) làm Tu phụng Thái miếu sứ. Thái Tường bèn dâng bản đồ 8 gian miếu lên cho vua xem, lại xin mở rộng gian chính và gian giáp thất thành 18 gian; Hoàng đế cho theo.
Hoàng đế tự mình cảm bệnh, liền chán ghét thuốc thang; Hàn Kỳ từng tự tay cầm chén thuốc dâng lên, Hoàng đế không uống hết mà đẩy ra, thuốc vấy bẩn áo Kỳ. Thái hậu vội sai mang áo mình ban cho Kỳ, Kỳ không dám nhận. Thái hậu nói: "Tướng công thật là chẳng dễ." Hoàng tử Trọng Châm hầu bên cạnh, Thái hậu nói: "Sao con không tự khuyên răn vua đi!" Hoàng đế cũng không ngoảnh lại.
Ngày Đinh Hợi, chiếu: "Năm nay những người đỗ Chế khoa là Trứ tác tá lang Triệu Thương (趙商) cùng 17 người tạm thời bãi chức, sau này khi đến dự thi, thì vào thẳng Bí các mà thi." Thương là người An Nhân.
Lấy Binh bộ Lang trung, Quyền Phán Đại lý tự Trần Thái Tố (陳太素) làm Tri Minh châu. Thái Tố đảm nhiệm việc hình pháp hơn 20 năm, triều đình có đại ngục, nếu còn nghi ngờ thì tất triệu ông đến bàn. Mỗi khi xem xét án từ, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rét nóng cũng không thay đổi. Con cháu có khi khuyên can, ông đáp: "Nỗi khổ trong ngục, cái không chịu nổi còn hơn ta nhiều lắm!" Vì bệnh ở tai, nhiều lần xin bãi chức; các quan chấp chính cho rằng ông còn đảm nhiệm được chức vụ, nên không cho; lâu ngày sau mới cho ra ngoài làm Thủ.
Ngày Quý Tị, Tư Mã Quang dâng sớ lên Thái hậu và Hoàng đế rằng:
Hoàng đế lúc đầu vì lo buồn nghi ngại mà sinh bệnh, cử chỉ có khi thay đổi lệ thường, đối với hoạn quan lại càng ít ân huệ, người hầu cận nhiều kẻ không vui, bèn cùng nhau gièm pha ly gián, hai cung vì thế mà thành hiềm khích. Thái hậu từng nói việc ấy với các phụ thần, Hàn Kỳ nhân đó nói lời nguy cấp để cảm động Thái hậu rằng: "Chúng thần chỉ ở ngoài mà thấy được việc trong cung, sự che chở bên trong hoàn toàn ở nơi Thái hậu. Nếu Quan gia không được Thái hậu trông nom, thì Thái hậu cũng chưa chắc yên ổn." Thái hậu kinh hãi nói: "Tướng công nói cái gì vậy! Lão thân càng phải hết sức để tâm." Kỳ nói: "Thái hậu đã trông nom, thì mọi người tự nhiên sẽ trông nom vậy." Các đồng liêu đều rụt cổ toát mồ hôi. Có người bảo Kỳ: "Như thế chẳng quá lắm sao?" Kỳ nói: "Không như thế thì không được."
Thỉnh thoảng có người truyền rằng Hoàng đế trong cấm cung có những việc sai trái, mọi người phần nhiều bị mê hoặc, Kỳ nói: "Há có lẽ nào trên điện chưa từng nói sai một lời mà vào cửa cung liền mắc nhiều lỗi như thế! Ta vốn không tin vậy." Người truyền tin cũng dần dần bớt đi.
Ngày Mậu Tuất, Sơn lăng sứ Hàn Kỳ tâu: "Các trạm dịch trên đường đi Sơn lăng điều động vật liệu quá nhiều, xin chọn 1 viên triều thần giao cho việc tính toán." Bèn sai Diêm thiết Phán quan Sở Kiến Trung (楚建中) đến giảm bớt số ấy. Lúc đó Tam ty sứ Thái Tường tổng lĩnh việc cung ứng Sơn lăng, phàm điều động cung cấp đều gấp mấy lần, lao phí rất lớn, rồi lại phần nhiều không dùng đến, người bàn luận đều chê trách.
