Tục tư trị thông giám

Chương 85: Quyển 86

Khoảng 43 phút đọc · 9.512 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Mùa xuân, tháng Giêng, Liêu chúa đi đến Ngư Nhi Lạc.

Ngày Đinh Mão, xuất vàng lụa trong nội phủ 200 vạn để làm trữ bị biên thùy Thiểm Tây.

Ngày Tân Mùi, xuống chiếu bãi chức ở quán của các quan Trương Thuấn Dân (張舜民), Tất Trọng Du (畢仲游), Tôn Phác (孫樸), Triệu Duệ (趙睿), Mai Hạo (梅灝), Trần Sát (陳察), Lý Chiêu Kỷ (李昭玘).

Tháng 2, ngày Giáp Tuất, mồng 1, lệnh cho các giám ty mỗi lộ tiến cử mỗi nơi 2 người có học vấn và hạnh kiểm ưu tú.

Ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho phép Cao Ly quốc vương sai người sang triều cống.

Ngày Tân Tị, xuống chiếu: "Từ nay, phàm ai được ban chỉ tiến cử quan chức mà người được cử không xứng đáng, thì phải kê rõ họ tên người tiến cử để tâu lên."

Ngày Giáp Thân, người nước Hạ vì quốc mẫu qua đời, sai sứ sang báo tang và xin tạ tội. Ban chiếu khước từ sứ giả của họ.

Ngày Mậu Tý, Kiềm hạt Phu Diên Lưu An (劉安) đánh bại người Hạ ở Thần Đôi.

Ngày Ất Mùi, xuống chiếu cho Lại Bộ: "Việc khảo xét thành tích của các quan trấn nhậm, giao cho Ngự sử đài kiểm tra; ai không đúng thực thì bãi chức."

Tăng Bố (曾布) tâu: "Chương Đôn và Thái Biện thi hành việc xử lý người thời Nguyên Hựu, dư luận đều cho là quá đáng. Nhưng việc này đâu phải để bôi nhọ triều trước, phần nhiều chỉ là trả thù riêng mà thôi. Đôn và Biện lúc đầu hợp ý với nhau, nên Đôn đối với Biện, lời nào cũng nghe theo; đến khi bất hòa, Biện thường làm ngược lại, thiên hạ đều cười. Nay mọi việc triều chính đều do Biện quyết định, không ai dám trái." Hoàng đế nói: "Thái Kinh (蔡京) lại càng không xứng với Đôn." Bố nói: "Đôn đối với anh em họ Thái không ai là không kiêng sợ. Gần đây hắn khá muốn hạ mình cầu hòa với Kinh, nhưng Kinh không chịu nhún nhường."

Ngày Canh Thìn, Âu Dương Phỉ (歐陽棐) vào chầu, Hoàng đế nhìn ông, rồi bảo Tăng Bố: "Đây là một trong ‘Nguyên Hựu ngũ quỷ’." Bố nói: "Thần từng nghe tên người ấy. Kẻ phụ họa thời Nguyên Hựu tất nhiên cũng có, việc cai trị quận huyện của Phỉ cũng chỉ ở mức thường. Song Phỉ là con Âu Dương Tu, đỗ Tiến sĩ, mà Tu lúc Anh Tông định sách lập ngôi là người có công lớn nhất." Hoàng đế gật đầu.

Ngày Bính Thân, xuống chiếu cho Viên ngoại lang Lại bộ Tôn Ngạc (孫諤) được nhập vào danh sách bổ nhiệm, vì từng có lời oán than uất ức trong việc khiếu kiện thời Nguyên Hựu.

Người nước Hạ báo tin thua trận với nước Liêu để cầu viện. Tháng 3, ngày Bính Thìn, sứ giả Liêu là Tiêu Đức Sùng đến, thay mặt người Hạ xin hoãn việc xuất binh, đồng thời dâng ngọc đái.

Đắp thành Định Biên ở Hoàn Khánh lộ.

Ngày Đinh Tị, Tần Phụng Kinh lược ti tâu rằng Ngô Danh Cách (吳名革) dẫn bộ tộc, súc vật về hàng. Chiếu cho Danh Cách bổ chức Nội điện Thừa chỉ, thủ lĩnh Lí Di (李移) bổ Hữu Thị cấm, lại ban tiền lụa có thứ bậc khác nhau.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Thìn, Hoàng đế ngự đến phủ Thân vương.

Ngày Bính Tuất, xây dựng các trại Noãn Tuyền và Ô Long trên các lộ Phù Diên và Hà Đông.

Ngày Đinh Hợi, vì hạn, giảm tội cho tù ở Tứ kinh 1 bậc, từ tội trượng trở xuống đều tha.

Ngày Tân Mão, xuống chiếu: "Khi xét xử án, từ tội đồ trở lên phải kết án xong, rồi xét duyệt, tâu xét cẩn thận sau đó mới quyết định phát đi; ai không theo lệnh này thì xử tội."

Ngày Quý Tị, phong Vĩnh Gia Quận vương Tư làm Mục vương.

Sai Trung thư xá nhân Quách Tri Chương (郭知章) sang nước Liêu báo đáp việc bang giao.

Ngày Giáp Ngọ, lấy Phát vận sứ các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết là Trương Thương Anh (張商英) làm Quyền Công bộ Thị lang.

Ngày Đinh Dậu, đắp thành Uy Khương.

Chương Đôn xin cáo lão, liền tự ý ra ngoài ở tại tăng xá, gia quyến đã rời đi trước. Hoàng đế bèn hạ lệnh ước thúc, ngăn chặn hành lý, không tiếp nhận các chương tấu của Chương Đôn với danh nghĩa xin giải trừ chức vụ xử lý chính sự.

Tháng 5, ngày Giáp Thìn, sao Thái Bạch hiện giữa ban ngày.

Ngày Canh Tuất, đắp thành Kim Thang ở lộ Phu Diên.

Ngày Quý Hợi, phụng chuyển thần ngự của Chân Tông đến điện Diên Thánh thuộc Vạn Thọ quán.

Lập Tây An châu và các trại như Thiên Đô.

Cùng ngày, Liêu chúa đến bái yết Càn Lăng.

Ngày Ất Sửu, thăng quan cho Chương Đôn 5 bậc, Tăng Bố 3 bậc, còn Hứa Tướng, Thái Biện, Hoàng Lý đều được thăng 2 bậc.

Ngày Mậu Thìn, xuống chiếu: "Trẫm xem tấu chương thời còn làm Ngự sử của Trần Thứ Thăng, xét ý tứ nhỏ nhặt, a dua quyền thần, phỉ báng tiên đế. Trẫm dung thứ lỗi ấy, giao cho chức gián quan, mà hắn lại dám quen thói cũ, ngó trước nhìn sau khi nói việc, ở lâu chức vị, thật không chút ích nhỏ. Nay bãi chức cho đi làm một chức giám nhỏ ở nơi xa." Bèn giáng làm Giám thuế muối rượu Toàn Châu.

Nước Liêu lấy Tể tướng Nam Phủ Ngạch Đặc Lặc (額特勒) kiêm Tây Bắc Lộ Chiêu thảo sứ, Cấm quân Đô thống.

Ngày Kỷ Tị, Liêu chúa đóng quân dọc Liễu hồ.

Tháng 6, ngày Canh Thìn, ban tên Hội Xuyên Thành cho trại mới thuộc lộ Hy Hà Lan Hội.

Ngày Giáp Thân, nước Liêu lấy Tri Hữu Y Lặc Hy Ba Tiêu Dược Sư Nỗ làm Nam diện Lâm nha, kiêm Tri Khiết Đan Hành cung Đô bố trí sự.

Ngày Giáp Ngọ, ban tên cho cửa ải ở Hoàn Khánh lộ là Long Bình quan.

Ngày Ất Mùi, các bộ trưởng Ngũ Quốc vào chầu nước Liêu.

Ngày Mậu Tuất, đắp xong Định Biên, Bạch Báo thành, các quan như Cáp môn sứ Trương Tồn (張存) đều được thăng chức, ban vàng lụa có thứ bậc.

Chuẩn Bố sang cống nước Liêu.

Ngày Kỷ Hợi, đê sông Hoàng Hà vỡ ở cửa Nội Hoàng, nước chảy về phía đông, dòng cũ bị cắt đứt.

Nước Liêu lấy Hưng Thánh cung sứ Da Luật Tát Gia Nỗ (耶律薩嘉努) làm Hữu Y Lặc Hy Ba.

Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Dần mùng 1, bộ trưởng Dịch Đức sang cống nước Liêu.

Ngày Canh Tuất, sông ở Hà Bắc dâng cao, làm ngập ruộng và nhà dân, sai quan đi cứu tế.

