Tục tư trị thông giám

Chương 77: Quyển 78

Khoảng 56 phút đọc · 12.210 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Thìn, sông Y, sông Lạc tràn, sông Hà vỡ đê ở Nguyên Thành. Tri Đại Danh phủ là Vương Củng Thần tâu:

"Nước sông Hà dâng lên dữ dội, mấy chục vạn dân kêu khóc cầu cứu, mà tiền thóc thì thuộc quyền Chuyển vận, Thường bình thì thuộc quyền Đề cử, thợ thuyền quân khí thì thuộc quyền Đề hình, vật liệu đắp bờ, binh lính thì lại thuộc Đô thủy, Ty Diêm vận thì ở xa, không một việc nào được chuyên quyền, lúc cấp bách thì lấy gì cứu dân! Xin cho phép không câu nệ phép thường."

Chiếu: "Những việc liên quan đến cơ vụ gấp, tấu trình, phúc đáp, giấy tờ xin với các thuộc ty không kịp, thì làm như lời xin."

Ngày Bính Ngọ, sai sứ đi cứu tế, ban tiền cho gia đình những người chết đuối.

Liêu chúa đi tuần đến Hắc Lĩnh.

Ngày Giáp Dần, Vương An Lễ bị bãi chức. Trước đó, Thị ngự sử Trương Nhữ Hiền hặc tấu việc Vương Khuê cùng An Lễ xin cho con cháu được bổ dụng, cho rằng dùng bút phê của Đô tỉnh để dẫn tiến, là đặt ra lệ ngoài lệ, thật làm hại đại chính. Hoàng đế cho rằng đã có điều khoản cho phép dùng bản tấu trích lục theo lệ, nên tấu chương của Nhữ Hiền bị gác lại không xuống. An Lễ nghe vậy, vào chầu tâu xin trị tội Nhữ Hiền, Hoàng đế lệnh phân tích rõ. Nhữ Hiền tâu rằng An Lễ không thể tu thân tề gia, lại nói khi ở Hồ, Nhuận cùng với kỹ nữ mà cùng nắm chính sự. Hoàng đế đem tấu chương ấy giao cho Tam tỉnh, nói với An Lễ rằng: "Nhữ Hiền tấu hặc không đúng, cố nhiên là có tội; nhưng những việc gian dâm bẩn thỉu mà hắn nói, nếu khanh quả thực như thế, thì làm sao còn có thể đứng đầu trăm quan nữa?" Hoàng đế tuy bãi chức Nhữ Hiền, nhưng An Lễ cũng không tự yên, nhân đó tâu: "Trước đây vì anh là An Thạch bệnh tật, thần từng xin được làm Tri Giang Ninh, nay xin cho thi hành lại lời xin trước." Bèn lấy ông làm Đoan Minh điện học sĩ, Tri Giang Ninh phủ.

Tháng 8, ngày Canh Ngọ, chiếu cho Tri Lô châu là Vương Quang Tổ sai người chiêu dụ Khuất Đệ, cho phép ra hàng, miễn tội, bổ quan. Khuất Đệ đã mất đất, cùng cực, đi lại giữa các man, không nơi nương tựa. Hoàng đế vẫn muốn chiêu dụ về, cho phép tự làm mới mình. Chẳng bao lâu, Khuất Đệ chết, bấy giờ các tù trưởng đảng La Thủy là Đấu Nhiên, Đấu Canh cùng các tù trưởng, và các bộ lạc Di tộc ở hai sông vùng sinh giới mới thu phục, xin theo họ mà đoàn kết, đều làm Nghĩa quân; triều đình theo đó. Lô Di chấn nhiếp, không còn làm loạn ở biên giới nữa.

Ngày Quý Tị, Khúc châu tâu rằng Thái tử Thiếu bảo trí sĩ Triệu Biện mất. Tặng làm Thái tử Thiếu sư, thụy là Thanh Hiến. Biện ôn hòa, khoan hậu, khí mạo thanh nhã, người ta không thấy ông vui giận ra mặt. Cả đời không lo gây dựng tài sản, không nuôi ca kỹ. Gả con gái của anh em hơn 10 người, cùng hơn 20 cô gái mồ côi khác, thi ân cho kẻ cô độc nghèo khổ, thật không thể kể xiết. Việc ông làm trong ngày, đến đêm, tất mặc triều phục, đứng ngoài trời, đốt hương mà khấn với trời sau, việc gì không thể nói ra thì không dám làm. Khi làm quan, ông khéo tùy theo phong tục mà đặt ra việc thi hành, khoan nghiêm khác nhau tùy nơi, khi coi Thành Đô, lại càng được đời khen ngợi. Hoàng đế mỗi khi dụ bảo Thái thú 2 quận, tất nêu Biện làm gương, lấy việc ban ân lợi cho dân làm gốc. Khi làm Tri Việt châu, các châu đều dán bảng ngoài đường cấm tăng giá gạo, chỉ riêng Biện lệnh cho người có gạo được tùy ý tăng giá mà bán, do đó thương nhân buôn gạo tụ họp đông đúc, giá gạo lại càng rẻ, không ai bị đói.

Tháng 9, ngày Quý Hợi, Liêu chúa đi tuần đến điện Ấu Ty.

Ngày Ất Sửu, người nước Hạ vây thành Định Tây, đốt trại tộc Kham Cốc, tướng Khê Hà là Tần Quý đánh bại chúng.

Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Hợi, lấy Cấp sự trung Hàn Trung Ngạn làm Lễ bộ Thượng thư. Trung Ngạn vào tạ, Hoàng đế dụ rằng: "Công lao của Tiên lệnh công, trẫm không dám quên; khanh lại hết lòng với triều đình, như thế vẫn chưa đủ để báo đáp khanh."

Người nước Hạ đội mũ ở Khê Hà.

Ngày Canh Thìn, đồng tử ở Nhiêu châu là Chu Thiên Thân đối sách ở điện Duệ Tư, ban cho Ngũ kinh xuất thân. Từ đầu niên hiệu Bảo Nguyên bãi khoa Đồng tử, đến nay mới đặt lại, trước sau ban xuất thân cho 5 người.

Ngày Mậu Tý, chiếu phân định cương giới Giao Chỉ, lấy 6 huyện, 2 động ban cho họ.

Trước đó, Giao Chỉ lấy cớ truy bắt Nùng Trí Hội mà xâm phạm châu Quy Hóa; lại sai bề tôi là Lê Văn Thịnh đến Quảng Tây xử lý cương giới Thuận An, Quy Hóa, Kinh lược sứ Hùng Bản sai Tả Giang Tuần kiểm Thành Trác cùng bàn bạc, Văn Thịnh tự xưng là bề tôi hầu cận, không dám tranh chấp. Chiếu cho rằng Văn Thịnh có thể tuân theo ý cung thuận của Càn Đức, ban cho áo bào, đai và lụa 500 tấm. Đến nay bèn lấy 6 huyện Bảo Lạc, 3 động Túc Tang ngoài 8 ải ban cho Càn Đức.

Ngày Ất Mùi, người nước Hạ xâm lấn trại Tĩnh Biên, Kiềm hạt Kinh Nguyên là Bành Tôn đánh bại chúng. Tháng 11, ngày Đinh Dậu sóc, chúng lại xâm lấn trại Thanh Biên, Đội tướng Bạch Ngọc, Lý Quý tử trận.

Ngày Giáp Thìn, Hạ quốc chủ Bỉnh Thường sai sứ sang cống.

Ngày Ất Mão, sao Thái Bạch hiện ban ngày.

Tháng 12, ngày Mậu Thìn, lấy Đoan Minh điện học sĩ kiêm Hàn lâm Thị độc học sĩ Tư Mã Quang làm Tư chính điện học sĩ, Giáo thư lang, Tri Long Thủy huyện tiền nhiệm Phạm Tổ Dũ làm Bí thư tỉnh Chính tự; đều vì việc tu sửa sách "Tư trị thông giám" đã hoàn thành. Từ khi lập cục Tự Trị Bình, Quang cùng Lưu Bàn, Lưu Thứ, Phạm Tổ Dũ và con là Khang biên tập, trước sau 6 lần đảm nhiệm, cho phép đem Cục biên sách theo hầu, cấp bổng lộc. Quang bèn đọc khắp cựu sử, lại thu thập truyện ký, chọn nhặt điều kín ẩn, trên bắt đầu từ năm 23 đời Chu Uy Liệt vương, dưới đến hết Ngũ đại, cộng 1.326 năm, tu thành 294 quyển; lại lược nêu mục sự việc, lấy năm làm kinh, quốc sử làm vĩ, để tiện tra cứu, làm "Mục lục" 30 quyển; tham khảo quần thư, bình luận chỗ đồng dị, khiến quy về một mối, làm "Khảo dị" 30 quyển. Tổng cộng 354 quyển, trải 19 năm mà thành. Đến nay dâng lên, hạ chiếu khen ngợi, ban bạc, lụa, áo đai, yên ngựa. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Đời trước chưa từng có sách như thế, vượt xa ‘Hán kỷ’ của Tuân Duyện." Thăng chức cho Quang và Tổ Dũ. Lúc ấy Lưu Thứ đã mất, Lưu Bàn vì tội mà bị bãi truất, nên không được kể đến. Sau Quang cho rằng "Mục lục" quá giản lược, lại làm "Cử yếu lịch" 80 quyển mà chưa xong, lại riêng soạn "Lịch niên" 2 quyển, "Thông lịch" 80 quyển, "Khảo cổ lục" 20 quyển.

Ngày Canh Dần, chiếu cho quan ngoại tỉnh ở Môn hạ, Trung thư cùng cử Ngôn sự ngự sử.

Nước Liêu hạ chiếu đổi niên hiệu năm sau là Đại An, xá tội từ tạp phạm tử tội trở xuống, đổi Đại An quân ở Khánh châu là Hưng Bình.

Hà Đông đói kém, Hà Bắc lụt, nhà cửa ở Lệnh châu Lư Hội bị phá hủy; đều miễn thuế của họ.

Năm ấy, trong tiệc mùa thu, Hoàng đế cảm bệnh, bắt đầu có ý lập Thái tử. Lại bảo các Phụ thần rằng: "Mùa xuân tới lập Thái tử, hãy lấy Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ làm Sư, Bảo."

