Tục tư trị thông giám

Chương 61: Quyển 62

Khoảng 53 phút đọc · 11.621 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Anh Tông Thể Can Ứng Lịch Long Công Thịnh Đức Hiến Văn Túc Vũ Duệ Thánh Tuyên Hiếu hoàng đế, tên là Thự (曙), là con trai thứ 13 của Bộc An Ý vương, mẹ là Tiên Du huyện quân Nhậm thị (任氏). Ngày mồng 3 tháng Giêng năm Minh Đạo thứ 1, sinh tại phủ đệ ở phường Tuyên Bình. Lúc đầu, vương nằm mộng thấy 2 con rồng cùng mặt trời đi theo, lấy áo đón lấy, rồi lại bay lượn đùa giỡn trên không trung. Một con rồng nhìn vương nói: "Ta không phải là thứ mà vương có thể có được." Đến khi Hoàng đế sinh ra, ánh sáng đỏ đầy khắp phòng, có người trông thấy rồng vàng bơi lượn trong vùng ánh sáng. Năm 4 tuổi, Nhân Tông nuôi Hoàng đế trong cung nội. Năm Bảo Nguyên thứ 2, Dự vương chào đời, bèn cho ngài trở về phủ đệ Bộc vương. Hoàng đế thiên tính rất mực hiếu thuận, ưa đọc sách, không ham yến tiệc vui chơi phóng đãng, y phục, đồ dùng đều giản dị như bậc nho giả. Năm Cảnh Hựu thứ 3, ban tên là Tông Thực (宗實), bổ nhiệm làm Phó suất phủ Tả Giám môn vệ suất phủ, nhiều lần thăng dần đến chức Hữu vệ Đại tướng quân, Nhạc châu Đoàn luyện sứ. Năm Gia Hựu thứ 7, tháng 8, lập làm Hoàng tử, đổi sang tên hiện nay.

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Đinh Dậu, mồng 1, đổi niên hiệu.

Ngày Mậu Tuất, sao Thái Bạch hiện ra ban ngày.

Kinh Linh cung sứ, Vũ Ninh Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự Tống Tường (宋庠) xin cáo lão. Hoàng đế mới lên ngôi, vì là đại thần, chưa nỡ cho nghỉ ngay, bèn sai làm Phán Bạc châu. Tường từ trước đến nay, nơi nào đến nhậm chức đều lấy sự thận trọng, yên tĩnh mà trị; về cuối đời, vì yêu chiều, tin dùng con út, nên khá nhiều lời bàn tán. Đến đây, quan Gián quan Lữ Hối (呂誨) xin ban chiếu không cho Tường đem 2 con theo. Hoàng đế nói: "Tường đã già rồi, sao lại không cho con cái theo hầu được ư?"

Ngày Quý Sửu, ban chiếu giảm bớt số đạo sắc phong sư hiệu, áo tía, giấy giới điều của Ty Tự bộ ban nhân dịp Thọ Thánh tiết. Theo lệ cũ, Thánh tiết ban 300 đạo, mà Quý phi, Tu nghi, Công chúa vẫn còn xin riêng. Đến nay giảm còn 200 đạo, mà những người xin riêng cũng tính gộp trong số ấy.

Ngày Giáp Dần, Hùng châu tấu: "Huyện Quy Tín, Dung Thành báo: người nước Liêu đuổi giặc, có 7 kỵ binh chạy vào cõi Nam, đã đuổi ra ngoài." Ban chiếu cho Hà Bắc Duyên biên An phủ ty: "Giặc cướp từ cõi Bắc chạy sang thì lập tức đuổi ra; nếu có cướp bóc thì bắt giao trả về nước họ; như đàn bà, người già, trẻ nhỏ tránh giặc mà vào cõi, thì khéo khuyên bảo rồi cho về."

Tể tướng Nam phủ nước Liêu là Dương Tích (楊績) bị giáng ra làm Tri Hưng Trung phủ.

Tri Đường châu, Ty Tư nông Thiếu khanh Triệu Thượng Khoan (趙尚寬) mãn nhiệm lần thứ 2, đặc biệt thăng làm Quang Lộc Thiếu khanh, ban 200.000 quan tiền, lại lưu nhiệm. Sau vì mẹ mất mà từ chức. Thượng Khoan ở Đường châu, trước sau cộng 5 năm, sửa cũ dựng hư, hòa mục, khuyến khích canh tác, có hiệu quả thực sự.