Ngày Tân Hợi, Liêu chúa đi đến Đại Lao Cổ Sơn.

Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu sai Thủy Bộ Viên ngoại lang Tăng Hiếu Quảng (曾孝廣) đến Hà Bắc lộ xem xét, sắp đặt việc sông. Hiếu Quảng từng làm quan thủy lợi, không chủ trương cho nước chảy về phía đông, nên đặc biệt được cử đi.

Thủ lĩnh Mạc Xuyên là Hạt Tiễn, tính ham giết chóc, khiến bộ tộc ly tán. Các đại tù trưởng như Sâm Ma Thấm Triển nảy sinh dị tâm, bèn vu cáo và giết Sách Nặc Mộc Đan Tân, là chú út của Hạt Tiễn, người có uy vũ; bè đảng của ông ta đều bị giết. Chỉ riêng tù trưởng Thấm La Kết trốn thoát, chạy đến nương nhờ Thực Ba Cổn, dòng họ xa của Đổng Tiễn, cư trú tại bộ Lũng Du, được nhiều bộ Khương ở Hà Nam theo về. Sau đó, Thấm La Kết tôn con của Thực Ba Cổn là Ba Lặc Tàng, chiếm giữ Tát Cách Thành. Hạt Tiễn tiến đánh và giết Ba Lặc Tàng; Thấm La Kết chạy đến Hà châu, thuyết phục Tao Tây An Phủ Sứ Vương Thiệm dùng kế chiếm Thanh Đường. Thiệm tâu lên triều đình, Chương Đôn chấp thuận; Thiệm dẫn quân tiến về Mạc Xuyên. Ngày Bính Dần, Khâm Bưu A Thành dâng thành đầu hàng, Vương Thiệm để quân lại đồn trú.

Trước đó Kiển Tự Thần (蹇序辰) tâu: "Xin đem các tấu nghị của lục bộ và chư ty từ tháng 4 năm Nguyên Phong thứ 8 trở về sau, phàm những lời bàn về thay đổi pháp độ có liên quan đến chê bai, phỉ báng, đều tra xét toàn bộ, phân loại theo từng việc, ghi rõ chức quan của người đảm nhiệm, lập thành sổ sách nộp lên Tam tỉnh." Lý Tích Trung (李積中) cũng tâu theo. Tam tỉnh không thi hành, đã hơn nửa năm; đến nay lại xem xét và ban chiếu truy cứu, thực chất là muốn giăng lưới bắt tội, bịa đặt mà thôi.

Tháng 8, ngày Nhâm Thân, Tri Hà Nam phủ Thịnh Đào (盛陶) đổi làm Tri Hòa châu, vì có người luận tội ông ta trong thời Nguyên Hựu đã phỉ báng tiên liệt, bài xích các bề tôi cũ.

Ngày Quý Dậu, Chương Đôn và những người khác dâng "Tân Tu Sắc Lệnh Thức". Đôn đọc trước Hoàng đế, trong đó có những điều thời Nguyên Phong không có mà dùng "Nguyên Hựu Sắc Lệnh" để sửa lập. Hoàng đế nói: "Nguyên Hựu cũng có điều có thể lấy sao?" Đôn và những người khác tâu: "Lấy điều hay của nó."

Ngày Giáp Tuất, Thái Nguyên động đất.

Xuống chiếu: "Thế nước Đại Hà mười phần thì đã có phần lớn chảy về phía bắc, nên giao việc sông cho chuyển vận ty, buộc châu huyện hợp sức cứu giữ đê bờ phía bắc."

Ngày Mậu Dần, Hoàng tử chào đời, do Hiền phi Lưu thị sinh.

Ngày Ất Dậu, ban cho lộ Hi Hà một triệu quan tiền, để vỗ về, an phủ các bộ tộc.

Ngày Đinh Hợi, xây thành Hội châu. Thời Nguyên Phong, tuy đã hợp Lan Hội với Hi Hà làm một lộ, nhưng Hội châu thực sự chưa khôi phục. Đến nay mới xây thành, đem 6 trại phía bắc Tây An Thành thuộc vào đó.

Đổng Tiển tự biết thuộc hạ nhiều kẻ làm phản, bèn trốn khỏi Thanh Đường đến Hà châu đầu hàng Vương Thiệm, chiếu cho Hồ Tông Hồi (胡宗回) làm Hi Hà Kinh lược sứ để tiết chế ông ta.

Ngày Quý Tỵ, sao Thái Bạch lại xuất hiện ban ngày.

Ngày Giáp Ngọ, lập Gia Lô trại làm Tấn Ninh quân.

Tháng 9, ngày Canh Tý mùng 1, người Hạ đến tạ tội.

Ngày Tân Sửu, Tả Tư gián Vương Tổ Đạo (王祖道) tâu: "Toàn bộ dòng chảy phía bắc ở Hà Bắc đã làm ngập ruộng mạ của dân, xin trước hết xử tội Ngô An Trì, Trịnh Hựu, Lý Trọng, Lý Vĩ, đày đi nơi xa, để tỏ rõ chí hướng cho nước chảy về phía bắc của Tiên đế." Chiếu lệnh Công bộ tra xét kỹ những người đề nghị cho sông chảy về đông và những người trông coi việc đắp đê, kê tên tâu lên.

Ngày Quý Mão, lệnh cho Ngự sử kiểm điểm Tam tỉnh, Khu mật viện, đều theo cựu chế thời Nguyên Phong.

Ngày Giáp Thìn, Hoàng đế ngự Ninh Tường cung.

Ngày Ất Tị, Hoàng đế ngự Lễ Tuyền quan.

Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu lập Hiền phi Lưu thị làm Hoàng hậu.

Mạnh Hậu đã bị phế, Chương Đôn cùng nội thị Hác Tùy (郝隨), Lưu Hữu Đoan (劉友端) kết với nhau, xin lập phi làm chính vị Trung cung. Lúc ấy Hoàng đế chưa có người nối dõi, gặp khi phi sinh con, Hoàng đế rất mừng, bèn lập làm hậu.

Ngày Mậu Ngọ, Thông phán Đàm châu Tất Tiệm (畢漸) tâu: "Những bia đá ghi chép sự việc do các lộ dựng lên trong thời Nguyên Hựu, xin đều đập phá." Hoàng đế theo.

Ngày Kỷ Mùi, tù trưởng Thanh Đường là Long Tán (隆贊) mở thành đầu hàng.

Ngày Nhâm Tuất, mưa, bãi yến mùa thu.

Ngày Giáp Tý, Hữu chính ngôn Trâu Hạo (鄒浩) bị xóa tên, bị quản thúc ở Tân châu.

Lúc ấy Chương Đôn một mình làm tể tướng, Trâu Hạo dâng chương vạch tội, kể tội hắn bất trung, xâm phạm bề trên, chưa được trả lời thì Lưu Hậu được lập. Hạo dâng sớ rằng

Hoàng đế bảo Hạo: "Đây cũng là chuyện cũ của tổ tông, há chỉ riêng trẫm sao!" Hạo đáp: "Đức lớn của tổ tông, điều có thể noi theo thì nhiều, bệ hạ không lấy đó mà th eo, lại bắt chước chỗ nhỏ lỗi, thần e đời sau trách người không dứt, rối rít vậy.

Hoàng đế đổi sắc mặt, nhưng vẫn không giận; hôm sau, Chương Đôn vào chầu, hết sức phỉ báng Hạo cuồng vọng, nên mới có việc giáng tội này. Chương Đôn giữ tấu chương lại, không cho ban xuống.

Thượng thư Hữu bộc xạ Hoàng Lý (黃履) tâu: "Hạo phạm lời can gián mà giữ lòng trung, không nên vội đày đến chỗ chết." Vì thế bị bãi chức, làm Tri Bạc châu.

Ban đầu, Điền Trú (田晝) ở Dương Địch (陽翟), nghị luận hào sảng, cùng Hạo lấy khí tiết mà khích lệ nhau. Hạo được bổ Chính ngôn, Trú đang làm Giám Quảng Lợi Môn, đến thăm Hạo, hỏi: "Ngày thường ta cùng ông tự hứa với nhau thế nào? Nay ông làm quan gì?" Hạo thẹn nói: "Bề trên gặp quần thần, chưa từng tỏ vẻ hòa nhã, chỉ đối với Hạo hơi có vẻ ưa thích. Việc thiên hạ vốn không thể nói hết, ý muốn đợi khi được tin cậy sâu rồi mới phát, để có ích." Trú cho là phải. Sau đó cáo bệnh về quê, khi nhận được tin lập hậu, Trú bảo người rằng: "Chí của Chí Hoàn không nói, có thể tuyệt giao rồi!" Chí Hoàn là tên chữ của Hạo. Hạo bị tội, Trú ra đón giữa đường, hai người lưu luyến 3 ngày. Lúc chia tay, Hạo rơi lệ, Trú nghiêm sắc mặt trách rằng: "Giả sử Chí Hoàn ẩn lặng làm quan ở Kinh sư, gặp bệnh lạnh không ra mồ hôi, 5 ngày chết, há chỉ ngoài cõi Lĩnh Hải mới có thể chết người sao! Mong ông đừng lấy việc làm này mà tự mãn, điều người sĩ nên làm, chưa dừng ở đây đâu." Hạo bàng hoàng tự thẹn, than: "Lời tặng của ông với ta thật là hậu vậy!"