Hình Thứ - người Dương Vũ, thuở nhỏ tuấn tú vượt trội, ưa công danh, luận việc thành bại xưa nay, có khí chất tung hoành thời Chiến Quốc. Theo học với Trình Hạo, nhờ đó ra vào cửa Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, Công Trứ tiến cử làm Giáo thư ở Sùng Văn viện. Vương An Thạch cũng yêu mến, Thứ đối với con là Vũ nói về sự bất tiện của Tân pháp, An Thạch nghe được nổi giận, đày làm Tri Diên Lăng huyện. Huyện bị bãi, không được điều bổ lại, trôi nổi ở vùng Thiểm, Lạc 7 năm, lại làm Giáo thư, Ngô Sung dùng làm Quán các Giáo khán, trải qua chức Sử quán Kiểm thảo, Trước tác Tả lang. Thái Xác thay Sung làm Tể tướng, đuổi hết người do Sung dùng, Thứ ở ẩn sâu, sợ bị vạ lây. Hoàng đế xem bài "Tống Văn Diên Báo thi" của ông, khen trước mặt Xác, nói Thứ ở quán đã lâu, nên thăng chức, Xác không đồng ý, Hoàng đế không nghe. Xác có mưu mẹo, biết Hoàng đế sẽ cất nhắc Thứ, bèn lui ra, lập tức bổ làm Viên ngoại lang Ty Chức phương, từ đó Thứ trở thành đảng của Xác. Hoàng đế có ý lại dùng Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, Xác cho rằng Thứ là môn hạ khách của hai người, bèn gấp kết nạp. Thứ cũng hết lòng nương tựa, bèn bày kế cho Khác, dần chiêu tập danh sĩ, trong chính sự hơi có đổi mới. Đến khi Quang làm Tư chính điện học sĩ, Xác biết ắt sẽ lại được dùng, muốn tự nương vào Quang, bèn bảo Thứ rằng: "Bề trên lấy Quân Thực làm Tư chính điện học sĩ, là lễ khác thường. Quân Thực thích từ quan, Xác là kẻ hậu tiến, không dám dâng thư. Hòa Thúc là môn hạ sĩ, nên lấy thư nói rõ cớ không thể từ." Hòa Thúc là tự của Thứ. Thứ chỉ viết thư cho con Quang là Khang, chuyển lời của Xác ; Khang bạch với Quang, Quang cười mà không đáp, cũng hai lần từ chối rồi sau mới nhận.

Mùa xuân, tháng Giêng, Liêu chúa đi tuần đến sông Hỗn Đồng.

Ngày Mậu Tuất, Hoàng đế không khỏe. Ngày Giáp Thìn, xá thiên hạ.

Ngày Ất Tị, lệnh các Phụ thần thay mặt cầu đảo ở Cảnh Linh cung. Ngày Ất Mão, sai quần thần chia nhau cầu đảo ở trời đất, tông miếu, xã tắc. Từ sau khi Hoàng đế không khỏe, Tam tỉnh, Khu mật viện mỗi ngày đến tẩm các hỏi bệnh, đến nay bệnh hơi thuyên giảm, Hoàng đế viết thư tay dụ bảo Vương Khuê và những người khác, từ nay có thể cách ngày vào hỏi.

Tháng ấy, nước Liêu lấy Vương Tích làm Tri Nam viện Khu mật sứ sự, Hình Hy Niên làm Trung Kinh Lưu thủ. Lấy Khu mật Trực học sĩ Đỗ Công Vị làm Tham tri chính sự. Công Vị là con của Phòng.

Các bộ trưởng Ngũ quốc dâng ngựa tốt cho nước Liêu.

Tháng 2, ngày Tân Mùi, Liêu chúa đi tuần đến Sơn Du Điện.

Ngày Tân Tị, trường thi cống sĩ ở chùa Khai Bảo bị cháy; ngày Đinh Hợi, lệnh Lễ bộ khóa trường thi ở nơi khác.

Ngày Quý Tị, Hoàng đế bệnh nặng, dời ngự sang điện Phúc Ninh, Tam tỉnh, Khu mật viện vào hỏi, yết kiến Hoàng đế trước giường. Vương Khuê tâu: "Mùa đông trước từng phụng thánh chỉ, Hoàng tử Diên An quận vương mùa xuân này ra các, xin sớm lập Đông cung." Tâu đến 3 lần, Hoàng đế 3 lần ngoái nhìn, khẽ gật đầu mà thôi. Lại xin Hoàng thái hậu quyền cùng thính chính, đợi ngày bình phục thì trở về như cũ, Hoàng đế cũng ngoái nhìn gật đầu, Khuê và những người khác bèn lui ra.

Trước đó, Thái Xác lo Hoàng đế lại dùng Lữ Công Trứ, Tư Mã Quang, thì ắt đoạt chức Tể tướng của mình, bèn cùng Hình Thứ mưu kế giữ chức. Thứ vốn giao du với cháu trai Hoàng thái hậu là Cao Công Hội, Công Kỷ, Hoàng đế mới lâm bệnh, Thứ bí mật hỏi thăm Công Hội, Công Hội nói rõ tình trạng bệnh đáng lo, Thứ nghe vậy, lại sinh tà mưu. Xác từng sai Thứ mời 2 người, 2 người từ chối không đến. Hôm sau, lại sai người mời đến Đông phủ, Khác nói: "Nên đến gặp Hình Chức phương." Khi gặp, Thứ nói: "Nhà có cây đào nở hoa trắng, có thể chữa bệnh cho người chủ, thuyết ấy xuất từ ‘Đạo tạng’, mong ngài đến xem." Vào giữa sân, thì là hoa đào đỏ, kinh ngạc nói: "Hoa trắng đâu?" Thứ nắm tay 2 người nói: "Hữu tướng lệnh bày tỏ tấc lòng, bệnh của Quan gia chưa thuyên giảm, Diên An quận vương còn nhỏ yếu, nên sớm định nghị. Ung vương, Tào vương đều là hiền vương." Hai người lại kinh hãi nói: "Đây là lời gì, ông muốn hại cả nhà ta sao!" Rồi vội vã bỏ đi.

Kế của Thứ không thành, lại vu cho Ung vương Hạo có lòng đoạt ngôi, Hoàng thái hậu sẽ bỏ Diên An quận vương mà lập ông ta, Vương Khuê thực là người chủ trương việc ấy, cùng với Nội điện Thừa chế trí sĩ Vương Dực bịa đặt vu cáo. Dực là người Khai Phong, từng theo Cao Tuân Dụ thường xử lý cơ nghi ở Kinh Nguyên, là kẻ khéo nịnh, nên Thứ nhân đó mà dùng.

Lại biết Xác và Khuê vốn không hợp nhau, muốn nhân việc này để hãm hại Khuê. Hôm khác, gấp hỏi Xác rằng: "Bệnh của Quan gia gần đây thế nào?" Khác nói: "Bệnh đã yên, sẽ chọn ngày lên điện." Thứ hơi cười nhạt nói: "Bệnh của Quan gia lại phát, mất tiếng nói, mắt nhìn trừng, nghe trong cấm trung đã có sắp đặt khác, Thủ tướng ở ngoài làm chủ. Ngài là Thứ tướng, lại không biết sao? Một ngày có tờ giấy xuống, lấy ai đó làm Thái tử, thì ngài không biết chết ở đâu. Ngài tự xét có công đức với triều đình chăng? Sĩ đại phu trong thiên hạ vốn hướng lòng về ngài chăng?" Xác giật mình nói: "Vậy thì kế nên làm sao?" Thứ nói: "Diên An quận vương mùa xuân này ra các, mà bề trên mùa đông trước đã có lời quyết, quần thần không ai không biết. Ngài sao không nhân lúc hỏi bệnh, dẫn đồng liêu cùng vào, gấp ở trước mặt bề trên mà bày tỏ đầu mối. Nếu Đông cung nhờ lời ngài mà sớm được lập, thì sau này ngàn thu vạn tuế, công lao ngài như núi Thái Sơn." Xác rất cho là phải. Thứ lại nói: "Việc này nên sơ bộ sắp đặt, nay khác với ngày thường, may có thể tự biểu hiện. Những chỗ quanh co chỉ nói với Tử Hậu, đừng cho người khác biết." Tử Hậu là tự của Chương Đôn vậy. Xác cảm ơn, bảo Thứ rằng: "Hòa Thúc gặp Tử Hậu, hãy nói rõ hết." Thuần ưng thuận. Bèn cùng Xác định nghị, lại ước với Tri Khai Phong phủ là Thái Kinh, để ngày ấy lĩnh tráng sĩ chờ biến ở ngoài triều, bảo rằng: "Đại thần cùng bàn việc lập Thái tử, nếu có người dị nghị, thì phải đem tráng sĩ vào chém."

Hôm ấy, Tam tỉnh, Khu mật cùng vào hỏi bệnh, lúc đầu cũng chưa dám nhắc việc lập Thái tử. Lui ra rồi, bèn cùng bàn ở sảnh phía nam Khu mật viện. Xác, Thuần nhiều lần dùng lời ép Khuê, mong ông ta hơi có ý khác để lập tức giết trước. Khuê nói lắp, liên tiếp nói chữ "phải" mấy tiếng, rồi thong thả nói: "Quan gia cũng tự có con, còn có gì khác nữa!" Xác, Thuần nhìn nhau, không làm gì được Khuê. Rồi lại vào tâu, được chấp thuận, cùng lui ra, gặp Ung vương, Tào vương ở trước điện, Thuần lớn tiếng nói: "Đã được chỉ, lập Diên An quận vương làm Hoàng thái tử rồi. Thế nào?" Ung vương nói: "Thiên hạ may mắn lắm." Rồi trong cấm trung vẫn yên ổn như cũ.

Tà kế của bọn Xác tuy không được toại, nhưng tung tích quỷ quyệt cũng không ai phân biệt tra hỏi, mỗi người tự cho là có công định sách. Việc lâu ngày, lời đồn truyền ra, rốt cuộc để lại họa về sau, thực ra vốn do Thứ khởi xướng.

Tháng 3, ngày Giáp Ngọ sóc, các quan chấp chính đến cửa Đông nội, vào hỏi thăm, Hoàng thái hậu buông rèm, Hoàng tử đứng ngoài rèm. Thái hậu dụ bảo Khuê và những người khác: "Hoàng tử thanh tuấn, hiếu học, đã thuộc 7 quyển Luận ngữ, ít ham chơi, chỉ là học viết chữ. Từ khi Quan gia uống thuốc, nó tự tay chép 2 quyển kinh Phật để cầu phúc." Nhân đó đem bản chép ra cho bọn Khuê xem. Chữ viết hết sức cẩn trọng, Khuê và những người khác lạy mừng. Bèn tuyên chế, lập làm Hoàng thái tử, đổi tên là Húc, lại lệnh hữu ty chọn ngày, chuẩn bị lễ sách mệnh. Lại chiếu: "Các việc quân quốc chính sự, đều do Hoàng thái hậu quyền cùng xử phân, đợi ngày bình phục thì theo như cũ."