Bệnh của Hoàng đế đã thuyên giảm, nhưng vẫn chưa ngự chính điện. Ngự sử Trung thừa Vương Trù (王疇) dâng sớ rằng: “Nay người bốn phương, nhón chân vươn cổ, nghiêng tai dõi mắt, mong được xem chính sự mới, đã mấy tháng nay, mà vẫn chưa ngự chính điện để gặp quần thần. Người bàn luận đều cho rằng Thánh thể đã bình phục, chỉ vì chưa qua kỳ ‘tốt khóc’ của tiên đế, không nỡ lên triều, đó thực là lòng hiếu của thiên tử vượt hơn cả Cao Tông vậy. Nay kỳ đổi tháng đã ở ngoài lễ ‘tốt khóc’, chỉ mong bớt tình riêng theo lễ, nghĩ đến đại nghĩa, sớm ngự tiền điện, quay mặt Nam nghe chính sự, rực rỡ như mặt trời lên, vạn vật đều trông thấy, ấy là điều thần dân trông đợi vậy."
Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tị, lấy Thị ngự sử Lữ Hối (呂誨) làm Khởi cư xá nhân, Đồng tri Gián viện.
Ngày Tân Hợi, Tri Gián viện Tư Mã Quang tâu
Đồng tu Khởi cư chú Trịnh Giải (鄭獬) cũng dâng lời như thế, lại nói: “Xưa Chân Tông mới lên ngôi, có việc ở Nam giao, theo lệ cũ quần thần đều được thăng chức, nhưng Chân Tông cho là cầu may quá lắm, bèn lệnh chỉ gia thêm phẩm trật công huân mà thôi. Chân Tông đã từng sửa bỏ việc ban thưởng tràn lan vào buổi đầu Nam giao, thì bệ hạ cũng nên dứt bỏ ân huệ sai lầm sau khi đăng cực vậy."
Các quan chấp chính cho rằng chiếu đã ban hành, khó lòng sửa đổi, nên bỏ lời nghị ấy.
Ngày Nhâm Tý, lần đầu ngự điện Tử Thần, Trung thư, Khu mật vào tâu việc. Hoàng đế từ ngày Quý Dậu tháng 6 không lên điện, đến nay mới gặp bách quan, cảm động thương xót rất lâu. Từ đó ngày lẻ ngự tiền điện, ngày chẵn ngự hậu điện, riêng ngày sóc, vọng thì trước sau đều không ngự, đến khi hợp tự vào Thái miếu mới trở lại như cũ.
Ngày Bính Thìn, Hạ chúa sai sứ sang tế điếu. Sứ giả cố xin được vào chầu, không cho. Biểu của Lượng Tộ (諒祚) dâng lên đều tự ý đổi sang họ Lý, bèn ban chiếu quở trách, lệnh giữ theo ước cũ.
Tư Mã Quang tâu: “Nghe sứ giả nước Hạ trước đây không chịu bái kiến ở ngoài cửa, cố xin được vào chầu, triều đình không cho, bắt về quán xá. Thần trộm nghĩ bệ hạ mới nối ngôi, các phiên Di đều muốn ngước trông thiên nhan; lại nghe trước đây Thánh thể từng không yên, họ tưởng rằng chưa thể lên triều, nên mới dám kiêu ngạo xảo trá như thế. Nay bệ hạ đã ngự chính điện, thần cho rằng có gì phải tiếc mấy bước đất ở sân Tử đình, để cho hắn khấu đầu bái lạy, ngước trông ánh sáng trong sạch! May ra hắn biết được phong thái thần vũ của bệ hạ, tất có thể trấn phục bốn bể."
Ngày Đinh Tị, sứ nước Liêu tế Đại Hành Hoàng đế ở điện Hoàng Nghi, rồi yết kiến Hoàng đế ở Đông sương. Hoàng đế khóc thương rất lâu. Sứ giả hễ nhắc đến Đại hành thì liền rơi lệ. Vài ngày sau, sứ Liêu từ biệt ở điện Tử Thần, vua sai ngồi, ban trà. Theo lệ cũ, phải ban 5 tuần rượu, từ đây về sau đến hết thời Lượng Các, đều chỉ ban trà mà thôi.