Khi Hạo sắp luận việc, có nói với bạn là Tông chánh tự bạ Tiên Du Vương Hồi (王回), Hồi nói: "Có việc nào lớn hơn việc này chăng? Ông tuy có cha mẹ, nhưng lấy trung để làm hiếu, cũng là chí của Thái phu nhân xưa nay vậy." Đến khi Hạo bị đày về phương nam, người ta không ai dám đoái hoài, Hồi gom tiền của bạn bè cho Hạo sửa soạn hành trang, đi lại lo liệu, lại an ủi mẹ ông. Người canh giữ báo lên, bắt giải đến chiếu ngục, mọi người đều sợ thay, Hồi vẫn ung dung như thường. Ngự sử hỏi tội, Hồi nói: "Quả từng dự mưu, không dám nói dối." Bèn đọc thuộc chương Hạo đã dâng, gần 2.000 chữ. Án tâu lên, Hồi bị xóa tên, đình chỉ, bèn đi bộ ra cửa đô thành, đi mấy chục dặm, con ông đuổi kịp, hỏi việc nhà, ông không đáp.

Ngày Bính Dần, Hoàng đế ngự Văn Đức Điện, làm lễ sách phong Hoàng hậu.

Tháng nhuận, ngày Canh Ngọ mùng 1, Triều thỉnh lang Giả Dịch (賈易) đặc biệt được bổ làm Tư mã Bảo Tĩnh Quân, an trí ở Thiệu Châu (邵州); vì thời Nguyên Hựu từng giữ chức Đài gián, làm cánh tay cho quyền thần, vu báng phép cũ của tiên đế.

Ngày Quý Dậu, đặt chức Luật học bác sĩ.

Xuống chiếu bàn kỹ về chế độ Thái miếu.

Đổng Tiển đã hàng Vương Thiệm, mà Thiệm cùng Tổng quản Vương Mẫn (王湣) tranh công, cùng kiện nhau ở triều. Bấy giờ đại tù trưởng Thanh Đường là Sâm Ma Thấm Triển đón Thật Ba Cổn vào thành, lập con Mã Nhĩ Tiển là Long Tán (隆贊) làm chủ, thế lực lại lớn. Đổng Tiển rất sợ, tự cạo tóc làm sư để cầu khỏi tội. Soái Hi Hà là Hồ Tông Hồi thúc Thiệm tiến quân, Thiệm gấp đánh, Long Tán và Sâm Ma Thấm Triển đều ra hàng, Thiệm vào chiếm giữ thành. Chiếu lập Thanh Đường làm Thiện Châu (鄯州), Lũng Hữu Tiết độ; Mạc Xuyên làm Hoàng Châu (湟州), Tông Ca Thành làm Long Chi Thành (龍支城), đều thuộc Lũng Hữu. Lệnh Vương Thiệm làm Tri Thiện Châu, Vương Hậu (王厚) làm Tri Hoàng châu.

Ngày Bính Tý, Liêu chúa đóng quân ở Độc Lô Kim.

Ngày Mậu Dần, lấy Khoách châu làm Ninh Trại thành.

Ngày Bính Tuất, Đoàn luyện sứ Lương Châu là Trọng Hốt (仲忽) dâng chiếc đỉnh cổ, trên khắc: "Lỗ công hành Văn vương tôn Di."

Ngày Giáp Ngọ, sao Huỳnh Hoặc phạm vào Tả Chấp pháp trong Tử Vi Viên.

Ngày Ất Mùi, hoàng tử qua đời, truy ban tên là Mậu, tặng tước Việt vương, thụy là Xung Hiến.

Chiêu thảo sứ nước Liêu Ngạch Đặc Lặc đánh dẹp các bộ ở biên giới Tây Bắc làm giặc, bắt được rất nhiều, được ngựa, lạc đà, trâu, dê mỗi thứ mấy vạn.

Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Tuất, Tập Hiền Điện Tu soạn Văn Cập Phu (文及甫) bị bãi chức, làm Tri Quân châu (均州), theo lệ của Lữ Đại Phòng (呂大防), không được dùng số lần ân xá để khôi phục.

Ngày Nhâm Tý, xuống chiếu đặt Chỉ huy quân bộ binh, kỵ binh ở 22 châu quân Đại Danh Hà Bắc, lấy tên là Quảng Uy, Bảo Tiệp.

Ngày Đinh Tị, Ngạch Đặc Lặc nước Liêu tâu thắng trận ở biên giới Tây Bắc.

Ngày Bính Dần, nước Liêu lấy Đồng tri Nam Kinh Lưu thủ sự Tiêu Đức Lặc Đãi (蕭德勒岱) làm Tri Bắc Viện Khu mật Sứ sự.

Ngày Mậu Thìn, nước Liêu cứu tế đói ở Liêu châu, lại miễn tô thuế.

Tháng 11, ngày Giáp Tuất, nước Liêu cứu tế hai khu Nam, Bắc.

Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu lấy thành Tùy Đức làm Tùy Đức quân.

Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu: "Đất bãi sông Hoàng Hà ở Hà Bắc, cho dân cày khẩn, miễn tô thuế 3 năm."

Ngày Ất Mùi, xuống chiếu: "Các châu đặt Giáo thụ, theo phép Tam xá của Thái học mà khảo chọn sinh đồ, việc thăng bổ đều như phép Tam xá của Thái học. Mỗi châu được bổ 1 người Thượng xá, 2 người Nội xá, hàng năm tiến cử. Thượng xá được nhập vào Ngoại xá Thái học, thi đỗ thì bổ Nội xá, 3 lần thi không lên thì cho về châu mình. Nội xá miễn thi, bổ làm sinh Ngoại xá Thái học."

Tháng 12, ngày Canh Tý, người Hạ nhiều lần bại, sai thần là Lệnh Năng Uy Minh Kết (能威明結) và những người khác đến tạ tội, lại dâng biểu thề. Chiếu cho phép thông hiếu, hàng năm ban thưởng như cũ. Từ đó dân vùng Tây Thùy được yên đôi chút.

Ngày Nhâm Tuất, Viên ngoại lang Thủy Bộ Tăng Hiếu Quảng tâu: "Sông Đại Hà hiện chảy giữa Sóc Châu và Thông Lợi Quân, đê Tô Thôn năm nay hai lần nguy cấp. Xin từ chỗ đê nguy cấp này, đợi sang năm khi nước dâng, nhân thế mở đê, dẫn sông cho chảy về bắc, để thuận tính nó, phía dưới hợp với dòng sông đi phía tây huyện Nội Hoàng, lâu dài sẽ tiện." Hoàng đế theo.

Ngày Giáp Tý, nước Liêu lấy Tham tri chính sự Triệu Hiếu Nghiêm (趙孝嚴) làm Hán nhân Hành Cung Đô bố trí, lấy Hán nhân Hành Cung Đô bố trí Lương Viên (梁援) làm Liêu Hưng Quân Tiết độ sứ, lấy Khu mật Trực Học Sĩ Da Luật Nghiễm (耶律儼) làm Tham tri chính sự.

Năm ấy, nước Hạ đổi niên hiệu là Vĩnh An.

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Tân Mùi, Hoàng đế có bệnh, không vào chầu.

Ngày Quý Dậu, Nam Viện Đại vương nước Liêu Da Luật Ngạc Gia (耶律鄂嘉) mất.

Ngày Đinh Sửu, rước an bài ngự dung của Thái Tông vào điện Đại Định ở cung Cảnh Linh.

Ngày Mậu Dần, đại xá thiên hạ, miễn tô cho dân.

Ngày Kỷ Mão, Hoàng đế băng ở điện Phúc Ninh.