Đồng tri Gián viện Lữ Hối tâu: "Tiên triều, khi hai phủ và quan Đài gián vào chầu tâu đối, thì bọn thị thần hầu cận hai bên đều lui tránh sang hai hành lang, nên có thể thong thả bàn luận, việc không lộ ra ngoài. Gần đây thần vào chầu tâu đối, bọn ấy đều không lui tránh, đứng ở góc điện, trong cửa ván. Xin ban chỉ, từ nay lui tránh như lệ cũ." Chiếu cho theo.

Ngày Tân Dậu, ban chiếu lấy Nhân Tông phối hưởng Minh đường.

Lúc đầu, Lễ viện tâu xin cùng với hai chế bàn nghị Nhân Tông nên phối vào lễ tế nào. Theo lệ cũ, Đông chí, Hạ chí tế Hạo Thiên Thượng Đế, Hoàng Địa Kỳ, lấy Thái Tổ phối; thượng tân tháng Giêng tế cầu cốc, đầu hạ tế cầu mưa, đầu đông tế Thần châu Địa kỳ, đều lấy Thái Tông phối; thượng tân tháng Giêng tế Cảm Sinh Đế, lấy Tuyên Tổ phối; cuối thu đại hưởng Minh đường, tế Hạo Thiên Thượng Đế, lấy Chân Tông phối.

Hàn lâm học sĩ Vương Khuê (王珪) cùng những người khác bàn: "Đời Đường, khi Đại Tông lên ngôi, dùng Lễ nghi sứ Đỗ Hồng Tiệm (杜鴻漸) cùng những người khác bàn nghị, cuối thu đại hưởng Minh đường, lấy tiên khảo Túc Tông phối Hạo Thiên Thượng Đế; đến Đức Tông lên ngôi, cũng lấy tiên khảo Đại Tông phối. Vương Kinh (王涇) trong ‘Giao tự lục chú’ nói, đó là theo đạo ‘Chu Công tôn nghiêm cha’ trong ‘Hiếu kinh’. Nay xin noi theo đạo ‘Chu Công tôn nghiêm cha’, lấy Nhân Tông phối hưởng Minh đường."

Tri chế cáo Tiền Công Phụ (錢公輔) bàn: "Cẩn xét ‘Hiếu kinh’ nói: ‘Xưa Chu Công tế Hậu Tắc để phối trời, tế Văn Vương ở Minh đường để phối Thượng Đế.’ Lại nói: ‘Hiếu không gì lớn bằng tôn nghiêm cha, tôn nghiêm cha không gì lớn bằng cho cha phối trời, thì Chu Công chính là người như thế.’ Lấy lời Chu Công mà nói thì là tôn nghiêm cha; lấy lời Thành Vương mà nói thì là tôn nghiêm tổ. Khi ấy, chính sự do Chu Công, tế tự do Thành Vương, thì cũng đâu nhất thiết phải tôn nghiêm cha ư! Chân Tông thì như Vũ Vương nhà Chu, Nhân Tông thì như Thành Vương nhà Chu, tuy có công nghiệp xứng phối trời, nhưng không có lễ tế phối trời. Chưa từng nghe Thành, Khang vì cớ tôn nghiêm cha mà bỏ lễ tế Văn Vương để dời đi. Lấy lòng Khổng Tử mà suy lễ tế của Chu Công, thì là tôn nghiêm cha; lấy lòng Chu Công mà thay Thành Vương chủ tế, thì là tôn nghiêm tổ. Tôn nghiêm tổ, tôn nghiêm cha, nghĩa là một. Lúc mới định người phối, vốn hợp với thuyết tôn nghiêm cha, hai Hoàng đế Chương, An cũng không đổi, là gần với cổ nhất, hợp với lễ nhất. Đời Đường, lúc Trung Tông thì lấy Cao Tông phối; đến Huyền Tông thì lấy Duệ Tông phối; đến niên hiệu Vĩnh Thái thì lấy Túc Tông phối. Lễ quan như Đỗ Hồng Tiệm, Vương Kinh không thể suy rõ kinh nghĩa, chỉ chăm chăm muốn hợp với thời cổ ban đầu, lại hùa nhau trong lời bàn mà làm mê hoặc vua đương thời, kéo dài đến nay, cứng nhắc không phá được. Lúc Chân Tông mới nối ngôi, nếu có người dâng luận như thế, thì lễ tế phối trời phải thuộc về Thái Tông rồi. Xin ban chiếu cho hữu ty rộng rãi bàn nghị, khiến lễ tế phối trời không bị trói buộc vào thuyết tôn nghiêm cha, mà đạo tôn nghiêm cha cũng không chỉ riêng ở lễ phối trời." Bèn lại ban chiếu cho Đài gián và quan Giảng độc cùng với hai chế, Lễ viện xét định lại tâu lên.