Hoàng thái thúc nước Liêu là Trọng Nguyên (重元) cùng con là Ni Lỗ Cổ (尼嚕古) đã lâu ôm lòng phản nghịch, gặp lúc Liêu chúa đi săn ở Thái Tử sơn bên sông Loan Hà, các quan tùy tùng phần nhiều là đảng của Trọng Nguyên, Ni Lỗ Cổ bèn muốn nhân đó mà bất ngờ nổi dậy. Ngày Mậu Ngọ, Ung Mục cung sứ Da Luật Lương (耶律良) nghe được mưu ấy, vì Liêu chúa rất mực yêu thân, không dám vội tâu, bèn kín nói với Thái hậu. Thái hậu giả bệnh, triệu Liêu chúa đến báo, lại nói: "Đây là việc xã tắc, con nên sớm tính kế."
Liêu chúa tra hỏi Lương: "Ngươi muốn ly gián cốt nhục nhà ta sao?"
Lương nói: "Nếu thần nói dối, xin cam chịu búa rìu. Bệ hạ không sớm phòng bị, e rơi vào mưu giặc. Nếu triệu Ni Lỗ Cổ mà hắn không đến, có thể đoán được việc ấy." Liêu chúa nghe theo, liền triệu Nam viện Khu mật sứ Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) đến báo, Nhân Tiên nói: "Bọn ấy hung hãn, thần đã nghi ngờ từ lâu rồi." Liêu chúa lệnh Nhân Tiên tra xét bắt bọn chúng. Nhân Tiên ra khỏi, quay lại nói: "Bệ hạ nên cẩn thận phòng bị."
Ni Lỗ Cổ thấy sứ giả đến triệu, biết việc đã lộ, bèn trói sứ giả trong trướng, muốn giết đi; sứ giả dùng dao đeo bên mình cắt vách trướng mà ra, phi ngựa đến hành cung, tâu rõ sự tình, Liêu chúa lúc ấy mới tin.
Ni Lỗ Cổ cùng Tiêu Hô Đôn (蕭呼敦) vội chiêu tập bè đảng, được 400 người, phụng Trọng Nguyên sắp phát động, trước trướng mưa đỏ như máu, bèn tiến thẳng đến trại màn của cung. Liêu chúa vội vã muốn chạy đến Bắc viện, Nam viện, Nhân Tiên nói: "Nếu bệ hạ bỏ bọn hộ tòng mà đi, giặc tất bám theo sau. Vả lại lòng của Bắc vương, Nam vương chưa thể biết, sao có thể đến đó được!" Con Nhân Tiên là Thác Bột Gia (托卜嘉) nói: "Thánh ý không thể trái." Nhân Tiên giận, đánh vào đầu y. Gặp lúc Tuyên huy sứ Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努) nghe tin biến, phi ngựa đến, nắm cương ngựa cố can, cũng nói như Nhân Tiên, Liêu chúa tỉnh ngộ, giao hết việc đánh giặc cho Nhân Tiên.
Nhân Tiên lập tức lệnh dùng xe vây thành doanh, bẻ hành mã làm binh khí, dẫn quan thuộc, thân cận hơn 30 kỵ binh dàn trận ở ngoài chân núi. Thế giặc rất mạnh, Thái hậu cũng thân chinh đốc thúc vệ sĩ chống giữ. Đến lúc giao chiến, Nam phủ Tể tướng Tiêu Đức (蕭德) xông lên trước đánh giặc, bẻ gãy mũi nhọn của chúng, quân giặc tan vỡ. Ni Lỗ Cổ phóng ngựa xông ra, thân cận là Tường cẩn A Tô (詳袞阿蘇) bắn chết ông ta, quân Trọng Nguyên hơi lui.
Nhân Tiên cho rằng doanh của Ngũ viện bộ Tiêu Tháp Lạt (蕭塔喇) ở gần nhất, bèn vội triệu đến, lại chia người đi tập hợp các quân.