Hoàng Thái hậu Hướng thị (向氏) khóc bảo các Tể thần rằng: "Nước nhà bất hạnh, Đại hành Hoàng đế không có con nối, việc phải định sớm." Chương Đôn lớn tiếng nói: "Nên lập em cùng mẹ là Giản vương Tự." Thái hậu nói: "Lão thân không có con, các vương đều là thứ tử của Thần Tông." Đôn lại nói: "Theo tuổi thì nên lập Thân vương." Thái hậu nói: "Thân vương có bệnh, không thể lập; tiên đế từng nói, Đoan vương có phúc thọ lại nhân hiếu, có thể lập." Đôn lại nói: "Đoan vương khinh bạc, không thể làm vua thiên hạ." Lời chưa dứt, Tăng Bố quát: "Chương Đôn hãy nghe Thái hậu xử trí!" Bèn triệu Đoan vương Cát vào cung, tức Hoàng đế vị. Quần thần xin Hoàng thái hậu quyền cùng xử trí việc quân quốc, Thái hậu lấy cớ tuổi cao mà từ chối; Hoàng đế khóc lạy hồi lâu, rồi mới nhận.

Ngày Canh Thìn, đại xá thiên hạ cả những tội thường không được tha trong ân xá, bách quan thăng 1 bậc, ban thưởng các quân. Sai Tống Uyên (宋淵) sang nước Liêu báo tang.

Ngày Tân Tị, tôn Hoàng hậu Lưu thị làm Nguyên Phù Hoàng hậu.

Ngày Quý Mùi, truy tặng mẹ là Quý nghi Trần thị làm Hoàng thái phi.

Ngày Giáp Thân, lệnh Chương Đôn làm Sơn Lăng sứ.

Ngày Đinh Hợi, Liêu chúa đi đến Xuân Thủy.

Ngày Mậu Tý, lấy Chương Đôn làm Đặc tiến, phong Thân quốc công.

Ngày Kỷ Sửu, bãi việc tăng thêm binh tuần tra ở Bát Xương.

Lấy Quyền Công bộ Thị lang Trương Thương Anh làm Trung thư xá nhân.

Ngày Tân Mão, Chiêu thảo sứ nước Liêu Ngạch Đặc Lặc bắt được Mã Cổ Tô (瑪古蘇) dâng. Từ khi các bộ Chuẩn Bố không yên, Mã Cổ Tô là mối họa lớn ở biên giới, đến nay mới bị bắt. Thăng Ngạch Đặc Lặc làm Thái bảo.

Ngày Bính Thân, Liêu chúa hạ chiếu hỏi nỗi khổ của dân.

Tháng 2, ngày Kỷ Hợi, bắt đầu nghe chính sự. Tôn phi của tiên đế là Chu Thị làm Thánh Thụy hoàng thái phi.

Ngày Đinh Mùi, lập Thuận quốc phu nhân Vương thị làm Hoàng hậu; hậu là người Khai Phong, con gái Thứ sử Đức châu là Tảo (藻).

Nước Liêu lấy Ô Khố Bộ Tiết độ sứ Thận Gia Nỗ (慎嘉努) làm Nam Viện đại vương.

Ngày Kỷ Dậu, nước Liêu đem Mã Cổ Tô phanh thây ở chợ.

Ngày Canh Tuất, Hướng Tông Hồi, Hướng Tông Lương (向宗良) được thăng làm Tiết độ sứ. Các cháu trai của Thái hậu chưa làm quan đều được ban chức.

Ngày Quý Sửu, lần đầu ngự Tử Thần Điện.

Nước Liêu xuất lụa ban cho dân nghèo ở Ngũ Kinh.

Ngày Mậu Ngọ, lấy Lại bộ Thượng thư mới bổ nhiệm là Hàn Trung Ngạn (韓忠彥) làm Môn hạ Thị lang. Trung Ngạn vào chầu, trình bày 4 việc: rộng ban ân nhân, mở đường ngôn luận, bỏ điều nghi ngờ, răn việc dùng binh, Thái hậu nghe theo. Từ đó những sĩ phu trung trực, dám nói, có tiếng tăm, dần được thu dụng, đương thời gọi là "Tiểu Nguyên Hựu".

Ngày Canh Thân, Cấp sự trung Lưu Chửng (劉拯) tâu: "Hàn Trung Ngạn là anh của Phò mã Đô úy Gia Nghiêm (嘉彥), thời Nguyên Hựu từng được bổ Thượng thư Hữu thừa, vì lời người nên chuyển sang Khu mật viện. Nay lại bổ làm Môn hạ Thị lang, khiến sau này người khác vin vào làm lệ, e rằng phủ tể tướng sẽ thành nơi yêu thương ngoại thích." Hoàng đế không theo.

Lấy Tri Bạc châu Hoàng Lý làm Thượng thư Hữu bộc xạ.

Ngày Tân Dậu, đặt tên cho nơi tiềm để, phủ Ức Đức là cung Long Đức.

Ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu lệnh Phó Chuyển vận Thiểm Tây là Mã Thành (馬城) và những người khác trông coi việc khai tu Giải Diêm Trì.

Ngày Giáp Tý, phá bỏ điện Thừa Cực.

Tháng 3, ngày Mậu Thìn mùng 1, xuống chiếu: "Các Tể thần, Chấp chính, Thị tòng mỗi người cử người có thể đảm nhiệm chức Đài gián."

Ngày Tân Mùi, lấy Cấp sự trung Phạm Thang (范鏜) làm Long Đồ các Đãi chế, Tri Doanh châu.

Ngày Giáp Tuất, triệu Quyền phát khiển Vệ châu Trần Quán (陳瓘) làm Tả Chính ngôn, Giám thuế rượu Viên Châu Trâu Hạo làm Hữu Chính ngôn, Tri Minh châu Cung Quái (龔夬) làm Điện trung Thị ngự sử, do Hàn Trung Ngạn, Tăng Tồn (曾存) tiến cử.

Ngày Giáp Thân, lấy Trung thư xá nhân Trương Thương Anh làm Long Đồ Các Đãi chế, Hà Bắc lộ Chuyển vận sứ, kiêm trông coi việc sông.

Trước đó Tăng Bố luận Lưu Chửng nên bị đuổi, Hoàng đế nói: "Trương Thương Anh với Chửng đều không thể lưu lại, Thương Anh không có ngày nào không ở chỗ Chương Đôn." Bố chỉ vâng dạ mà lui. Sau hơn 10 ngày, Thương Anh mới được bổ nhiệm như thế, là do bọn Hàn Trung Ngạn thi hành ý chỉ của vua vậy.

Vương Thiệm ở lại Thiện châu, thả cho quân mình cướp bóc, người Man Khương chia rẽ. Sâm Ma và những người khác kết các bộ tộc mưu phản, Thiệm đánh tan, bắt chém hết người Man trong thành, chất đầu như núi. Ban đầu, Thiệm lại xui các tù trưởng Man Khương kê khai những người lính khỏe mạnh, đều xăm cánh tay, không ai hưởng ứng. Thấm La Kết xin về làm soái bản lộ để làm gương, Thiệm cho đi, bèn tập hợp mấy nghìn người vây Mạc Xuyên, người Hạ đem 10 vạn quân giúp, trong thành rất nguy. Miêu Lý (苗履), Diêu Hùng (姚雄) đem quân đến cứu, vòng vây mới giải. Thiệm bèn bỏ Thanh Đường mà về, Thật Ba Cổn cùng con là Hy Tư La Tư (希斯羅斯) chiếm giữ. Các Man Khương lại hợp quân đánh Mạc Xuyên, vương Hậu cũng không chống nổi. Triều nghị xin bỏ luôn Mạc Xuyên, lại nói Long Tán là con Mã Nhĩ Tiển, bèn lệnh làm Hà Tây Quân Tiết độ sứ, Tri Thiện Châu, ban họ tên là Triệu Hoài Đức (趙懷德). Em là Ba Nhĩ Phi Lặc Ngạc Đan Oát (巴爾丕勒鄂丹斡) ban tên là Hoài Nghĩa, làm Khoách Châu Đoàn luyện sứ, Tri Hoàng Châu. Thăng Đổng Tiển làm Hoài Viễn Tiết độ sứ, mà giáng Thiệm đến Xương Hóa Quân (昌化軍), Hậu đến Hòa châu; Hồ Tông Hồi bị bãi chức, làm Tri Kỳ châu (蘄州). Thiệm đến huyện Nhương (穰縣), tự thắt cổ chết.

Nước Liêu nới lỏng lệnh cấm núi rừng ở Sóc châu.

Ngày Ất Dậu, lấy Hàn Lâm học sĩ Thừa chỉ Thái Kinh (蔡京) làm Đoan Minh Điện học sĩ, kiêm Long Đồ các học sĩ, Tri Thái Nguyên phủ. Thái Biện tâu với Hoàng đế rằng: "Anh thần không dám từ đi, nhưng khi luận việc nhiều lần trái với Tể tướng đương thời, người ta chỉ nói là bị Tể tướng đuổi." Hoàng đế không đáp.