Ngày Ất Mùi, xá tội trong thiên hạ, sai quan cáo với trời đất, tông miếu, xã tắc, chư lăng.

Ngày Đinh Dậu, Hoàng thái hậu lệnh Lại bộ Thượng thư Tăng Hiếu Khoan làm Sách lập Hoàng thái tử Lễ nghi sứ.

Ngày Mậu Tuất, Hoàng đế băng ở Phúc Ninh điện, thọ 38 tuổi. Tể thần Vương Khuê đọc di chế: "Hoàng thái tử tức Hoàng đế vị. Tôn Hoàng thái hậu làm Thái hoàng thái hậu, Hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, Đức phi Chu thị làm Hoàng thái phi. Các việc quân quốc, đều do Thái hoàng thái hậu quyền cùng xử phân, theo cố sự của Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu."

Hoàng đế thiên tính hiếu thuận, hòa mục, khi vào hầu hai cung, đứng hầu suốt ngày, dù lạnh nóng cũng không thay đổi; thân yêu hai em, không có mảy may ngăn cách, suốt đời Hoàng đế, họ mới ra ở ngoài đệ. Tổng lãnh vạn cơ, việc lớn nhỏ tất thân tự làm. Lên điện quyết đoán việc, có khi đến xế chiều không kịp ăn, có Thị thần lấy đó mà nói, Hoàng đế bảo: "Trẫm hưởng sự cung phụng của thiên hạ, không phải là thích nhọc ghét nhàn, chỉ là thật muốn lấy sự cần lao này để báo đáp mà thôi." Khiêm tốn, chú trọng thực chất, suốt đời không nhận tôn hiệu.

Bấy giờ hưởng thái bình đã lâu, việc nhiều chậm trễ, Hoàng đế gắng sức mưu việc trị, muốn một phen chấn chỉnh tệ nạn; lại cho rằng tổ tông có chí nuốt chửng U Ký, Linh Vũ mà nhiều lần bại binh, phẫn nhiên muốn rửa mối nhục mấy đời. Vương An Thạch bèn đem mưu làm giàu mạnh tiến dâng, mà các pháp Thanh miêu, Bảo giáp, Quân thu, Thị dịch, Thủy lợi, trong một thời đều thi hành, thiên hạ xao động, kẻ đau khóc rơi lệ nối nhau mà đến. Hoàng đế rốt cuộc không tỉnh ngộ, lại bãi truất nguyên lão, gạt bỏ Ngự sử can gián, thi hành không nghi ngờ, các phép tốt ý đẹp của tổ tông, biến hoại gần hết, dần đến họa Tĩnh Khang.

Ngày Kỷ Hợi, xá tội trong thiên hạ những tội thường xá không tha.

Sai sứ sang nước Liêu báo tang.

Có bạch hồng xuyên qua mặt trời.

Ngày Canh Tý, lệnh Tể thần Vương Khuê làm Sơn lăng sứ.

Ngày Giáp Dần, theo lời quần thần khẩn cầu, bắt đầu cùng Thái hoàng thái hậu nghe chính sự. Hoàng đế mới 10 tuổi, lâm triều trang nghiêm, tả hữu bộc ngự, không ai dám nhìn trộm sắc vui giận.

Ngày Kỷ Mùi, ban cho chú là Ung vương Hạo, Tào vương Quân được đặc ân tán bái không xưng tên; lệnh trong ngoài kiêng tên cha Thái hoàng thái hậu là Tuân Phủ.

Chiếu: "Những việc biên sự hơi trọng, Khu mật viện cùng Tam tỉnh cùng bàn rồi dâng lên."

Ngày Canh Thân, tiến phong Thượng thư Tả bộc xạ, Tuần quốc công Vương Khuê làm Kỳ quốc công. Ung vương Hạo làm Dương vương, Tào vương Quân làm Kinh vương, đều gia Thái bảo. Tiến phong em là Ninh quốc công Cát làm Toại Ninh quận vương, Nghi quốc công Tất làm Đại Ninh quận vương, Thành quốc công Hu làm Hàm Ninh quận vương, Hòa quốc công Tự làm Phổ Ninh quận vương. Lấy Cao Mật quận vương Tông Thịnh, Hán Đông quận vương Tông Viện, Hoa Nguyên quận vương Tông Dũ, An Khang quận vương Tông Ẩn, Kiến An quận vương Tông Xước đều làm Khai phủ Nghi đồng Tam ty. Tư đồ Tế Dương quận vương Tào Dật làm Thái bảo, Đặc tiến Vương An Thạch làm Tư không, những người khác thăng chức có thứ bậc.

Bí thư tỉnh Chính tự Phạm Tổ Dũ dâng sớ luận về chế độ tang phục rằng:

"Tiên vương chế lễ, tang phục của vua giống như của cha, đều là trảm thôi 3 năm. Ấy là sợ người làm thần không lấy cha mà thờ vua, đây là chỗ để ràng buộc nhân tình. Từ đời Hán trở đi, không những bề tôi không có tang phục, mà người làm vua cũng không để tang 3 năm. Chỉ có bản triều, từ tổ tông trở lại, ngoài triều tuy dùng chế độ đổi tháng, mà trong cung thực hành tang phục 3 năm. Vả lại, chế độ đổi tháng sở dĩ khó sửa, là vì người làm vua tự mình không để tang. Nay tang phục của vua đã như điển cổ, mà bề tôi vẫn theo chế độ đời Hán, nên khi Đại hành còn quàn, bách quan hữu ty đều đã phục lại thưởng phạt như cũ, dung mạo, y phục không khác gì người đi đường. Há tính người lại bạc bẽo đến thế sao? Là do trên không vì họ mà đặt ra lễ chế. Nay quần thần tuy đổi tháng mà người chủ thực hành tang, nên 12 ngày thì Tiểu tường, hết kỳ lại Tiểu tường; 24 ngày thì Đại tường, hết 2 kỳ lại Đại tường. Tiểu tường, Đại tường không thể có hai, đã lấy ngày mà làm, lại lấy tháng mà làm, đây là điều không có căn cứ trong lễ. Xưa là hết 2 kỳ thì Đại tường, giữa tháng thì Đàm. Đàm là tên lễ tế, không phải màu tang phục; nay lại đặt ra áo tang 3 ngày rồi mới Đàm, đây là điều không đúng kinh lễ. Đã bỏ tang phục, đến khi an táng lại mặc tang, sau khi phối miếu thì liền cát, mới 8 tháng mà đã thuần cát, không gì không được đeo, đây lại là điều không có tuần tự trong lễ. Chế độ đổi tháng, do tập quen đã lâu, không thể truy lại. Nên lệnh quần thần triều phục vẫn như hôm nay mà chưa bỏ áo tang, đến hết kỳ thì bỏ, dần dần bỏ những thứ nặng, hết 2 kỳ lại bỏ, rồi mới bỏ áo tang, những thứ còn lại thì vua mặc sao, bề tôi mặc vậy là được. Còn như Đàm, không cần đặt ra tang phục, chỉ là chưa thuần cát, cho đến khi Tường, rồi sau mới không gì không được đeo. Như thế chế độ 3 năm, đại lược giống như xưa."

Chiếu lệnh Lễ quan bàn kỹ. Lễ bộ Thượng thư Hàn Trung Ngạn và những người khác nói: "Điển lễ triều đình, thời thế khác nhau, không nhất thiết phải theo cổ. Vả lại, điển lễ thương xót của tiên vương, tiết văn rất nhiều, nếu nhất thiết theo cổ, thì cũng không chỉ như lời nói ấy mà thôi. Nay đã không thể dùng hết, thì nên theo cố sự của tổ tông và di chế của Tiên đế." Chiếu theo lời bàn ấy.

Tư Mã Quang vào triều phúng điếu, Vệ sĩ thấy Quang, đều lấy tay đặt lên trán nói: "Đây là Tư Mã tướng công." Nơi ông đến, dân chặn đường tụ tập xem, ngựa không đi được, nói: "Ông chớ về Lạc, hãy ở lại làm Tể tướng cho Thiên tử, cứu sống bách tính." Quang sợ, nhân dịp được cho cáo từ, bèn đi thẳng về Lạc.

Thái hoàng thái hậu nghe vậy, tra hỏi người chủ quản, sai Nội thị Lương Duy Giản đến an ủi Quang, tỏ ý rằng trước đây nên dùng ông. Quang bèn dâng sớ rằng:

Triều đình theo đó.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Bính Dần, lần đầu ngự điện Tử Thần.

Ngày Tân Mùi, chiếu nới lỏng việc Bảo giáp, nuôi ngựa, miễn nợ thuế còn thiếu từ năm Nguyên Phong 6 trở về trước.

Ngày Giáp Tuất, chiếu rằng: "Tiên Hoàng đế trị vì 19 năm, lập ra chính sự để ban ân cho thiên hạ; mà hữu ty phụng hành không đúng, gần như phiền nhiễu, hoặc làm qua loa, văn thư hình thức, không thể ban bố ân huệ thực. Hãy truyền dụ trong ngoài, đồng lòng phụng mệnh, để xứng với ý Tiên đế ban ân yên ổn cho dân."

Ngày Ất Hợi, chiếu lấy ngày sinh của Thái hoàng thái hậu làm tiết Khôn Thành.

Ngày Đinh Sửu, dụ Khu mật, Trung thư cùng bàn việc ở Đô đường.

Lấy Tư chính điện Đại học sĩ Lữ Công Trứ kiêm Thị độc. Công Trứ lúc ấy làm Tri Dương châu, đặc biệt triệu dùng, là theo ý Tiên đế.

Lấy Tư chính điện học sĩ Tư Mã Quang làm Tri Trần châu.

Ngày Canh Thìn, Tri Thái Nguyên phủ Lữ Huệ Khanh sai bộ kỵ 2 vạn người tập kích quân Hạ ở Tụ Tinh bạc, chém 600 thủ cấp.

Ngày Tân Tị, sai sứ đem di vật Tiên đế để lại tặng nước Liêu, và báo việc lên ngôi.