Trước đó Ni Lỗ Cổ kết giao bè đảng rất rộng, nhưng trong chốc lát không thể tập hợp ngay. Đô điểm kiểm Điện tiền là Da Luật Tát Lạt Đồ (耶律薩喇圖) đúng lúc ở bãi săn, nghe tin loạn, bèn bắt ép thợ săn người Khi đến cứu viện, đến nơi thì nghe Ni Lỗ Cổ đã chết, bèn khóc lớn, nói với Trọng Nguyên: "Bọn ta chỉ có đường tử chiến, sao lại đùa giỡn như trẻ con, tự chuốc lấy diệt vong! Nay hành cung không phòng bị, nhân đêm mà tập kích, đại sự có thể thành. Nếu đợi đến sáng mai, bên kia tất có phòng bị, nào biết quân ta không sinh lòng chia rẽ! Một khi lỡ cơ hội, hối hận sao kịp!"
Tiêu Hô Đôn nói: "Trong lúc vội vã, trắng đen không phân, nếu quân trong ngoài ứng nhau, thì việc của ta mất rồi. Đợi đến rạng sáng mới phát, có chậm gì đâu!" Trọng Nguyên nghe theo kế của Hô Đôn, lệnh tuần tra bốn phía.
Đêm ấy, Hô Đôn cùng bè đảng tôn lập Trọng Nguyên, xưng hiệu trái phép, Hô Đôn tự làm Khu mật sứ. Đến sáng, Trọng Nguyên cùng Hô Đôn, Tát Lạt Đồ và bè đảng là Thống quân sứ Tiêu Đặc Lý Đức (蕭特裡德), Hưng Thánh cung Thái bảo Cổ Địch (古迪), Trần vương Đặc Bố (特布) dẫn 2.000 người Khi đánh thẳng vào hành cung. Gặp lúc Tiêu Tháp Lạt đem quân cứu viện đến, Bắc diện Lâm nha Da Luật Địch Lý (耶律迪裡) cũng đến cứu, Da Luật Nhân Tiên nói: "Thế giặc không thể lâu, nên đợi khi khí thế chúng suy rồi đánh." Bèn lệnh cho bọn Da Luật Y Tốn (耶律伊遜), Tiêu Đức, Tiêu Hãn Gia Nỗ, Tiêu Duy Tín (蕭惟信), Da Luật Lương chia nhau lĩnh quân túc vệ và quân cứu viện, dàn trận quay lưng vào doanh, thừa lúc sơ hở mà đánh mạnh, giặc hơi lui.
Hãn Gia Nỗ bảo các thợ săn: "Các ngươi bỏ thuận theo nghịch, chỉ chuốc lấy diệt tộc. Chi bằng hối cải, chuyển họa thành phúc!" Thợ săn đều bỏ khí giới đầu hàng. Bè đảng giặc đại bại, Trọng Nguyên dẫn vài kỵ binh chạy. Nhân Tiên và mọi người đuổi giết hơn 20 dặm, chém Tát Lạt Đồ tại trận, bắt Đặc Lý Đức, Cổ Địch, giết đi; Hô Đôn một mình cưỡi ngựa trốn đến Thập Thất trạch, nhảy xuống nước chết. Liêu chúa nắm tay Nhân Tiên nói: "Bình loạn đều là công của khanh vậy!"
Ngày Kỷ Mùi, Liêu chúa lệnh bắt giết bè đảng phản nghịch, vì Tiêu Hô Đôn là kẻ đầu tiên giúp loạn, nên giết cả 5 con trai; lời cung khai dính đến cha là Trần vương Hiếu Hữu, cũng giết luôn. Tiền Khu mật sứ Tiêu Cách (蕭革) vì con gái làm vợ Trọng Nguyên, dự mưu phản, bị xử lăng trì. Cách được sủng ái hai triều, tha hồ làm điều gian ác, đến nay mới bị xử đúng pháp luật, người nghe đều hả lòng.
Những kẻ Ni Lỗ Cổ kết giao phần nhiều là hạng không chịu gò bó. Tiêu Đặc Lý Đức lúc trẻ phóng túng, ưa săn bắn, từng theo Tường cẩn đi đánh nước Hạ, thua trận trở về, liền mắc tội, bị đánh đại trượng, tước bỏ tước vị làm dân. Đến khi được dùng lại, bèn theo Ni Lỗ Cổ. Cổ Địch ưa đùa bỡn thân mật, không giữ phép tắc, sức lực hơn người, giỏi đánh cầu. Tát Lạt Đồ lại càng hung bạo. Những kẻ cùng Ni Lỗ Cổ mưu việc đều là hạng ấy, nên chóng bại.