Hôm sau, Tăng Bố vào chầu, Hoàng đế bảo Bố: "Thái Kinh, Trương Thương Anh, Phạm Thang đều đã đi, chỉ còn Chương Đôn, Lưu Chửng, vương Tổ Đạo chưa đi." Bố nói: "Người nói việc hơi làm tròn chức, thì bọn này sao có thể yên được!"

Ngày Kỷ Sửu, vì ngày có nhật thực, ban Đức âm ở Tứ Kinh, giảm tội cho tù 1 bậc, từ tội lưu trở xuống đều tha.

Ngày Canh Dần, truy phong hậu duệ Triệu Phổ (趙普).

Ngày Tân Mão, vì gặp nhật thực, xuống chiếu cầu xin lời nói thẳng. Thôi quan Quân Châu, người Ung Khâu là Thôi Yển (崔匽) ứng chiếu dâng thư rằng

Hoàng đế xem xong khen phải, bổ làm Giáo thụ ở Tương Châu.

Ngày Ất Mùi, khước từ đồ ngọc mà dân Vĩnh Hưng là vương Hoài dâng.

Tháng 4, ngày Đinh Dậu mồng 1, có nhật thực.

Ngày Mậu Tuất, xuống chiếu: Tri Thái Nguyên phủ là Thái Kinh (蔡京) theo lệ cũ làm Hàn Lâm Học Sĩ Thừa chỉ; Cấp sự trung Lưu Chửng (劉拯) bãi chức Tri Hào Châu, vì khi luận việc thì do dự ngóng nhìn.

Ngày ấy, Tăng Bố (曾布) vào chầu, Hoàng đế bảo Bố rằng: "Hoàng thái hậu nói Thái Kinh không nên ra ngoài, muốn tạm lưu lại để sửa sử." Bố hết sức tâu rằng: "Kinh, Biện ôm lòng gian, làm hại chính sự, bè đảng che chở đầy khắp trong ngoài, hạng người thiện không thể cùng chúng đồng lập. Ắt là có kẻ gian bịa đặt lời nói, làm rối loạn thính xét của bệ hạ." Hoàng đế nói: "Không có gì khác, Hoàng thái hậu vì bộ Thần Tông sử bị hủy hoại vào năm Nguyên Hựu, nay lại khó mà đổi người đó thôi."

Ngày Quý Mão, Liêu chúa đi đến Thán San.

Ngày Giáp Thìn, lấy Môn hạ Thị lang Hàn Trung Ngạn (韓忠彥) làm Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư Thị lang, Lễ Bộ Thượng thư Lý Thanh Thần (李清臣) làm Môn hạ thị lang, Hàn lâm học sĩ Tương Chi Kì (蔣之奇) đồng Tri Khu mật viện sự.

Ngày Đinh Mùi, lấy ngày sinh của Hoàng đế làm tiết Thiên Ninh.

Ngày Kỷ Dậu, Hoàng trưởng tử Đản chào đời. Lúc ấy Hoàng đế vừa mới lên ngôi, liền sinh đích trưởng tử, muốn làm khác lễ thường, nên sau 3 ngày, đại xá, phong Đản làm Tiết độ sứ Sơn Nam Đông Đạo, tước Hàn quốc công.

Ngày Quý Sửu, ban thưởng cho những người ứng chiếu dâng thư có thể dùng được là Trịnh Đôn Nghĩa (鄭敦義), Cao Sĩ Dục (高士育), Lộc Mẫn Cầu (鹿敏求), Hà Đại Chánh (何大正), Lữ Ngạn Tổ (呂彥祖), cộng 5 người.

Ngày Đinh Tị, xuống chiếu: "Phục quan chức và chức coi cung quán cho Phạm Thuần Nhân (范純仁) cùng những người khác, dời Tô Thức (蘇軾) cùng những người khác vào các quận nội địa."

Lúc ấy Thuần Nhân ở Vĩnh Châu, sai Trung sứ ban cho trà thuốc, dụ rằng: "Quan gia khi còn ở phiên đệ, Thái hoàng thái hậu ở trong cung, biết ông ở triều trước nói việc trung trực, nay để trống tướng vị mà đợi, không biết mắt đau thế nào, dùng ai chữa trị?" Thuần Nhân dập đầu tạ. Dời ở Đặng Châu, trên đường được bái làm Quan Văn Điện Đại học sĩ, Trung Thái Nhất cung sứ. Chế thư có câu: "Há chỉ tôn đức trọng tuổi, tỏ rõ ân sủng; mong rằng lời bàn ngay thẳng, mưu hay, mỗi ngày nghe lời trung cáo." Thuần Nhân nghe chế, khóc nói: "Bề trên quả dùng ta rồi, chết cũng còn dư trách nhiệm." Lại sai Trung sứ giục vào chầu. Thuần Nhân xin về phụng dưỡng cha mẹ, Hoàng đế bất đắc dĩ cho phép, mỗi lần gặp các Phụ thần, đều hỏi an nguy của Thuần Nhân, lại nói: "Được gặp Phạm Thuần Nhân một lần là đủ rồi!"

Tô Thức từ Xương Hóa dời đến Liêm, lại dời đến Vĩnh, trải qua 3 lần đại xá, lại được làm Đề cử Ngọc Cục Quan, chẳng bao lâu thì mất ở Thường Châu. Thức cùng em là Triệt, cha là Tu làm văn, thường tự xưng văn chương như mây trôi nước chảy, ban đầu không có hình chất nhất định, dù là lời đùa cợt, giận dữ, mắng chửi, đều có thể chép ra mà đọc thuộc. Từ khi làm cử tử cho đến lúc ra vào hầu cận, tất lấy yêu vua làm gốc, phép tắc trung thành, lời bàn ngay thẳng, tiết lớn hiển nhiên, chỉ vì bị tiểu nhân ghét bỏ, nên không được ở lâu trong triều.

Trước đó Hàn Trung Ngạn tâu

Trung thư xá nhân Tăng Triệu (曾肇) cũng nói

Ngự sử Trung thừa An Đôn (安惇) a dua với quyền gian, nhiều lần khởi đại ngục, thiên hạ oán giận, thành lời hát về nhị Đôn, nhị Thái. Đến khi triệu Trâu Hạo làm Gián quan, Đôn nói: "Nếu Hạo lại được dùng, e làm lộ ra lỗi lầm của Tiên đế." Hoàng đế nói: "Lập Hoàng hậu là việc lớn. Trung thừa không nói, mà chỉ Hạo dám nói, sao lại không thể dùng lại!" Đôn sợ mà lui. Trần Quán (陳瓘) xin rằng: "Bệ hạ muốn mở đường chính, lấy điều thiện đã qua của Hạo; còn Đôn thì làm rối loạn tai vua, mưu phóng túng tư riêng. Nếu muốn tỏ rõ điều mình ưa ghét, thì nên bắt đầu từ Đôn." Bèn cho Đôn ra làm Tri Nhuận châu.

Tháng 5, ngày Đinh Mão mồng 1, bãi bỏ hình phạt đối với quan lại xử án sai.

Hoàng thái hậu muốn phục lại địa vị Dao Hoa cung, gặp lúc Thái học Thượng xá sinh Hà Đại Chánh (何大正) dâng thư nói việc ấy, ngày Quý Dậu, bèn xuống chiếu rằng: "Dao Hoa phế hậu, nhiều lần được đại xá, địa vị, tôn hiệu, lễ số, lệnh Tam tỉnh, Khu mật viện bàn kỹ rồi tâu." Ngày Bính Tý, phục phế hậu Mạnh thị lại làm Nguyên Hựu hoàng hậu, Lưu thị làm Nguyên Phù hoàng hậu.

Thượng thư Hữu thừa Thái Biện (蔡卞) chuyên dựa vào thuyết Thiệu thuật, hãm hại hạng người thiện, đều dâng mật sớ tâu bày, rồi sau mới xin Hoàng đế thân ra bút chỉ giao cho bên ngoài thi hành. Chương Đôn tuy là đại gian, nhưng vẫn ở trong thuật của y. Đôn khinh suất không nghĩ, còn Biện thì sâu kín ít lời, lúc nghị luận, Đôn cương quyết chủ trì, Biện hoặc im lặng không mở miệng. Đương thời người luận rằng, dấu vết của Đôn dễ thấy, lòng dạ của Biện khó lường. Đến đây, Điện trung Thị ngự sử Cung Quái (龔夬) nói: "Ngày trước Đinh Vị cầm quyền, tiếng là phóng túng tàn bạo, nhưng cũng chỉ hãm hại một Quan Chuẩn mà thôi. Đến Chương Đôn, thì cố lão, nguyên phụ, thị tòng, quan ở Đài, Tỉnh, phàm những người thiên hạ gọi là hiền, trong một ngày đầy khắp Lĩnh Hải, từ khi có nước Tống đến nay, chưa từng nghe vậy. Thái Biện thờ bề trên không trung, ôm gian sâu kín, những việc Đôn làm, đều do Biện phát khởi. Mong bệ hạ theo lẽ công bằng, tỏ rõ việc quở trách bãi miễn." Chưa được trả lời, mà các quan Đài gián là Trần Sư Tích (陳師錫), Trần Thứ Thăng (陳次升), Trần Quán (陳瓘), Nhậm Bá Vũ (任伯雨), Trương Đình Kiên (張庭堅) lần lượt dâng sớ luận tội. Ngày Ất Dậu, Biện bị bãi, làm Tri Giang Ninh Phủ. Bỉ Bộ Viên ngoại lang Đổng Tất (董必) ra làm Tri Hưng Quốc Quân, Tri Vô Vi Quân là Thư Đản (舒亶) làm Giám Nam Nhạc miếu ở Đàm Châu, đều là đảng của Biện.