Lấy Viên ngoại lang Ty Chức phương là Hình Thứ làm Hữu ty Viên ngoại lang. Thái Xác muốn nhân Thứ để kết giao với Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, nên vội thăng làm Đô ty.

Ngày Ất Dậu, Khu mật viện tâu: "Bảo giáp ở 3 lộ trong địa giới phủ, nhà có 2 đinh mà chỉ có ruộng bệnh đinh không đến 20 mẫu, cho phép tự trình, Ty Đề cử xét thực rồi cho miễn." Triều đình theo đó.

Ngày Đinh Hợi, lại miễn nợ thuế cũ còn thiếu.

Ngày Tân Mão, Liêu chúa đi tuần về phía tây.

Tháng 5, ngày Ất Mùi, chiếu cho bách quan nói rõ chỗ thiếu sót trong triều chính, dán bảng ở triều đường. Bấy giờ có đại thần không muốn như vậy, trong lời chiếu đặt ra 6 điều để cấm lời nói gay gắt rằng: "Nếu ngầm ôm điều gì, phạm vào chỗ không phận sự, hoặc khuấy động việc cơ mật trọng yếu, hoặc đón ý chiều theo mệnh lệnh đã thi hành, trên thì ngó nghiêng ý triều đình để cầu may tiến thân, dưới thì làm mê hoặc tình cảm thói tục để mưu lấy hư danh, như thế thì tất bị phạt không tha."

Chiếu cho Tri Trần châu Tư Mã Quang qua cửa khuyết vào chầu. Trước đó, Quang dâng sớ nói: "Quan can gián là tai mắt của người chủ. Thái phủ Thiếu khanh Tống Bành Niên nói ở Kinh không thể không đồng thời đặt 3 Nha quản quân thần liêu. Thủy bộ Viên ngoại lang Vương Ngạc xin theo lệnh bảo mã cũ mà lập hạn mức, định đều số lượng phải mua mỗi năm; lại xin lệnh cho Thái học tăng đặt Bác sĩ Xuân Thu. Triều đình cho rằng họ nói việc không thuộc bổn chức, mỗi người phạt 30 cân đồng. Bệ hạ mới bắt đầu lâm chính, mà 2 thần đầu tiên vì nói việc mà mắc tội, thần sợ trong ngoài nghe vậy, trung thần rã lòng, kẻ ngay thẳng nhụt chí, công nghiệp thái bình còn chưa thể mong." Do đó lệnh Quang qua cửa khuyết vào chầu, sứ giả đến an ủi, trông đợi ông làm Tể tướng trên đường.

Ngày Đinh Dậu, quần thần xin lấy ngày 8 tháng 12 làm Hưng Long tiết. Hoàng đế vốn sinh ngày mồng 7, vì tránh ngày kỵ của Hy Tổ, nên dời tiết sang ngày hôm sau.

Ngày Mậu Tuất, chiếu phục chức Triều phụng lang, Tri Đăng châu cho Tô Thức.

Ngày Kỷ Hợi, chiếu cho Lữ Công Trứ cưỡi trạm xe vào kinh.

Ngày Canh Tý, lấy Trình Hạo làm Tông chính tự Thừa.

Ngày Nhâm Dần, xây thành cho Khê, Lan, Thông Viễn quân, ban bạc lụa cho Lý Hiến, Triệu Tế có thứ bậc.

Ngày Giáp Thìn, chế tạo Bảo ấn Thụ mệnh.

Ngày Bính Ngọ, Kinh sư động đất, bắt đầu từ giờ Dậu, rồi dừng.

Lại đặt Lương châu.

Chiếu: "Cung binh ở 3 lộ trong địa giới Khai Phong phủ, đều theo lệ trước khi thi hành Bảo giáp mà đặt lại."

Ngày Canh Tuất, Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Môn hạ Thị lang, Kỳ quốc công Vương Khuê mất, tặng Thái sư, thụy là Văn Cung. Lễ bộ nói nên cử ai, thành phục, chiếu vì Đại hành còn quàn nên bãi bỏ. Khuê từ khi làm Chấp chính đến Tể tướng cộng 16 năm, không có điều gì kiến nghị rõ rệt, bấy giờ gọi là "Tam chỉ Tể tướng", vì khi lên điện dâng tấu thì nói "xin lấy Thánh chỉ", bề trên phê chuẩn hay không thì nói "lĩnh Thánh chỉ", lui ra bảo người đến xin chỉ thị thì nói "đã được Thánh chỉ", nên mới thế. Lại cùng Thái Xác hợp sức để ngăn Tư Mã Quang, mà khởi binh Tây chinh, bị dư luận chê trách.

Đổi lệnh Thái Xác làm Sơn lăng sứ.

Ngày Bính Thìn, ban cho Tiến sĩ do Lễ bộ dâng tên là Tiêu Đạo và những người khác, cùng các khoa, đỗ, xuất thân, đồng xuất thân 461 người.

Thái hoàng Thái hậu cho trạm dịch triệu Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, chưa đến nơi thì sai Trung sứ ra đón hỏi thăm, lại thân viết thư hỏi hôm nay việc thiết lập thi hành nên lấy điều gì làm trước. Chưa kịp ghi chép xuống, đã cho giải tán phu dịch tu sửa Kinh thành, giảm bớt quân tuần tra trong Hoàng thành, dừng các việc công kỹ trong cấm đình, đuổi những kẻ gần gũi hầu cận mà vô cùng bê bối, răn bảo trong ngoài không được hà khắc thu góp, nới lỏng việc giữ ngựa của dân gian bảo hộ hộ, bãi bỏ các trường mua bán vật hàng mà triều đình đã lập. Các việc đều do trung chỉ mà ra, Vương Khuê cùng những người khác đều không được biết trước.

Cao Tuân Dụ vì tội thất luật trong việc Tây chinh mà bị xử tội, Thái Xác muốn dâng lời nịnh để giữ vững địa vị, xin phục lại quan chức cho ông ta. Thái hoàng Thái hậu sau nói: "Tuân Dụ trong trận Linh Vũ khiến trăm vạn sinh linh lầm than. Tiên đế nửa đêm được tin báo, liền dậy, đi vòng quanh giường, suốt đêm không ngủ được, từ đó kinh sợ, dần dần dẫn đến đại họa, vạ do Tuân Dụ mà ra, được miễn tội hình tru là may lắm rồi; tiên đế thịt còn chưa lạnh, ta sao dám vì tư ân mà trái với công nghị của thiên hạ ư!" Thái Xác run sợ lui ra.

Ngày Mậu Ngọ, lấy Thượng thư Hữu Bộc xạ kiêm Trung thư Thị lang Thái Xác làm Thượng thư Tả Bộc xạ kiêm Môn hạ Thị lang, Tri Khu mật viện sự Hàn Chẩn làm Thượng thư Hữu Bộc xạ kiêm Trung thư Thị lang, Môn hạ Thị lang Chương Đôn làm Tri Khu mật viện, Tư Chính điện học sĩ Tư Mã Quang làm Môn hạ Thị lang.

Ban đầu, Quang với chức Tri Trần châu đi qua kinh khuyết, được vào yết kiến, Thái hoàng Thái hậu sai Trung sứ đem chiếu thư ngày mồng 5 tháng 5 cho Quang xem. Quang nói: "Lời chiếu thư ở phần đầu và phần cuối, vốn đã hết sức tốt đẹp; nhưng ở giữa lại đón trước mà lấy 6 điều để ngăn chặn, thần cho rằng người ta chỉ vì không nói, hễ nói thì liền rơi vào 6 điều ấy. Hoặc đối với quần thần có lời khen chê, thì bị cho là ngầm ôm ấp điều gì; hơi có dính líu đến việc ngoài chức phận bản chức, thì bị cho là phạm vào phần việc không thuộc về mình; bày tỏ đại kế an nguy của quốc gia, thì bị cho là khuấy động việc cơ mật trọng yếu; hoặc lời nói ngầm hợp với triều chỉ, thì bị cho là đón ý những mệnh lệnh đã thi hành; nói tân pháp không tiện nên sửa đổi, thì bị cho là dò xét ý hướng của triều đình; nói dân gian sầu khổ đáng thương, thì bị cho là làm mê hoặc tình cảm lưu tục. Như thế thì việc trong thiên hạ không còn gì có thể nói được nữa, tức là chiếu thư bắt đầu bằng việc cầu can gián mà kết thúc lại là cự tuyệt can gián vậy. Xin xóa bỏ đoạn ở giữa, để cho người ta bày tỏ hết điều ôm ấp trong lòng, không lo bị giáng truất trừng phạt, thì việc trong ngoài, tình hình xa gần, sẽ rõ ràng như chỉ vào lòng bàn tay vậy."

Đến đây được bái làm Môn hạ Thị lang, Quang từ chối, dâng lên 2 tấu trát. Một bản xin chỉnh đốn thay đổi tân pháp, nói: "Tiên đế gắng sức cầu trị để đạt đến thái bình, chẳng may những người được ủy thác không đủ để ngẩng lên đáp lại thánh chí, phần nhiều lấy ý riêng mà khinh suất sửa đổi cựu chương, gọi đó là tân pháp. Điều mà những người ấy muốn làm, thì người chủ không thể lấy đi, thiên hạ không thể lay chuyển. Sĩ đại phu trong hàng trâm trúc nhìn gió mà thuận theo dòng, tranh nhau dâng sách lược, đặt ra các pháp Thanh miêu, Miễn dịch, Thị dịch, Xá thải… Lại có kẻ ở biên ấp, làm liều mong may, khinh suất động binh đao, tiến sâu vào đất địch, khiến binh phu mấy chục vạn phơi thây nơi đồng hoang. Lại có kẻ sinh sự, đề nghị đặt Bảo giáp, Hộ mã để làm vốn cho võ bị, thay đổi các pháp về trà, muối, lò sắt, tăng thuế gia nghiệp, xâm lấn tiền thuế thương nhân trên phố để cung ứng quân nhu, đó đều không phải là bản chí của tiên đế. Tiên đế thăng hà, thần chạy tang đến Kinh, bèn được Thái hoàng Thái hậu bệ hạ đặc sai Trung sứ, hỏi về được mất. Xét việc trong thiên hạ rất nhiều, chỉ xin hạ chiếu, khiến quan lại dân chúng được dâng sớ phong kín mà nói lên, thì may ra nỗi tật khổ trong dân gian không điều gì là không được nghe biết. Sau đó nghe có chỉ bãi việc tu sửa thành mà dùng phu dịch, rút bớt quân tuần tra, dừng các việc chế tác trước ngự, dân Kinh thành đã tự mình vui mừng nhảy nhót. Đến khi thần trở về Tây Kinh, lại nghe tiếp việc đuổi bọn gần gũi vô lại, răn bảo hữu ty phụng pháp không đúng mực mà làm phiền nhiễu quá đáng, bãi các trường vật hàng và Hộ mã mà triều đình nuôi, lại nới rộng niên hạn bảo mã, người bốn phương không ai là không phấn khởi ca tụng thánh đức. Phàm điều thần muốn nói, bệ hạ đại lược đã thi hành. Nhưng vẫn còn những điều làm hại dân, tổn nước, có hại mà không có lợi, như 3 việc Bảo giáp, tiền Miễn dịch, Tướng quan, đều là cấp vụ của ngày nay, là những điều chỉnh đốn nên làm trước, thần sẽ dâng tấu riêng, cúi mong sớm ban cho thi hành."