Ngày Canh Thân, Trọng Nguyên chạy lên phía Bắc vào đại mạc, biết không thể thoát, than rằng: "Ni Lỗ Cổ khiến ta đến nỗi này!" rồi tự sát.
Ngày Tân Dậu, Liêu chúa luận công dẹp loạn, phong Hứa vương Da Luật Nhân Tiên tiến tước Tống vương, gia phong Thượng phụ, làm Bắc viện Khu mật sứ; Liêu chúa thân soạn văn để khen ngợi, lại sai vẽ bức “Loan Hà chiến đồ” để biểu dương công lao. Triệu vương Da Luật Y Tốn tiến phong Ngụy vương, làm Nam viện Khu mật sứ, lấy Tiêu Hãn Gia Nỗ làm Điện tiền Đô điểm kiểm, phong Kinh vương. Tiêu Duy Tín gia phong Thái tử Thái phó, đều ban tước hiệu Công thần. Tiêu Đức phong Hán vương. Da Luật Địch Lý được phong từ xa làm Tiết độ sứ Lâm Hải quân. Quan túc vệ là bọn Da Luật Thác Bột Gia đều gia phong Thượng tướng quân. Các hộ vệ và binh sĩ, bếp núc, nỏ thủ hơn 400 người, mỗi người đều được ban chức có phân bậc. Vì Da Luật Lương là người đầu tiên báo biến, nên lệnh ghi vào Hoành trướng, cất nhắc làm Hành cung Đô bố trí người Hán.
Bắc phủ Tể tướng nước Liêu là Diêu Cảnh Hành (姚景行) đang vì bệnh xin về, giữa đường nghe tin Trọng Nguyên làm loạn, bèn thu nhặt quân đi đường, được hơn 300 kỵ binh, cùng Nam phủ Tể tướng Dương Tích (楊績) đến cứu vua, đến nơi thì giặc đã bị dẹp. Liêu chúa khen lòng trung, ban cho tài sản của bọn phản nghịch.
Ngày Quý Hợi, Đặc Bố nước Liêu kêu oan rằng bị Trọng Nguyên bức ép, bèn lệnh tước bỏ tước vị, đày đến Chấn châu.
Tháng 8, ngày Canh Thìn, Vương Khuê (王珪) bàn dâng thụy hiệu cho Đại Hành Hoàng đế là Thần Văn Thánh Vũ Minh Hiếu, miếu hiệu Nhân Tông.
Ngày Tân Tị, chiếu lệnh Ty Quân đầu dẫn việc công vào chầu như cũ.
Tư Mã Quang tâu:
Ngày Quý Tị, lấy ngày sinh của Hoàng đế làm Thọ Thánh tiết.
Tháng 9, ngày Canh Tuất, chiếu lấy phủ đệ của Hoàng tử làm Hưng Khánh cung. Sau đó Tri Gián viện Lữ Hối tâu rằng đời Đường đã có tên cung này, bèn đổi là Khánh Ninh.
Ngày Tân Hợi, phong Hoàng tử Trọng Châm làm Trung Vũ Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự, Hoài Dương quận vương, đổi ban tên là Húc (頊); Trọng Củ làm Minh châu Quan sát sứ, Kỳ quốc công, ban tên là Hạo (顥); Trọng Khác làm Diệu châu Quan sát sứ, Hộ quốc công, ban tên là Quân (頵).
Ngày Mậu Ngọ, dâng sách thụy Nhân Tông ở điện Phúc Ninh.
Nước Liêu, sau khi Tiêu Cách bị tội, người bàn luận nhớ lại lời Da Luật Nghĩa Tiên (耶律義先). Ngày Kỷ Mùi, truy phong Nghĩa Tiên làm Hứa vương.