Hán nhân Đô đốc hành cung của nước Liêu là Triệu Hiếu Nghiêm (趙孝嚴) mất.

Ngày Bính Tuất, Liêu chúa đóng quân ở Nạp Cát Lạc.

Ngày Kỷ Sửu, truy phục chức cho Văn Ngạn Bác (文彥博), vương Khuê (王珪), Tư Mã Quang (司馬光), Lữ Công Trứ (呂公著), Lữ Đại Phòng (呂大防), Lưu Chí (劉摯) cùng 33 người.

Ngày Tân Mão, trả lại ân huệ đối với biểu xin trí sĩ trước kia của Tư Mã Quang cùng những người khác.

Ngày Quý Tị, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây mất mùa đói, xuống chiếu cho các Soái thần tính toán cứu tế.

Ngày Ất Mùi, nước Liêu lấy Lưu thủ Đông Kinh A Lỗ Tát Cổ (阿嚕薩古) làm Đặc Lý Cổn, lấy Nam viện Tuyên huy sứ Tiêu Thường Cách (蕭常格) làm Đô đốc hành cung Hán nhân.

Tháng 6, ngày Bính Thân mồng 1, nước Liêu sai sứ sang điếu tế.

Ngày Tân Sửu, nước Liêu vì quan hữu ty trong án thư viết việc Tống chủ nối ngôi là "đăng bảo vị", bèn cách chức Tể tướng Trịnh Chuẩn (鄭顓) trở xuống, cho Chuẩn ra làm Tri Hưng Trung phủ sự, Hàn Tư Nhượng (韓資讓) làm Sùng Nghĩa quân Tiết độ sứ, Ngự sử Trung thừa Hàn Quân Nghĩa (韓君義) làm Tiết độ sứ Quảng Thuận Quân.

Ngày Ất Tị, Tả Chính ngôn Trần Quán (陳瓘) nói: "Long Đồ Các Đãi chế, Tri Kinh Nam là Hình Thứ (邢恕), trước đây dùng lời tuyên huấn của Bắc Tề để vu cáo Tư Mã Quang, khiến Quang cùng Phạm Tổ Vũ (范祖禹) bị giáng đày; lại dùng thư tư của Văn Cập Phủ để chứng Lưu Chí (劉摯), Lương Đảo (梁燾), vương Nham Tẩu (王岩叟) đều có mưu gian, khiến gia tộc của Chí cùng những người khác suýt bị diệt. Nay triều đình ân thương xót, rộng đến cả người sống kẻ chết, thì những việc Thứ làm trước đây, không phải là điều bệ hạ tin nữa. Thứ phản phúc dối trá, mắc tội với triều trước, công luận không cho ở lâu. Nay lại sủng đãi bằng chức đẹp, giao cho trọng trấn, trong ngoài sôi sục, cho là không thỏa. Cúi xin xét tình định tội, để hợp với công luận." Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu: Thứ làm Thiếu phủ thiếu giám phân ty ở Tây Kinh, cư trú tại Quân Châu.

Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu sai sứ xét xử các vụ án tồn đọng ở Ngũ Kinh.

Ngày Kỷ Mùi, nước Liêu lấy Tiết độ sứ Liêu Hưng quân là Lương Viên (梁援) làm Khu mật phó sứ.

Liêu chúa triệu Tham tri chính sự Da Luật Nghiễm (耶律儼) vào nội điện, hỏi việc chính sự. Về những năm cuối đời, Liêu chúa mệt mỏi việc triều chính, trong việc dùng người không còn tự mình lựa chọn, bèn cho các quan gieo xúc xắc, ai được mặt thắng thì trao chức cho người ấy. Nghiễm từng gieo được mặt thắng, Liêu chúa nói: "Ấy là điềm làm Thượng tướng." Bèn thăng làm Tri Khu mật viện sự. Vợ Nghiễm là Hình Thị có nhan sắc, từng ra vào cấm trung, Nghiễm dạy rằng: "Hãy cẩn thận, chớ để mất ý của bề trên." Do đó quyền thế sủng ái càng vững.

Mùa thu, tháng 7, ngày Bính Dần mồng 1, phụng chiếu của Hoàng thái hậu, bãi việc cùng nghe chính sự.

Ngày Canh Ngọ, Liêu chúa đi Sa Lĩnh.

Tháng 8, ngày Ất Mùi mồng 1, lấy Bí thư Thiếu giám Đặng Tuân Vũ (鄧洵武) làm Biên tu quan Quốc Sử Viện, theo lời tiến cử của Thái Kinh. Cấp sự trung Cung Nguyên (龔原), Diệp Đào (葉濤) dâng sớ bác rằng Tuân Vũ không nên bừa bãi dự vào hàng sử quan, bèn lệnh cho Trung thư xá nhân Từ Tích (徐勣) chép đọc rồi ban xuống.

Ngày Canh Tý, xây Cảnh Linh Tây Cung, an trí thần ngự của Thần Tông; dựng điện thờ thần ngự của Triết Tông ở phía tây cung ấy.

Ngày Tân Sửu, xuất vàng lụa trong Nội khố 200 vạn để mua thóc làm quân trữ Thiểm Tây.

Ngày Nhâm Dần, táng Triết Tông Khâm Văn Duệ Vũ Tề Thánh Chiêu Hiếu Hoàng Đế ở Vĩnh Thái Lăng.

Ngày Canh Tuất, xuống chiếu: Miếu của Nhân Tông, Thần Tông đời đời không dời.

Ngày Quý Hợi, rước thần chủ của Triết Tông vào phối thờ ở Thái Miếu.

Tả Chính ngôn Trần Quán tâu: "Sơn lăng sứ là Chương Đôn, phụng sứ vô trạng, khiến linh giá của Triết Tông sa lầy không tiến, phải ngủ ngoài đồng. Xin gấp bãi chức vụ của Đôn, miễn cho vào chầu, cho đi sai phái nơi khác, rồi sau đó ban xuống những tấu chương trước sau của thần liêu, bàn riêng phép hình phạt."

Các bộ ở Tây Bắc nước Liêu cướp phá biên giới, Chiêu thảo sứ Ngạch Đặc Lặc (額特勒) đem quân đánh bại chúng, trong tháng này sai sứ sang báo thắng.

Tháng 9, ngày Giáp Tý mồng 1, xuống chiếu tu soạn "Triết Tông thực lục".

Thượng thư Tả bộc xạ Chương Đôn 5 lần dâng biểu xin bãi chính sự, chiếu trả lời không cho, Đôn liền ra ở chùa. Hoàng đế bảo các Phụ thần rằng: "Trẫm đãi Đôn như thế, thể diện không phải là không đến nơi. Đôn xin đến Việt Châu, nên cho y đi."

Ban đầu, các quan Đài gián là Phong Tắc (豐稷), Trần Sư Tích, Trần Quán nhiều lần hặc Đôn, có người lấy việc dị nghị lúc định sách mà nói. Đến đây Hoàng đế sắp bãi Đôn, bảo các Phụ thần rằng: "Trẫm không dùng việc định sách để giáng Đôn, chỉ vì theo hầu linh giá không làm tròn mà bãi, còn việc khác đợi có người luận đến, sẽ bàn riêng việc sai phái."

Ngày Bính Dần, nước Liêu sai sứ sang mừng việc lên ngôi.

Ngày Đinh Mão, giảm tội cho tù ở Lưỡng Kinh, Hà Dương, Trịnh Châu 1 bậc, dân vì việc Sơn lăng mà phải đi dịch thì miễn thuế.

Ngày Kỷ Tị, ngự giá đến cung Long Đức.

Ngày Tân Mùi, Chương Đôn bị bãi làm Đặc tiến, Tri Việt Châu, vẫn cho được dâng biểu từ tạ.

Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu tu soạn "Thần Tông Chính Sử".

Ngày Kỷ Mão, Hữu Tư gián Trần Quán tâu: "Hướng Tông Lương (向宗良) anh em, dựa vào ân nước, nương nhờ ơn dung thứ của Hoàng Thái hậu, khoe khoang vinh hiển trước mắt, không nghĩ đến chỗ nguy hiểm tiềm ẩn đáng sợ, những kẻ giao du với họ, liên đến cả quan Thị tòng, kẻ cầu sủng ái đều muốn ra vào cửa nhà họ. Bùi Ngạn Thần (裴彥臣) không có tài cán gì lớn, chỉ khéo giao thông trong ngoài, tiết lộ cơ mật, khiến dư luận xôn xao. Có người cho rằng việc vạn cơ, thăng giáng bổ nhiệm, Hoàng Thái hậu đến nay vẫn còn dự vào." Ngày Canh Thìn, ngự bút phê: "Lời Quán nói hư dối không gốc, có thể giao cho Lại Bộ cùng hợp vào việc sai phái." Tam Tỉnh xin cho Quán làm Thứ sử một quận, Hoàng đế không cho, bèn thêm sai làm Giám Lương Liệu Viện ở Dương Châu.

Ban đầu Quán không biết mình bị trách, lại xin hôm sau vào chầu, Cửa Các không cho. Quán liền làm trát tử dâng lên, một tờ luận về Cảnh Linh Tây Cung, một tờ luận về chiếu bãi tướng Chương Đôn nói đến "quốc sự", tờ thứ ba, thứ tư đều chỉ rõ tội ác của Thái Kinh. Hoàng đế bí mật sai người ban cho vàng 100 lạng.

Trước đó, Ngự sử Trung thừa Phong Tắc, Điện trung Thị ngự sử Trần Sư Tích tâu: "Hàn Lâm Học Sĩ Thừa chỉ Thái Kinh, Tư Chính Điện học sĩ, Tri Giang Ninh Phủ Thái Biện, anh em cùng ác, làm mê muội nước nhà, lầm lạc triều đình. Biện tuy đã bãi chức, nhưng còn chiếm chức cao, làm nhơ danh một châu lớn. Kinh ung dung ở chức, ngày đêm giao kết Nội thị, thân thích, mong được trọng dụng. Kinh ưa lớn, ham công, sắc bén trong việc cải cách, nếu quả được trọng dụng, tất làm rối loạn chính sự cũ, trị loạn của thiên hạ từ đây phân, cơ nghiệp Tổ tông từ đây đổ." Ngày Tân Tị, Tắc vào chầu, lại nói: "Bệ hạ nắm uy quyền vạn thặng, sao lại sợ một Thái Kinh mà không thể bãi, há chẳng phải là vì Thánh mẫu chủ trương đó sao? Vào thời Thiệu Thánh, Nguyên Phù, Chương Đôn, Thái Biện cướp đoạt uy quyền, khiến Triết Tông ở vào chỗ có lỗi, phế Nguyên Hựu Hoàng hậu ra ở Dao Hoa cung, Kinh đều có phần sức. Tội ác của Đôn, Biện, nhờ bệ hạ thần đoán, đẩy ra ngoài biên; mà Kinh vẫn thản nhiên ở triều, có vẻ tự đắc. Trung thần lạnh lòng, người hiền đau xương, chẳng phải vì tự yêu mình mà lo, mà là vì lo cho bệ hạ, lo cho Tông miếu, lo cho thiên hạ hiền nhân quân tử vậy."

Ngày Quý Mùi, Liêu chúa vọng tế núi Mộc Diệp.

Ngày Giáp Thân, xuống chiếu: "Thái Biện bãi chức, làm Đề cử Đỗng Tiêu Cung, cư trú ở Thái Bình châu; Tri Thành Đô lộ Xương Hành (昌衡), Tri Vận châu Lữ Gia Vấn (呂嘉問), đều phân ty ở Nam Kinh, cư trú ở Quang châu." Vì tội khi làm Doãn Kinh đã a dua với Đôn, Biện, giết hại người vô tội. Hà Bắc Đô chuyển vận sứ Trương Thương Anh (張商英), Tri Oanh Châu Phạm Thang (范鏜), đều bị bãi chức, Thương Anh làm Tri Tùy châu, Thang làm Tri Trừ châu, cũng vì là bè đảng của Đôn, Biện nên bị trách vậy.

Ngày ấy, Hàn Lâm Học Sĩ Tăng Triệu dâng thư lên Hoàng đế và Hoàng thái hậu rằng: "Với sự sáng suốt định sách, nhanh chóng trả lại chính quyền của Hoàng Thái hậu, đã rõ ràng trước mắt mọi người, có thể gọi là thịnh đức. Nay vì một lời của Trần Quán mà bị giáng đày, tuy không phải là ý của Hoàng Thái hậu, nhưng bốn phương vạn dặm xa xôi, há có thể nhà nhà đều biết rõ! Vạn nhất có người nói Hoàng Thái hậu có điều không dung, thì thịnh đức cũng không khỏi bị tổn. Kế ngu của thần là: Hoàng đế cho rằng lời Quán là cuồng suất mà đuổi đi, Hoàng Thái hậu lấy lòng bao dung như trời đất mà giữ lại, thì người thiên hạ tất nói Hoàng đế kính thờ mẫu nghi, không dung tiểu thần vọng nghị, hiếu như thế đó; Hoàng Thái hậu có thể bao dung rộng lớn, dù có lời cuồng cũng không lấy làm tội, nhân như thế đó. Hai nghĩa đều được, há chẳng đẹp sao!" Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu đổi cho Quán làm Tri Vô Vi quân.

Lúc ấy Quán đã ra khỏi cửa nước, liền ở ngoài cửa dâng biểu xin từ chức, nói: "Trát tử thần dâng hôm qua, xin định tội Thái Kinh, nếu bệ hạ cho lời thần là phải, thì nên làm như thần xin; nếu cho lời thần là sai, thì nên giáng đày nặng hơn, mới là thỏa đáng. Chiếu cho thần làm Tri Vô Vi quân, thần không dám vâng nhận." Chiếu không cho từ chối.

Ngày Mậu Tý, Liêu chúa đóng quân ở Ngẫu Ty Điện.

Ngày Kỷ Sửu, phục lại việc chia đều cấp phát ruộng lộc.

Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Thân, lấy Thái Kinh làm Đoan Minh Điện học sĩ, Tri Vĩnh Hưng quân.

Ban đầu, sau khi Chương Đôn bị bãi làm Tri Việt châu, Trần Quán cùng những người khác cho là trách nhẹ, lại luận rằng: "Đôn ở niên hiệu Thiệu Thánh lập Cục Khán tường Nguyên Hựu Tố lý, những lời nói trái ý triều trước, đều gia hình đóng đinh chân, lột da, chém đầu, nhổ lưỡi, tàn khốc như thế. Quan Khán tường như An Đôn, Kiển Tự Thần, nhận phong dụ của đại thần, gán ghép lời nói, chỉ là báng bổ. Xét theo công luận, nên xử theo phép hình chính." Bèn cách chức cả hai người, cho về ở ruộng vườn, còn giáng Chương Đôn làm Vũ Xương quân Tiết độ phó sứ, an trí ở Đàm châu.

Ngày Đinh Dậu, lấy Thượng thư Hữu bộc xạ Hàn Trung Ngạn làm Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang.

Ngày Nhâm Dần, lấy Tri Khu mật viện sự Tăng Bố làm Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang.

Ngày Quý Mão, các Bộ trưởng Ngũ Quốc dâng cống cho nước Liêu.

Ngày Tân Hợi, xuống chiếu: Tri Kinh Nam Phủ Dương Úy (楊畏) làm Đề cử Đỗng Tiêu Cung.

Ngày Giáp Dần, nước Liêu vì Bình Châu đói, miễn tô thuế 1 năm.

Ngày Ất Mão, thăng Đoan Châu làm Tiết độ Hưng Khánh Quân.

Xuống chiếu: "Tư Chính Điện học sĩ, Tri Đại Danh phủ Lâm Hi (林希), giáng làm Đoan Minh Điện học sĩ, Tri Dương châu; Long Đồ Các Đãi chế, Tri Hồng châu Diệp Tổ Hiệp (葉祖洽), bãi chức, vẫn theo cũ làm Tri Hồng châu; Long Đồ các đãi chế, Tri Thanh châu Từ Đạc bãi chức làm Tri Hồ châu." Theo lời của Trung thừa Phong Tắc.

Ngày Mậu Ngọ, đổi Tri Nam Khang quân Cung Nguyên làm Tri Thọ châu.

Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu cấm tà học thiên lệch, tự ý cải tác làm hại quốc sự.