Lúc ấy đang sai Trung sứ triệu Quang vào nhận cáo mệnh, Quang lại từ chối. Thái hoàng Thái hậu ban cho chiếu thư viết tay rằng: "Tiên đế mới bỏ thiên hạ, Thiên tử còn thơ ấu, đây là lúc nào, mà khanh lại từ chối chức vị vậy?" Lại sai Lương Duy Giản tuyên chỉ rằng: "Tấu chương khanh dâng lúc sớm, ta đã hiểu hết ý, lại hạ chiếu mở đường ngôn luận, đợi khanh nhận chức mà thi hành." Quang từ đó không dám từ chối nữa.

Bấy giờ dân ngày đêm ngóng cổ trông xem tân chính, mà người bàn luận vẫn cho rằng 3 năm không thay đổi đạo của cha. Quang cảm khái tranh biện rằng: "Pháp của tiên đế, điều tốt thì dù trăm đời cũng không thể thay đổi. Còn những điều do bọn Vương An Thạch, Lữ Huệ Khanh đặt ra, gây hại cho thiên hạ, không phải là bản ý của tiên đế, thì sửa đổi phải như cứu cháy cứu đuối, còn e không kịp. Xưa Hán Văn Đế bỏ hình phạt chặt chân, người bị chặt ngón chân phải thì bị bỏ chợ, người bị đánh trượng 500 thì phần nhiều chết, đến năm đầu niên hiệu Cảnh Đế liền sửa đổi. Vũ Đế đặt ra các pháp muối sắt, thu rượu, Quân thư, diễn toán pháp, đến Chiêu Đế thì bãi bỏ. Đường Đại Tông buông thả hoạn quan cầu hối lộ, đặt khách xá, giam giữ người bốn phương, đến Đức Tông lên ngôi chưa đầy 3 tháng thì bãi bỏ. Cuối đời Đức Tông đặt ra Cung thị, bọn trẻ Ngũ phường hung bạo, muối sắt mỗi tháng dâng tiền thặng dư, đến Thuận Đế lên ngôi thì bãi bỏ. Đương thời người ta vui mừng phục tùng, hậu thế ca tụng, chưa từng có ai chê trách. Huống chi Thái hoàng Thái hậu là mẹ sửa đổi việc của con, chứ không phải con sửa đổi việc của cha vậy!" Do đó dư luận mới dừng.

Tháng 6, ngày Bính Dần, bãi việc Bảo giáp ở 3 lộ phủ giới không được phép đầu quân và sung vào các chỉ huy cung tiễn thủ.

Ngày Mậu Thìn, Liêu chúa đóng quân ở Đà Tha Cổ Liệt.

Ngày Canh Ngọ, ban tặng lụa và gạo cho người con hiếu ở Sở châu là Từ Tích. Tích 3 tuổi thì cha mất, mỗi sáng đều khóc rất thảm thiết. Mẹ bảo đọc "Hiếu kinh", liền rơi nước mắt. Thờ mẹ hết lòng hiếu, sớm tối đội mũ thắt đai vào chầu hỏi. Năm 40 tuổi, không lấy vợ, không ra làm quan. Không lấy vợ là vì sợ người khác họ không thể hết lòng với mẹ; không làm quan là vì sợ một ngày rời xa cha mẹ. Người trong làng khuyên ông ta đi ứng cử, bèn cùng mẹ đến Kinh sư. Đã đỗ khoa, chưa điều bổ quan chức thì mẹ mất, bèn không ra làm quan nữa. Giám ty tâu lên hạnh kiểm của ông, cho làm Giáo thụ quận. Lâu sau, cáo quan về ở Sơn Dương. Tích từng nói với Tô Thức: "Từ xưa đều có người có công, mà chỉ xưng công của Đại Vũ; từ xưa đều có người có tài, mà chỉ xưng tài của Chu Công, là vì họ dùng đức để dẫn dắt đó thôi." Tô Thức cho là phải.

Liêu chúa nhớ đến lòng trung của Tiêu Ô Nạp, muốn cho ông ta lấy Việt quốc công chúa. Công chúa là con gái thứ 3 của Liêu chúa, trước gả cho Tiêu Thù Oát, lúc ấy Thù Oát vì tội mà bị bỏ, nên muốn cho Ô Nạp lấy nàng, Ô Nạp cố từ chối. Ngày Nhâm Thân, đổi Vương Tích làm Nam phủ Tể tướng, liền sai Ô Nạp kiêm Tri Nam viện Khu mật sứ sự.

Ngày Bính Tý, lấy Tư Chính điện học sĩ Hàn Duy làm Tri Trần châu. Duy ban đầu đến gần Kinh khuyết, Thái hoàng Thái hậu hạ chiếu thư viết tay hỏi thăm. Duy tâu: "Đạo trị thiên hạ, không nhất thiết phải quá cầu cao xa, cốt ở chỗ xét rõ nhân tình mà thôi. Biết nhân tình không khó, lấy lòng mình suy ra tình người thì có thể thấy được. Nhân tình nghèo thì nghĩ đến giàu, khổ thì nghĩ đến vui, lao khốn thì nghĩ đến nghỉ, uất tắc thì nghĩ đến thông. Bệ hạ thật có thể thường lấy lợi dân làm gốc, thì dân sẽ giàu; thường lấy yêu dân làm lòng, thì dân sẽ vui; bỏ những việc sai dịch làm trở ngại nông vụ, thì lao khốn sẽ nghỉ; trừ bỏ những pháp lệnh không có ích cho đạo trị, thì uất tắc sẽ thông." Lại tâu: "Thần từng xin bệ hạ xét kỹ nguồn gốc trộm cướp, bãi bỏ những lệnh không phải là nghề chính, nới rộng thời hạn huấn luyện, đó là vì Bảo giáp, Bảo mã mà phát ra. Thần không phải nói quốc mã rốt cuộc không thể nuôi, nhưng chỉ cần triều đình đặt Giám mục là đủ; không phải nói binh dân rốt cuộc không thể dạy, nhưng chỉ nên nhân lúc nông nhàn mà huấn luyện một thời là được." Đến đây, được cất nhắc làm Tri Trần châu; chưa đi, lại được triệu kiêm Thị độc, gia Đại học sĩ.

Ngày Đinh Sửu, Tông chính tự thừa Trình Hạo mất. Hạo lúc 15, 16 tuổi, cùng em là Di nghe Chu Đôn Di luận học, bèn chán khoa cử, cảm khái mà có chí cầu đạo, dạo khắp các nhà, ra vào nơi Phật, Lão mấy chục năm, rồi lại tìm cầu ở "Lục kinh" mà sau mới được. Lời ông nói: "Đạo không sáng tỏ, là do dị đoan làm hại. Xưa cái hại gần và dễ biết, nay cái hại sâu và khó phân biệt; xưa mê hoặc người là nhân lúc họ mờ tối, nay mê hoặc người là nhân lúc họ cao minh. Đó đều là bụi rậm che lấp đường chính, bít tắc cửa Thánh, phải dọn sạch rồi sau mới có thể vào đạo." Hạo mất, Văn Ngạn Bá đề trên mộ ông là "Minh Đạo tiên sinh". Em là Nghi viết lời tự rằng: "Mạnh Kha mất, học của Thánh nhân không được truyền, tiên sinh sinh sau đó 1.400 năm, được cái học không truyền ở di kinh, từ sau Mạnh Tử, chỉ có 1 người mà thôi."

Ngày Mậu Dần, lấy Phụng nghị lang, Tri An Hỉ huyện sự người Thanh Bình là Vương Nham Tẩu làm Giám sát ngự sử. Ban đầu, Thần Tông chiếu cho cận thần cử Ngự sử, người cử vốn có ý hướng về Nham Tẩu mà chưa kịp gặp mặt. Có người bảo có thể đi gặp một lần, Nham Tẩu cười nói: "Đó là cái gọi là ‘trình thân Ngự sử’ vậy." Rốt cuộc không đi gặp. Đến đây, dùng lời tiến cử của Lưu Chí mà vào Đài.

Ngày Quý Mùi, Lữ Công Trứ vào yết kiến, Thái hoàng Thái hậu sai Trung sứ ban ăn. Công Trứ dâng tấu 10 điều: một là sợ trời, hai là yêu dân, ba là tu thân, bốn là giảng học, năm là dùng hiền, sáu là nạp gián, bảy là giảm thu góp, tám là giảm hình, chín là bỏ xa xỉ, mười là không buông thả. Lại dâng tấu nói: "Tiên đế mới định chế độ trong cung, đặt chức Gián nghị đại phu, Tư gián, Chính ngôn, số viên rất đầy đủ. Nên chọn những người cốt cán, dám nói, đặt khắp hai bên tả hữu, khiến họ giữ chức can gián tranh luận. Lại nữa, chức Ngự sử được gọi là tai mắt của Thiên tử, mà mấy năm gần đây, chuyên lo việc Lục sát cố sự. Cúi xin bãi hết các việc sát án, chỉ đặt 4 hoặc 6 Ngự sử ngôn sự, lại chiếu cho quan Gián, Ngự sử đều phải thẳng thắn nói không kiêng dè, chỉ ra lỗi lầm của bề trên, nêu những sai sót trong thời chính, chỉ rõ bọn gian đảng trong quần thần, bày tỏ nỗi tật khổ của thứ dân."