Ngày Nhâm Tuất, lấy Hoàng tử vị Bạn độc là Vương Đào (王陶) làm Dực thiện phủ Hoài Dương quận vương, Hoàng tử vị Thuyết thư là Tôn Tư Cung (孫思恭) làm Thị giảng, Thái tử Trung doãn, Tập Hiền Hiệu lý kiêm Sử quán Kiểm thảo Hàn Duy (韓維) làm Thái thường thừa, sung Ký thất tham quân. Đào và những người khác xin để vương nhận lễ bái, không cho. Lữ Hối tâu: "Vương nay chưa xuất các, nên tạm đặt sư hữu, không nên lập quan liêu thuộc ngay. Thần muốn triều đình trước hết chỉnh đốn danh vị của Đào và những người khác, danh vị đã chính, thì phân biệt lễ nghi tự nhiên yên ổn. Huống chi vương tuổi đã lớn, nên sớm cho xuất các, mở phủ lập quan. Dực thiện, Thị giảng tự là liêu thuộc, về thể thức thì không điều gì là không thuận."
Hoàng đế đã lên triều ở tiền điện, hậu điện, nhưng đối với việc nghe xử vẫn giữ lòng khiêm nhường dè dặt. Ngự sử Trung thừa Vương Trù dâng sớ rằng:
Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tức ngày Mậu Thìn, Liêu chúa đến chùa Hưng Vương. Ngày Canh Ngọ, lấy Lục bộ Thái bảo Da Luật Ha Mỗ (耶律哈穆) làm Tri Nam viện Đại vương sự.
Liêu chúa đến Tịch Ty Điện.
Ngày Giáp Ngọ, táng Nhân Tông ở Vĩnh Chiêu lăng.
Ngày Ất Mùi, lấy Tả Ty Lang trung, Tri chế cáo Trương Khuê (張瑰) làm Tả Gián nghị đại phu. Vì Khuê ở tiên triều từng dâng lời kín định ngôi Thái tử, nên đặc biệt ghi nhận công ấy.
Tháng 11, ngày Kỷ Hợi, linh chủ từ Sơn lăng trở về, Hoàng Thái hậu nghênh tế ở vườn Quỳnh Lâm. Thái hậu ngồi Đại An dư liễn, giống kiệu khiêng vai nhưng lớn hơn, không có màn che, không đánh roi, thị vệ đều giảm một nửa so với lúc Chương Hiến còn sống, người ra vào chào hỏi có kẻ hô vạn tuế. Ngày Canh Tý, làm lễ Ngu ở điện Tập Anh.
Trước đó 5 lễ Ngu đều làm trên đường, đến nay 6 lễ Ngu vẫn dùng lễ “tại đồ”, Hoàng đế không thân tế. Tri chế cáo Tổ Vô Trạch (祖無擇), Tri Gián viện Tư Mã Quang dâng sớ xin thân làm lễ Ngu, Ngự sử Trung thừa Vương Trù cũng dâng lời như thế. Giao cho Lễ viện xét kỹ, cho rằng nên theo lời Tổ Vô Trạch và những người khác, bèn chiếu ngày hôm sau thân làm lễ Ngu. Sau đó Hoàng đế không khỏe, cuối cùng lệnh Tông chính khanh quyền làm, Quang liền tâu: "Bệ hạ may nghe lời thần, lệnh hữu ty thiết lập lễ thân tế, mà lại không ra, các thần trong hàng đều kinh ngạc tự trách. Cúi mong bệ hạ ngày mai dù Thánh thể hơi có chỗ không khỏe, cũng nên gắng sức thân tế, để giải mối nghi trong ngoài."
Nhưng Hoàng đế rốt cuộc vì bệnh, đến hết 9 lễ vẫn không thể ra.
Ngày Giáp Thìn, Hoàng đế thân tế linh chủ mà không khóc, gọi là ‘Tốt khóc’. Trước đây không có lễ ‘Tốt khóc’, bấy giờ theo nghị của Lữ Hạ Khanh (呂夏卿) mà bắt đầu thi hành.
Ngày Bính Ngọ, hợp tự thần chủ Nhân Tông vào Thái miếu, nhạc miếu gọi là “Đại Nhân chi vũ”, lấy Vương Tằng (王曾), Lữ Di Giản (呂夷簡), Tào Vĩ (曹瑋) phối hưởng ở sân miếu.