Ngày Tân Dậu, bãi việc Bình chuẩn vụ.

Tháng 11, ngày Quý Hợi mồng 1, đổi Tri Vĩnh Hưng quân Thái Kinh làm Tri Giang Ninh phủ.

Tả chính ngôn Trần Hựu tâu: "Lâm Hi khi làm Trung thư xá nhân, thảo chế trách Lữ Đại Phòng, lấy việc Tư Mã Quang lúc mới biến pháp, chỉ đích danh là lão gian, không chút kiêng dè. Tô Triệt thi Hiền lương, mà Hi nói Triệt lúc đối sách đã có dị chí. Đến việc Văn Cập Phủ bịa chuyện Lưu Chí hả dạ, cũng là Hi hiếm có mà gợi ra. Mà tội lớn trách nhẹ, lòng người không phục. Cúi xin giáng thêm, đẩy ra nơi nhàn tản, để tỏ phép công." Ngày Ất Sửu, xuống chiếu: "Hi bãi chức Đoan Minh Điện học sĩ, vẫn theo cũ làm Thái trung đại phu, Tri Dương châu."

Ngày Bính Dần, nước Liêu vì dân quân Thiên Đức quân là Điền Thế Vinh (田世榮) 3 đời cùng ở chung, tâu lên, bèn cho một người con làm Chỉ hậu ở Tam Ban viện.

Ngày Đinh Mão, xuống chiếu tu soạn "Lục triều bảo huấn".

Lúc ấy nghị luận cho rằng Nguyên Hựu, Thiệu Thánh đều có chỗ sai, muốn lấy đại công chí chính để tiêu tan bè đảng, Hoàng đế nghe theo. Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu đổi niên hiệu năm sau là Kiến Trung Tĩnh Quốc.

Ban đầu, Tăng Bố bí mật tâu thuyết Thiệu thuật, Hoàng đế không quyết, hỏi Cấp sự trung Từ Tích. Tích nói: "Thánh ý chẳng phải là muốn giữ cả hai bên sao? Việc thiên hạ, có phải và trái, người trong triều, có tà và chính, nếu không xét thực, chỉ cốt giữ cả hai bên, thần chưa thấy là được."

Xuống chiếu: "Tri Giang Ninh Phủ Thái Kinh bãi chức, làm Đề cử Động Tiêu Cung ở Hàng Châu." Theo lời Thị ngự sử Trần Thứ Thăng.

Sau khi Kinh bị giáng, các phụ thần cho rằng tội Thái Biện nhẹ, bèn cùng giáng Biện làm Thiếu phủ thiếu giám phân ty ở Nam Kinh, vẫn cư trú ở phủ Thái Bình. Thứ Thăng lại nói: "Cái hại của Biện không ít hơn Chương Đôn. Đôn đã lấy tản quan an trí ở Đàm Châu, mà Biện chỉ phân ty ở gần, sao gọi là giáng!" Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu: "Biện giáng 1 cấp, vẫn phân ty như cũ, dời cư trú ở Trì Châu."

Ngày Bính Tý, Liêu chúa triệu tăng Chí Đạt (志達) ở núi Y Mộc Lư, lập đàn trong nội điện.

Ngày Mậu Dần, lấy Quan Văn Điện học sĩ An Đảo (安燾) làm Tri Khu mật viện sự.

Ngày Canh Thìn, Thượng thư Hữu thừa Hoàng Lý (黃履) bị bãi, làm Tư Chính Điện Đại Học Sĩ, Đề cử Trung Thái Nhất Cung.

Ngày Kỷ Sửu, đặt chức "Xuân Thu bác sĩ".

Ngày Tân Mão, lấy Lễ bộ Thượng thư Phạm Thuần Lễ (范純禮) làm Thượng thư Hữu thừa.

Thị ngự sử Trần Thứ Thăng tâu: "Hữu bộc xạ Tăng Bố, trước đây ở Khu mật, a thuận Tể thần, tiến dùng kẻ bất nhân, mở rộng việc gây hấn biên giới. Gần đây lên làm Tể phụ, một mình nắm quyền nước, khinh rẻ đồng liêu, uy phúc do mình. Đề bạt thân cố, bày đặt bè cánh làm tai mắt; dùng môn nhân đặt ở Đài gián làm tâm phúc; con cháu cậy quyền, giao thông tân khách, cửa nhà như chợ. Cúi xin đặc biệt xử theo hình chính, để tạ thiên hạ."

Tháng 12, ngày Giáp Ngọ, vì Hoàng thái hậu không khỏe, cầu đảo ở các cung quán, từ miếu, núi sông.

Ngày Mậu Tuất, Thái Kinh lại làm Long Đồ các trực học sĩ, Tri Định châu.

Hạ giá kho thóc Sơn Lẫm để cứu dân.

Ngày Kỷ Hợi, nước Liêu lấy Tri Hữu Y Lặc Hy Ba sự Tát Gia Nỗ (薩嘉努) làm Bắc diện Lâm Nha.

Ngày Tân Sửu, xét giảm tội cho tù nhân.

Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu tu soạn "Quốc triều hội yếu".

Ngày Mậu Thân, ban đức âm cho các lộ, giảm tội cho tù 1 bậc, từ tội lưu trở xuống thì tha.

Ngày Tân Hợi, Liêu chúa lệnh cho Yên Quốc vương Diên Hy (延禧) dự định bổ nhiệm quan từ Đại tướng quân trở xuống.

Năm ấy, nước Liêu phong Cao Ly quốc vương Ngung (顒) làm Tam Hàn quốc công. Cho đỗ tiến sĩ Khang Bỉnh Kiệm (康秉儉) cùng 87 người.

Mục Đô Lý (穆都哩) hàng Nữ Trực.

Lúc ấy A Tô (阿蘇) vẫn còn ở nước Liêu, nước Liêu sai sứ đến giảng hòa, chưa tới. Anh Cách (英格) sai Ô Lăng A Thật Lỗ (烏淩阿實嚕) đến giúp Hòa Trác (和卓), dặn rằng: "Khi sứ Liêu đến, chỉ đổi áo giáp, cờ xí của quân ta, cho giống với trong thành A Tô, chớ để sứ Liêu biết. Sứ Liêu có thể dùng mưu mà đuổi đi, chớ nghe lời họ mà vội bãi binh." Sứ Liêu quả đến giảng hòa, Anh Cách sai Hồ Lỗ (呼嚕), Mục Thấm (穆沁) hai người cùng đến thành A Tô. Hòa Trác thấy sứ Liêu, giả nói với hai người ấy rằng: "Bộ tộc ta tự đánh nhau, can gì đến các ngươi?" Bèn rút giáo đâm chết ngựa của Hồ Lỗ, Mục Thấm. Sứ Liêu kinh hãi, vội chạy, không dám ngoái lại, thẳng về.

Ở lại mấy ngày, phá được thành ấy, bắt Địch Thư Bảo (迪舒保) giết đi. A Tô (阿蘇) lại sang kiện cáo với nước Liêu, nước Liêu sai Tiết độ sứ người Khi là Y Lý (伊哩) đến. Anh Cách (英格) đến sông Lạp Lâm (拉林水) gặp y. Y Lý hỏi việc thành của A Tô, bèn sai bảo Anh Cách rằng: "Phàm những gì thu được khi đánh thành, kẻ sống thì trả lại cho hắn, kẻ không còn thì phải bồi thường." Lại thu thêm mấy trăm con ngựa.

Anh Cách cùng thuộc hạ bàn rằng: "Nếu bồi thường cho A Tô, thì các bộ về sau sẽ không còn có thể sai khiến, dùng được nữa." Bèn sai dân hai sông Hòa Nạp và Đồ Tháp giả vờ ngăn chặn, cắt đứt đường Ưng Lộ, lại sai Tiết độ sứ bộ Cáp Cố Đức tâu với nước Liêu rằng: "Muốn mở đường Ưng Lộ, thì không phải Tiết độ sứ Sinh Nữ Trực thì không làm được."

Nước Liêu không biết đó là mưu của Anh Cách, tin theo, bèn lệnh cho Anh Cách đi đánh kẻ cắt đứt đường Ưng Lộ, mà việc thành A Tô do đó liền thôi. Anh Cách truyền lời rằng đã bình định đường Ưng Lộ, đi săn ở sông Đồ Cổn. Nước Liêu sai sứ đến ban thưởng công lao, Anh Cách bảo Phú Gia Nỗ đem của ban thưởng của nước Liêu cấp cho dân Hòa Nạp, Đồ Tháp, rồi sửa sang đường Ưng Lộ mà trở về.

Hết chương 85

Chương sauQuyển 87

Đọc chương 86 →

Bình luận về truyệnTrang truyện