Chiếu: "Hộ bộ thúc ép thu tiền lãi Thị dịch theo như lệnh đại xá mà trừ bỏ, còn vốn gốc thì đặc biệt cho hoãn 3 năm."

Ngày Đinh Hợi, chiếu rằng: "Trẫm mới nắm giữ mọi việc chính, uất ức vì đại đạo, sớm tối kính sợ, lo không có cách nào để làm sáng rỡ công nghiệp tốt đẹp của tiên đế mà yên ổn tập hợp dân thiên hạ. Nghĩ mãi đến các bậc vương giả xưa, lúc mới nắm việc trị, tất phải sáng mắt thấu tai để phòng ngừa bưng bít. Kinh Thi chẳng nói: ‘Phỏng dư lạc chỉ’ đó sao? Ấy là Thành Vương vì thế mà cầu giúp, còn quần thần vì thế mà dâng lời răn, trên dưới cùng cảnh tỉnh, để thành tựu công nghiệp của Văn, Vũ, trẫm rất ngưỡng mộ. Phàm các thần liêu trong ngoài và dân chúng, đều cho phép dâng sớ phong kín mà thẳng nói những thiếu sót trong triều chính, những tật khổ trong dân gian; ở Kinh thì nộp vào Trống Đăng văn, Kiểm viện, ở ngoài thì nộp vào dịch trạm thuộc châu, quân sở tại để trình lên, trẫm sẽ thân xem, để khảo xét tìm tòi trong đó mà thi hành." Tư Mã Quang đã 3 lần dâng tấu xin sửa chiếu trước, đến đây mới dùng lời ông.

Lữ Công Trứ đã dâng 10 điều, Thái hoàng Thái hậu sai Trung sứ bảo Công Trứ rằng: "Xem tấu chương của khanh, rất có chỗ khai mở ích lợi. Lúc này cứu vớt tật khổ của dân, việc thay đổi nên lấy điều gì làm trước?" Ngày Canh Dần, Công Trứ lại dâng tấu rằng: "Từ khi Vương An Thạch nắm chính, thay đổi cựu pháp, quần thần có người luận điều không tiện của nó, thì bị chỉ là phá hoại pháp độ, tất bị bãi truất. Vì thế pháp Thanh miêu, Miễn dịch thi hành mà lấy hết tài sản của dân, pháp Bảo giáp, Bảo mã thi hành mà dùng kiệt sức lực của dân, pháp Thị dịch, Trà diêm thi hành mà cướp hết lợi của dân, những loại như thế rất nhiều. Thay đổi phải có phép, không ở chỗ vội vàng. Như pháp Thanh miêu, chỉ cần bãi bỏ việc so sánh từng năm, thì quan lại đã không cầu công, bách tính tự tránh được nạn bị ép buộc. Pháp Miễn dịch, nên giảm bớt số tiền thu dư, ước lượng số tiền sai phái thuê mướn cho thích đáng, không để hạ hộ phải trống rỗng mà vẫn có khoản nộp. Pháp Bảo giáp, chỉ cho phép nhân lúc nông nhàn mùa đông mà dạy tập, lại giao cho Giám ty bản lộ tra xét, đã không đến nỗi làm hại nông, hại dân, thì dân chúng sẽ dần dần được yên nghiệp. Còn như pháp Bảo mã, triều trước đã biết hữu ty phụng hành sai lầm; pháp Thị dịch, tiên đế càng thấy nó có hại mà không có lợi; đến việc phân phối bán trà muối quá nhiều ở các lộ Phúc Kiến, Giang Nam, dân ở đó hầu như không thể sống nổi, e rằng nên bãi bỏ hết, mà pháp muối ở phương Nam, Bảo giáp ở 3 lộ, lại càng là điều nên bãi bỏ trước. Bệ hạ nếu thật muốn sửa sang mọi việc chính, khiến không làm kinh động tai nghe của dân mà thực sự lợi đến dân, thì không gì bằng lấy việc dùng người làm cấp bách." Lại dâng tấu rằng: "Tôn Giác ngay thẳng, có học thức, có thể sung Gián nghị đại phu. Phạm Thuần Nhân cương nghị, có phong lực, có thể sung Gián nghị đại phu hoặc Hộ bộ Hữu Tào Thị lang. Lý Thường thanh trực, có giữ, có thể làm Ngự sử Trung thừa. Lưu Chí bản tính đoan hậu, có thể sung Thị ngự sử. Tô Thức, Vương Nham Tẩu đều có tài khí, có thể sung quan Gián hoặc Ngự sử ngôn sự."

Thái hoàng Thái hậu phong tấu trát của Công Trứ giao cho Tư Mã Quang: "Xét kỹ lợi hại của những điều đã trình về việc thay đổi, cứ thẳng thắn mà tâu lên." Quang tâu: "Điều Công Trứ trình, hoàn toàn phù hợp với lời thần; chỉ riêng một việc Bảo giáp, đã biết nó gây hại cho dân, không có ích cho quốc gia, thì nên bãi bỏ hết, còn dùng việc dạy tập làm gì nữa."

Quang lại tâu rằng: "Bệ hạ mở lòng với thần, cho thần chọn nhiều sĩ. Thần trộm thấy Lưu Chí công trung, cương chính, trước sau không đổi; Triệu Diên Nhược bác học, có phong thái của cha, hạnh kiểm bên trong chỉnh tề; Phó Nghiêu Du thanh lập, an tĩnh, bị giam hãm đã lâu năm; Phạm Thuần Nhân khi lâm sự thì sáng suốt, nhanh nhẹn, không sợ cường ngạnh; Đường Thục Vấn xử mình có hổ thẹn, khó tiến dễ lui; Phạm Tổ Dũ ôn lương, đoan hậu, tu thân không thiếu. Sáu người này, đều là những người thần quen biết từ lâu, nếu cho họ hoặc giữ chức ở Đài gián, hoặc hầu giảng đọc, tất có ích lợi. Còn như Lữ Đại Phòng, Vương Tồn, Lý Thường, Tôn Giác, Hồ Tông Dự, Hàn Tông Đạo, Lương Thao, Triệu Quân Tích, Vương Nham Tẩu, Yến Tri Chỉ, Phạm Thuần Lễ, Tô Thức, Tô Triệt, Chu Quang Đình, hoặc vì hạnh nghĩa, hoặc vì văn học, đều được mọi người suy tôn, cúi mong bệ hạ ghi nhớ tên họ, tùy theo tài năng, lúc cần thì dùng. Còn bọn Văn Ngạn Bác, Lữ Công Trứ, Phùng Kinh, Tôn Cố, Hàn Duy, đều là bậc lão thành của quốc gia, có thể nương cậy tin dùng, cũng nên khiến họ mỗi người tiến cử người mình biết, may ra có thể tham khảo dị đồng, không để sót mất."

Tri Khánh châu Phạm Thuần Nhân tâu: "Tệ nạn của quận ấp, Thủ lệnh biết; tệ nạn của một lộ, Diêm ty biết; tệ nạn của Trà diêm, Lợi cục, Dân binh, Hình pháp, Sai dịch, thì người đứng đầu cục ấy và người nhận việc ký thác ấy biết; tệ nạn của quân chính, thì Tam soái và người lĩnh quân biết; tệ nạn của biên phòng, thì người giữ biên biết. Cúi mong đặc hạ minh chiếu, khiến mỗi người ghi chép trình bày việc thuộc bản chức, hạn trong 1 tháng phải tâu lên. Cũng có thể nhân những điều họ trình, đại lược biết được tài trí của người ấy, rồi sau đó chọn lựa kỹ càng mà thi hành."

Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Ngọ, chiếu bãi bỏ việc Thị dịch, Để đương ở các trấn trại.

Ngày Mậu Tuất, lấy Tư Chính điện Đại học sĩ kiêm Thị độc Lữ Công Trứ làm Thượng thư Tả Thừa. Công Trứ tâu: "Chế độ của quốc triều, mỗi khi vào điện tâu việc, chỉ có 2 ban Trung thư, Khu mật viện. Trước đây tiên đế sửa định quan chế, Trung thư, Môn hạ, Thượng thư tỉnh mỗi nơi làm một ban, tuy có 3 tỉnh, cùng dâng tấu trình thì cũng ít. Các thần chấp chính đều là do triều đình chọn lựa kỹ càng, chính nên một lòng đồng sức, tập hợp trí tuệ của mọi người, để phụ trợ việc canh tân chính sự." Bèn chiếu rằng phàm những việc 3 tỉnh cùng xin chỉ, và chương tấu của Đài gián, đều cùng dâng trình mà thi hành.

Chiếu: "Bảo giáp ở 3 lộ phủ giới, từ tháng Giêng năm sau trở đi, đều bãi bỏ việc đoàn luyện, vẫn theo cựu pháp Nghĩa dũng, mỗi năm nhân lúc nông nhàn đến huyện, dạy duyệt 1 tháng."

Ngày Giáp Thìn, Tư Mã Quang xin bãi bỏ hết Bảo giáp các nơi, cho Bảo chính, Trưởng sử trở về làm ruộng. Theo cũ đặt Kỳ lão, tráng đinh, để tuần bắt trộm cướp; Hộ trưởng thúc giục thu thuế. Số Bảo mã đã nuôi, chọn lọc kê khai, Thái phó tự ước lượng cấp tiền, phân phối cho 2 viện Kỳ Kỵ. Thái Xác cùng những người khác giữ tấu không cho thi hành. Chiếu: "Bảo giáp theo chỉ huy ngày mồng 6 tháng này của Khu mật viện, Bảo mã sẽ bàn riêng lập pháp."

Bấy giờ thần liêu, dân chúng theo chiếu nói tân pháp không tiện có đến mấy nghìn người. Tư Mã Quang tâu: "Xin hạ lệnh giao cho 3 tỉnh, ủy cho các thần chấp chính xem xét kỹ, chọn điều có thể lấy, dùng thẻ vàng ghi ra dâng lên lần nữa, hoặc lưu lại bên cạnh, hoặc giao cho hữu ty thi hành." Theo đó mà làm.

Ngày Bính Ngọ, nước Liêu sai sứ đến điếu tế.

Ngày Bính Thìn, Thị lang Bộ Lại Hùng Bản tâu việc quy hóa của Nùng Trí Hội có chỗ khác nhau, bị phạt tiền.

Bãi việc tăng tu thành lũy ở Nguyên châu.

Ngày Mậu Ngọ, Liêu chúa săn bắn ở Xích Sơn.