Ngày Kỷ Dậu, giảm tội nhân ở Đông, Tây nhị kinh 1 bậc, miễn sưu dịch Sơn lăng và tô thuế của dân ở nơi linh giá đi qua.
Ngày Canh Tuất, chiếu: "Lệnh trưởng quan các châu, quân tiến cử người tinh thông y thuật đến kinh."
Ngày Tân Hợi, nước Liêu sai Tiêu Tố (蕭素) cùng những người khác đến chúc mừng đăng cực.
Ngày Giáp Dần, ban Kim tử, Tử y cho Thái thường Thiếu khanh Khổng Thúc Chiêm (孔叔詹). Thúc Chiêm giám việc Tài tạo, vì công lao đáng được thăng chức, Hoàng đế không muốn dùng chức Thái thường Thiếu khanh để thưởng công lao trông coi kho tàng, nên mới có ân ban ấy. Từ đó lấy đó làm lệ.
Tháng này, Tư Mã Quang dâng sớ lên Hoàng Thái hậu rằng:
Quang lại dâng sớ can Hoàng đế rằng:
Lữ Hối dâng thư lên Hoàng Thái hậu rằng:
Lại dùng thư khuyên Hoàng đế tận hiếu đạo, thân uống thuốc thang. Lời lẽ bày tỏ thẳng thắn, nhiều điều người khác khó nói. Lại xin sớm lập Đông cung để vững gốc rễ, dứt đường dòm ngó, an ủi lòng người.
Lúc Hoàng đế bệnh rất nặng, lời nói thường nhiều điều sai lầm, trái ngược, thường hay đụng chạm, làm phật ý Thái hậu, Thái hậu không thể chịu nổi. Khi Chiêu Lăng đã đắp đất xong, Hàn Kỳ (韓琦) từ dưới lăng trở về, Thái hậu sai trung sứ mang một phong văn thư giao cho Kỳ. Kỳ mở ra xem, thì là những bài từ ca do Hoàng đế viết cùng những việc lỗi lầm trong cung. Kỳ liền đối trước sứ giả mà đốt bỏ, bảo sứ giả tâu lại rằng: "Thái hậu thường nói Quan gia tinh thần chưa yên, lời nói cử chỉ không được đúng mực, có gì đáng lạ đâu!"
Đến khi vào chầu trước rèm, Thái hậu nức nở rơi lệ, kể rõ đầu đuôi, lại nói: "Lão thân e rằng không còn chỗ dung thân nữa!" Kỳ nói: "Đó là do bệnh mà ra thôi, bệnh khỏi rồi ắt không như thế nữa. Con mắc bệnh, lẽ nào mẹ lại không dung được sao?" Thái hậu không vui. Âu Dương Tu (歐陽修) tiếp lời nói: "Thái hậu hầu hạ Tiên đế mấy chục năm, nhân đức đã rõ khắp thiên hạ. Xưa Ôn Thành được sủng ái, Thái hậu xử trí vẫn khoan hòa như thường; nay giữa mẹ con với nhau, lại hóa ra không thể dung thứ được sao?" Ý Thái hậu hơi hòa hoãn. Tu lại nói: "Tiên đế ở ngôi đã lâu, đức trạch ở nơi dân, cho nên một khi băng giá, thiên hạ phụng đội Thế tử lên ngôi, không một người dám có ý kiến khác. Nay Thái hậu sâu ở trong cung cấm, thần đẳng chỉ là năm sáu kẻ thư sinh mà thôi, nếu chẳng phải là di ý của Tiên đế, thì thiên hạ ai chịu nghe theo?" Thái hậu lặng thinh.
Hôm khác, Hàn Kỳ cùng những người khác yết kiến Hoàng đế. Hoàng đế nói: "Thái hậu đối với trẫm không có ân." Kỳ tâu: "Từ xưa thánh đế minh vương chẳng phải là ít, nhưng chỉ riêng xưng tụng Nghiêu Thuấn là bậc đại hiếu. Há phải những người khác đều là bất hiếu cả sao? Cha mẹ từ ái mà con hiếu thuận, đó là lẽ thường, không đáng nói đến; chỉ có cha mẹ không từ ái mà con vẫn không mất lòng hiếu, mới là điều đáng khen. Thần chỉ e bệ hạ phụng sự Thái hậu chưa được đến nơi đến chốn đó thôi, chứ cha mẹ há lại có chuyện không từ ái sao!" Hoàng đế cảm ngộ sâu sắc, từ đó cũng không còn nói điều chê trách Thái hậu nữa.