Tháng 8, ngày Ất Sửu, chiếu: "Quan Án sát đến nơi nào, nếu có người tài năng hiển hách, thì phải tâu tên lên."

Ngày Đinh Mão, Liêu chúa đi Khánh châu; ngày Mậu Thìn, yết Khánh lăng.

Ngày Quý Mùi, Gián nghị đại phu Tôn Giác tâu: "Xin theo chiếu thư viết tay năm Thiên Hi thứ 1, nói rằng các quan Gián nghị đại phu tả hữu, Tả hữu Bổ khuyết, Thập di, phàm phát lệnh cử sự, có điều không tiện với thời, không hợp với đạo, thì việc lớn đưa ra đình nghị, việc nhỏ thì dâng sớ phong kín. Nếu hiền lương bị bỏ sót ở dưới, trung hiếu không được nghe ở trên, thì ghi chép sự trạng mà tiến cử." Chiếu theo đó tuyên bố rõ ràng mà thi hành.

Ngày Đinh Hợi, chiếu: "Các Giám mục Mục mã mới đặt ở phủ giới, cùng Ty Đề cử Kinh độ Chế trí Mục mã đều bãi bỏ."

Ngày Kỷ Sửu, Tư Mã Quang tâu: "Gần đây hạ lệnh cho nông dân dâng sớ phong kín kể tật khổ, có 150 đạo của bọn Vương Sắc; trừ những điều trùng lặp, đều dùng thẻ trình vào. Thần trộm nghĩ người làm nông, nuôi tằm là nguồn gốc y thực của thiên hạ, là chỗ người ta nương sống, nên thánh vương coi trọng. Thần nghe Thái Tông từng du ngoạn hồ Kim Minh, triệu mấy chục phụ nữ làm ruộng lên điện, ban chiếu cho ngồi, hỏi về tật khổ trong dân gian, ban lụa để khuyến khích. Thái Tông hưng khởi từ chỗ thấp hèn, việc dân gian vốn không điều gì không biết, sở dĩ như thế là vì sợ giàu sang mà quên mất. Nhũ mẫu của Chân Tông là Tần quốc phu nhân Lưu thị, vốn là nhà nông, thích nói chuyện nhà nông, Chân Tông từ nhỏ đã nghe; đến khi lên ngôi, trị bình niên hiệu Hàm Bình, Cảnh Đức, là cực điểm thái bình của nhà nước, ‘Cảnh Đức Nông điền sắc’ đến nay vẫn được cho là tinh xác. Nếu không mở rộng đường ngôn luận, khiến dân ở ruộng đồng đều được dâng sớ phong kín, thì tật khổ của hạng người này, làm sao có được một phần vạn mà đến được tai trời!

Ban đầu, năm Hy Ninh thứ 6 lập pháp, khuyến khích dân trồng dâu, ai không theo lệnh, thì phỏng theo phép phạt thóc nhà, vải làng mà phạt. Đến đây dân Hồ Xương ở Sở Khâu nói điều không tiện, chiếu bãi bỏ, lại tha số tiền phạt đã mắc. Huyện Hưng Bình ép ruộng dân làm Mục địa, dân cũng tự tâu, chiếu trả lại hết."

Tháng 9, ngày Ất Mùi, bãi việc Miễn hành tiền.

Ngày Mậu Tuất, dâng thụy hiệu cho Đại hành Hoàng đế là Anh Văn Liệt Vũ Thánh Hiếu Hoàng đế, miếu hiệu Thần Tông.

Ngày Kỷ Dậu, lấy Bí thư Thiếu giám Lưu Chí làm Thị ngự sử.

Chí dâng sớ rằng: "Thần trộm thấy quan Gián hiện chỉ có 1 viên Đại phu, Ngự sử đài từ Trung thừa, Thị ngự sử, 2 Điện trung, theo pháp được nói việc ngoài, 6 viên Giám sát Ngự sử thì chuyên xét trị công việc của quan ty. Muốn mong thánh từ ở Viện Gián tăng thêm số viên quan Gián, 6 viên Ngự sử Lục sát của bản Đài đều cho phép nói việc, những việc sát án mà họ đảm nhiệm tự không bỏ như cũ. Điều quý là cùng hết lòng trung sức, cùng giúp thánh chính."

Triệu Triều phụng lang, Tri Đăng châu Tô Triệt làm Lễ bộ Lang trung.

Ngày Mậu Ngọ, Giám sát Ngự sử Vương Nham Tẩu dâng sớ rằng: "Nay cái hại lớn của dân không ngoài 3, 5 việc, như Thanh miêu thực sự làm khốn gốc của dân, phải bãi bỏ hết; mà chỉ thị gần đây chỉ lệnh giảm bớt số thu dư mà thôi. Cái hại của Bảo giáp, là do quan lại trên dưới của Ty Đề cử một ty ấy ép buộc mà nên, mà chỉ thị gần đây tuy chỉ lệnh dạy vào mùa đông, nhưng quan ty vẫn còn. Đó đều là bọn gian tà thuận theo sai trái, tô điểm lỗi lầm, sẽ đến chỗ tệ sâu, chỉ sơ lược tỏ ra thay đổi, để ứng với thánh ý của bệ hạ. Xin khiến khảo cứu kỹ càng mà gắng sức trừ bỏ."

Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Hợi, Liêu chúa đi Hảo Thảo Điện.

Ngày Giáp Tý, nước Hạ sai sứ dâng ngựa giúp việc Sơn lăng.

Ngày Quý Dậu, chiếu: "Phỏng theo ‘Đường Lục điển’ đặt quan Gián, ghi rõ số viên đặt mà tâu lên." Là theo lời của Lưu Chí.

Ngày Đinh Sửu, chiếu: "Thượng thư, Thị lang, Cấp, Xá, Gián nghị, Trung thừa, Đãi chế trở lên, mỗi người tiến cử 2 người có thể sung quan Gián để tâu lên."

Ban đầu, trung chỉ bổ Phạm Thuần Nhân làm Tả Gián nghị đại phu, Đường Thục Vấn làm Tả Tư gián, Chu Quang Đình làm Tả Chính ngôn, Tô Triệt làm Hữu Tư gián, Phạm Tổ Dũ làm Hữu Chính ngôn, lệnh 3 tỉnh, Khu mật viện cùng dâng trình. Thái hoàng Thái hậu hỏi: "5 người này thế nào?" Chương Đôn nói: "Theo lệ cũ, quan Gián đều do các quan Lưỡng chế trở lên tâu cử, rồi Tể chấp tiến cử. Nay bổ nhiệm do trung chỉ mà ra, thần không biết bệ hạ từ đâu biết họ, chẳng phải là do người bên cạnh tiến cử ư? Cửa này không thể dần dần mở." Thái hoàng Thái hậu nói: "Đều là do đại thần tiến cử, không phải người bên cạnh." Đôn nói: "Đại thần nên minh bạch đề cao, sao lại tiến cử một cách bí mật?" Do đó Lữ Công Trứ lấy việc Phạm Tổ Dũ, Hàn Chẩn, Tư Mã Quang lấy việc Phạm Thuần Nhân là thân thích mà nói. Đôn nói: "Đài gián là để buộc ràng những điều bất pháp của thần chấp chính. Theo lệ cũ, thần chấp chính mới được bổ, thân thích và người do họ tiến cử mà được làm Đài gián đều bị dời sang chức khác. Nay nên theo lệ cũ, không thể trái pháp của tổ tông." Quang nói: "Thuần Nhân, Tổ Dũ làm quan Gián, thật hợp với lòng mong của mọi người. Không thể vì thần mà ngăn đường người hiền, thần thà tránh chức." Đôn nói: "Chẩn, Quang, Công Trứ tất không đến nỗi có tư riêng, nhưng vạn nhất sau này có gian thần chấp chính, vin vào đây làm lệ. Xin đổi Thuần Nhân, Tổ Dũ sang chức khác, vẫn lệnh các quan Lưỡng chế trở lên đều được tâu cử." Vì thế có chiếu này. Thục Vấn, Quang Đình, Triệt thì bổ nhiệm vẫn như cũ; đổi Thuần Nhân làm Thiên Chương các Đãi chế, Tổ Dũ làm Trứ tác tá lang.

Chiếu: "Giám sát Ngự sử kiêm ngôn sự, Điện trung Thị ngự sử kiêm sát sự." Là dùng lời của Lữ Công Trứ và Lưu Chí.

Chiếu: "Bãi Nghĩa thương, số đã nộp, gặp năm mất mùa thì dùng để cứu tế."

Ngày Kỷ Mão, chiếu: "San đều, nới sức dân. Hữu ty nếu để đến nỗi bỏ phế, ngăn trở, thì Giám ty, Ngự sử phải đàn hặc."

Đê sông Hoàng Hà vỡ ở Tiểu Trương Khẩu thuộc Đại Danh, các quận Hà Bắc đều bị thủy tai. Tri Thiền châu Vương Lệnh Đồ đề nghị đào sâu sông cũ ở đê Nghênh Dương, lại phát Kim đê ở thôn Tôn đặt ước, khôi phục cố đạo. Chuyển vận sứ Phạm Tử Kỳ lại xin ở bờ bắc Đại Ngô tu sửa Tiến cự nha, bẻ gập thế sông. Do đó khởi ra nghị luận cho sông chảy vòng sang phía đông.

Thị ngự sử Lưu Chí tâu: "Chính sự của châu huyện, bỏ hay làm, được hay mất, trách nhiệm ở Giám ty. Nên hơi khôi phục lệ cũ của tổ tông, ở 3 lộ mỗi nơi đặt Đô chuyển vận sứ, dùng quan Lưỡng chế sung chức để làm nặng trách nhiệm. Các lộ còn lại, cũng mong chọn lựa những người có tư cách, chức trách tương đối cao, quen thuộc tình dân, hiểu thể trị, gần với trung đạo, khiến họ trung hậu an dân mà không đến nỗi buông lỏng, nhanh nhẹn ứng phó công việc mà không đến nỗi nông cạn."

Ngày Quý Mùi, lấy Long Đồ các Đãi chế Triệu Diên Nhược kiêm Thị độc, Triều phụng lang Phó Nghiêu Du kiêm Thị giảng. Trước đó Lưu Chí nói: "Hoàng đế bệ hạ tuổi xuân đỉnh thịnh, người ở bên tả hữu, trước sau nên là người chính trực cùng ở. Thần trộm thấy người kiêm Thị giảng là Lục Điền, Thái Biện, đều là tân tiến niên thiếu, muốn mong ở các quan Lưỡng chế trở lên chọn riêng những người thông kinh thuật, có hạnh nghĩa, trung tín hiếu đễ, thuần hậu lão thành, để sung chức ấy." Do đó Điền, Biện đều bị bãi, lấy Diên Nhược, Nghiêu Du thay.

Ngày Giáp Thân, nước Liêu lấy Tiêu Ô Nạp làm Nam viện Khu mật sứ. Ô Nạp tâu xin lại rằng các lại viên nên theo năm tháng mà thăng tiến, theo đó mà làm.

Ngày Ất Dậu, táng Thần Tông Anh Văn Liệt Vũ Thánh Hiếu Hoàng đế ở Vĩnh Dụ lăng.

Ngày Bính Tuất, chiếu bãi Phương điền.

Ngày Đinh Hợi, vì Hạ chúa có tang mẹ, sai sứ điếu tế.

Chiếu: "Các quan Đề cử Bảo giáp ở 3 lộ phủ giới đều bãi, lệnh các Ty Đề điểm phủ giới và Đề hình bản lộ kiêm lãnh."

Ngày Kỷ Sửu, Vương Nham Tẩu tâu: "Nghe phong thanh rằng Chương Đôn ở trước rèm hỏi bệ hạ về việc ngự bút bổ nhiệm quan Gián, lời nói có ý khinh mạn, lại hỏi bệ hạ từ đâu mà biết, ấy là không muốn uy quyền ở nơi người chủ, xin cho hiển nhiên giáng truất." Lưu Chí tâu: "Thần Tông Hoàng đế linh giá xuất phát, theo sắc, đêm hôm trước giờ Năm, các quan chấp chính của 3 tỉnh phải ngủ lại ở trướng. Tể thần Thái Xác một mình không vào ngủ lại, khinh bỏ điển lễ, có lòng bất cung." Tấu dâng, đều không trả lời. Tả Chính ngôn Chu Quang Đình tâu: "Thái Xác được tiên đế chọn dùng, chức đến Tể tướng, linh giá phát dẫn, liền phi ngựa đi trước mấy chục dặm để tự tiện, làm thần mà bất cung, không gì lớn hơn việc này." Lại nói Chương Đôn dối trá, phóng túng biện luận, Hàn Chẩn ôm tà, mạo nhận sủng, tấu dâng nhiều lần, lời rất gay gắt.

Tháng 11, ngày Quý Tị, chiếu: "Xét hỏi bọn cường đạo muốn tự thú thì không được giảm tội."

Nước Liêu, Da Luật Nghiễm làm Thứ sử Cảnh châu, răn trị lại dịch, cấm bọn hào cường xảo quyệt, vỗ về người già, thương xót kẻ nghèo; chưa mấy tháng, chính sự tốt lành lan truyền, người trong quận khắc đá ca tụng đức. Nghiễm là con của Trọng Hỉ (仲禧).

Ngày Ất Mùi, Liêu chúa xuống chiếu rằng: "Gần đây, quan ngoài nhờ tiếng khen mà được tiến cấp, lâu ngày không điều chuyển, dân chịu tai hại của họ. Từ nay về sau, đều căn cứ theo tư cấp mà thăng chuyển."

Ngày Đinh Dậu, dời thờ Dực Tổ, phối thờ chủ thần của Thần Tông vào gian thứ 8 trong Thái miếu, nhạc trong miếu gọi là "Đại Minh chi vũ".

Lấy Chủ quản Tây Kinh Ngự sử đài Tiên Vu Thâm (鮮于侁) làm Kinh Đông chuyển vận sứ.

Tư Mã Quang nói với mọi người rằng: "Mùa hạ năm nay lấy Tử Tuấn làm Chuyển vận sứ, thật là không nên. Nhưng triều đình muốn cứu tệ nạn ở đất Đông, thì không ai ngoài Tử Tuấn. Đây là phúc tinh của một lộ này, có thể làm khuôn mẫu cho chức Chuyển vận sứ, làm sao được trăm Tử Tuấn rải khắp thiên hạ vậy!" Tử Tuấn là tên tự của Thâm. Thâm tự tâu xin bãi bỏ 2 nha giám luyện sắt ở Lai Vu và Lợi Quốc, lại xin cho muối biển theo lệ Hà Bắc mà thông thương, dân rất vui mừng.

Ngày Tân Sửu, giảm tội cho tù nhân ở 2 Kinh và Hà Dương 1 bậc, từ tội trượng trở xuống thì tha cho; dân vì việc phục dịch Sơn lăng mà được miễn tô thuế.

Ngày Kỷ Dậu, nước Liêu sai sứ sang chúc mừng việc lên ngôi.

Ngày Tân Hợi, sử thần nước Liêu dâng "Thất đế thực lục" từ Thái Tổ trở xuống. Trước đó, Da Luật Mạnh Giản (耶律孟簡) từ Bảo châu được thả về, dâng biểu lên Liêu chúa rằng: "Bản triều hưng khởi, gần 200 năm, nên có Quốc sử để truyền lại đời sau." Liêu chúa bèn ra lệnh lập cục biên tu. Mạnh Giản nói với đồng liêu rằng: "Bút sử là đại tín của thiên hạ, một lời đúng hay sai, trăm đời theo đó. Nếu không có minh thức, yêu ghét theo tình riêng, thì họa không lường được, cho nên Tả thị, Tư Mã Thiên, Ban Cố, Phạm Vị Tông đều mắc tai ương, há có thể không cẩn thận sao!"

Ngày Bính Thìn, nước Liêu sai sứ sang Cao Ly, sách phong Vận, con của Tam Hàn quốc công Vương Huân, làm Cao Ly quốc vương.

Ngày Đinh Tị, lấy Hương cống Tiến sĩ Trình Di làm Nhũ châu Đoàn luyện thôi quan, kiêm Giáo thụ Quốc tử giám Tây Kinh; dùng theo lời tiến cử của Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, Hàn Cương.

Ngày Kỷ Mùi, nước Liêu cấm tăng ni không được vô cớ vào triều.

Tháng 12, ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu: "Ngày 15 tháng này mở Kinh diên, giảng Luận ngữ, đọc Tam triều bảo huấn, quan giảng đọc hằng ngày đến Tư thiện đường, lấy ngày chẵn giảng đọc, lại luân phiên 1 viên trực túc. Buổi đầu giảng và sau khi đổi phiên 10 ngày, Tể tướng và các quan chấp chính đều đến dự."

Bãi phép Bảo nhiệm đồng tội ở Thái học.

Vu Điền dâng sư tử, chiếu trả lại.

Ngày Bính Dần, Lưu Chỉ (劉摯) tâu rằng: "Tể thần Thái Xác (蔡確) đi sứ Sơn lăng trở về, ắt phải tự nhận lỗi mà hặc tội mình; nhưng Thái Xác không màng liêm sỉ, sợ mất tước vị, vô cớ tự lưu lại. Cúi mong sớm phát ra thánh đoán, bãi Thái Xác khỏi việc chính sự, để tỏ rõ phép nước."

Chiếu: "Trong phủ giới 3 lộ, nhà có 2 đinh thuộc hạng 5 của Bảo giáp được miễn việc huấn luyện mùa đông." Theo lời xin của Vương Nham Tẩu (王岩叟).

Người nước Hạ đem vật tùy thân mẹ mình để lại, cùng ngựa và lạc đà trắng đến dâng.

Ngày Giáp Tuất, bãi Hậu uyển Tây tác viện.

Lấy Thiên Chương các đãi chế Phạm Thuần Nhân, Trung thư xá nhân Vương Chấn đều làm Cấp sự trung. Vương Nham Tẩu nói Vương Chấn khi ra làm sứ không có tiếng khen về liêm khiết cứng cỏi, khi đứng chầu không có tiếng là ngay thẳng sáng suốt, chức trách phong bác không phải là chỗ Chấn nên đảm nhiệm. Sau đó liền ra lệnh cho Chấn ra ngoài trấn thủ.

Ban đầu, Thái Xác cùng Chương Đôn, Hình Thứ và những người khác mưu cùng nhau vu báng Thái hoàng Thái hậu, tự cho mình có công định sách, Hàn Thận vốn ôm lòng bất bình. Đến khi Thái Xác làm Sơn lăng sứ, Thận bèn ở trước rèm trình bày đầy đủ gian trạng của Thái Xác và bọn chúng, do đó trong nội triều và ngoài triều đều biết rõ.

Lưu Chỉ tâu: "Trước đây bọn Thái Xác được ân huệ thăng quan, Học sĩ thảo chiếu cho Thái Xác, có câu ‘một mình cao hơn nhờ công định sách’, ngày chiếu ban xuống, người hiểu biết đều biết là sai, mà Thái Xác lại ung dung nhận lấy. Lại nữa, Thái Xác cùng Chương Đôn kết chặt bè đảng, từ khi bệ hạ tiến dụng Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ đến nay, ý Thái Xác không cho là tiện, nên trong thì Thái Xác giả vờ hòa đồng, mà ngoài thì khiến Đôn tha hồ hung hãn, lăng mạ, ngăn trở, làm hại. Trong ngoài cho rằng nếu Thái Xác và Đôn không bị bãi, thì người thiện lương không có đường tự lập, thiên hạ rốt cuộc không được hưởng ân trạch nhân hậu."

Ngày Ất Hợi, Hoàng đế lần đầu ngự Nhĩ Anh các, giảng Luận ngữ.

Ngày Bính Tý, Chu Quang Đình (朱光庭) tâu rằng: "Thái Xác, Chương Đôn, Hàn Thận nên lệnh cho giải chức cơ vụ; Tư Mã Quang, Phạm Thuần Nhân nên tiến lên làm Tể phụ; Hàn Duy nên đặt ở chỗ thân mật. Đuổi 3 kẻ gian ra ngoài để làm trong sạch trăm quan, tiến 3 người hiền vào trong để giúp muôn việc, phong thái thái bình sẽ bắt đầu từ đây vậy."

Ngày Mậu Dần, bãi việc tăng thêm đặt 14 nha Giám đúc tiền.

Nước Liêu lấy Ngưu Ôn Thư (牛溫舒) làm Tri Tam ty sứ, quốc gia và dân đều đầy đủ. Liêu chúa cho là có tài, gia thêm chức Hộ bộ Thị lang.

Hết chương 77

Chương sauQuyển 79

Đọc chương 78 →

Bình luận về truyệnTrang truyện