Trước đó, tháng 10, các phụ thần xin theo lệ đời Càn Hưng, mỗi ngày triệu kiến thị thần vào giảng đọc. Hoàng đế nói: "Nên đợi sau khi lễ phối thờ trong miếu hoàn tất, chọn ngày mở kinh diên." Chẳng bao lâu có chiếu, nhất định đợi đến mùa xuân năm sau. Tư Mã Quang (司馬光) cho rằng việc học là việc đầu tiên của đế vương, không nên vì nóng lạnh mà bỏ, Hoàng đế nghe theo lời ấy.
Tháng 12, ngày Kỷ Tị, lần đầu ngự điện Nhĩ Anh các, triệu Thị độc, Thị giảng giảng Kinh Luận Ngữ, đọc Sử Ký. Lữ Công Trứ (呂公著) giảng câu “bất tri bất uẩn” trong Luận Ngữ, nói: "Người xưa, nếu mệnh lệnh của vua chưa được lòng người tin phục, lòng người chưa chịu quy phục, thì phải tự xét mình, tu sửa đức hạnh, chứ không đem giận dữ trút lên họ. Như Nghiêu Thuấn ‘đản phu văn đức’, Văn Vương ‘hoàng tự kính đức’ là như thế." Lưu Sảng (劉敞) đọc Sử Ký đến đoạn “Nghiêu nhượng thiên hạ cho Thuấn”, nhân đó bày tỏ: "Thuấn từ chỗ hèn mọn thấp kém mà lên, Nghiêu vượt qua Tứ Nhạc mà nhường ngôi cho, trời đất hưởng ứng, bách tính đội trên đầu, chẳng có đạo lý nào khác, chỉ vì đức hiếu hữu của ông sáng rực trên dưới mà thôi." Lời lẽ hai người sáng sủa lưu loát, Hoàng đế ngồi ngay ngắn, đổi sắc mặt, biết rằng họ dùng nghĩa lý để khuyên răn. Khi lui ra, Vương Khuê (王珪) bảo Sảng rằng: "Ông dám nói thẳng đến mức ấy ư!" Thái hậu nghe chuyện, cũng rất vui mừng.
Ngày Ất Hợi, Hoài Dương vương Húc (頊) xuất các. Vương từ biệt hai cung, bi thương khóc không tự kìm được, Thái hậu cũng khóc, an ủi khuyên bảo rồi cho đi, từ đó mỗi ngày hai lần vào chầu.
Đem bút tích ngự thư của Nhân Tông cất ở Bảo Văn các, sai Hàn lâm học sĩ Vương Khuê soạn bài ký để khắc đá.
Ngày Canh Thìn, sai Hàn lâm học sĩ Vương Khuê, Giả Ảm (賈黯), Phạm Trấn (范鎮) soạn Thực lục của Nhân Tông; Tập hiền hiệu lý Tống Mẫn Cầu (宋敏求), Trực Bí các Lữ Hạ Khanh (呂夏卿), Bí các hiệu lý Hàn Duy (韓維) kiêm nhiệm chức Kiểm thảo quan. Lúc ấy Mẫn Cầu đang làm Tri Bạc châu, đặc biệt triệu về dùng.
Năm ấy, nước Liêu lại lấy Tiêu Châu Trạch (蕭珠澤) làm Tây Bắc lộ Chiêu thảo sứ. Trước đây Châu Trạch bị Hô Đôn (呼敦) đánh bại, Hô Đôn đã chết, lúc đó triều nghị cho rằng trước kia ông từng làm Chiêu thảo, uy danh vang khắp các bộ, nên lại bổ nhiệm. Châu Trạch khi đến nhậm chức, huấn luyện sĩ tốt, tăng thêm khí giới, giảm bớt việc truy thu, nghiêm minh hiệu lệnh, không ai dám phạm, biên cảnh yên ổn.
Nước Hạ đổi niên hiệu là Củng Hóa.