Ngự sử Trung thừa Vương Trù (王疇) cho rằng nghị luận của Vương Khuê và những người khác là bỏ sót Chân Tông, không cho phối; nghị luận của Công Phụ là bỏ sót cả Tuyên Tổ, Chân Tông, Nhân Tông đều không được phối, về ý nghĩa lễ thì chưa ổn, bèn dâng nghị rằng: "Trong ‘Dịch’ nói: ‘Tiên vương làm nhạc để tôn sùng đức, dâng lên Thượng Đế để phối với tổ, khảo.’ Như vậy thì tổ, khảo phối Đế, đã có từ lâu. Xin theo nghị luận của Vương Khuê và những người khác, tôn Nhân Tông Hoàng đế phối hưởng Minh đường, để hợp với thuyết ‘phối khảo’ trong ‘Đại Dịch’, lễ ‘tôn nghiêm cha’ trong ‘Hiếu kinh’; lại xin dời Chân Tông phối lễ cầu mưa đầu hạ, noi theo lệ Trinh Quán, Hiển Khánh đời Đường; Thái Tông Hoàng đế vẫn như cũ phối lễ cầu cốc thượng tân tháng Giêng, lễ tế Thần châu Địa kỳ đầu đông, còn lại theo lệ bản triều. Như thế thì các Thánh cùng được dự hiến, đối diện trời cao, ân trạch sâu dày, lưu sáng, để lại phúc cho muôn đời. Nếu nhất định theo nghị luận của Công Phụ, thì khiến bốn vị Thánh thành ra thất lễ, dẫn Hoàng thượng đến chỗ bất hiếu, trái kinh, nghịch cổ, không gì quá thế."

Tri Gián viện Tư Mã Quang (司馬光), Lữ Hối bàn: "Lòng người con hiếu, ai chẳng tôn kính cha mình! Thánh nhân chế lễ để làm khuôn phép, không dám vượt qua. Khổng Tử vì Chu Công có đức thánh nhân, thành tựu nghiệp thái bình, chế lễ tác nhạc, mà Văn Vương lại là cha của Chu Công, nên dẫn việc ấy để chứng minh đức của thánh nhân không gì lớn bằng hiếu, chỉ là để trả lời câu hỏi của Tăng Tử mà thôi, chứ không phải nói rằng凡 ai làm thiên tử cũng đều phải lấy cha mình phối trời rồi mới gọi là hiếu. Gần đây, người ta tế Minh đường đều lấy cha mình phối Thượng Đế, đó là giải sai ý ‘Hiếu kinh’ mà trái với lễ của tiên vương. Năm Cảnh Hựu, lấy Thái Tổ là tổ của người làm Hoàng đế, ví như Hậu Tắc nhà Chu; Thái Tông, Chân Tông là tông của người làm Hoàng đế, ví như Văn, Vũ nhà Chu; như vậy thì tế Chân Tông ở Minh đường để phối Thượng Đế cũng chưa trái cổ lễ, còn Nhân Tông tuy công đức phong phú, tốt đẹp, thấm khắp bốn biển, nhưng không ở vị trí hai tông miếu. Người bàn luận lại muốn bỏ Chân Tông mà lấy Nhân Tông phối, e là không hợp với phép tế; lại xét theo tình người, thì là giáng tổ mà tiến cha. Nếu nhất định làm như thế, không chỉ trái lễ điển, e cũng không phải là ý của Nhân Tông. Thần cho rằng nên theo lễ cũ, lấy Chân Tông phối Ngũ Đế ở Minh đường là thích hợp."

Quan Văn điện học sĩ, Hàn lâm Thị độc học sĩ Tôn Biện (孫抃) cùng những người khác tâu: "Cẩn xét ‘Dịch’ nói: ‘Tiên vương làm nhạc để tôn sùng đức, dâng lên Thượng Đế để phối với tổ, khảo.’ Ấy là tổ, khảo đều có thể phối trời, hợp với thuyết trong ‘Hiếu kinh’, có thể nói là nhất định phải tôn nghiêm cha. Tổ, khảo đều có thể phối Giao và Minh đường nhưng ở vị trí khác nhau, không thể nói tôn nghiêm cha, tôn nghiêm tổ là một nghĩa. Tuy nhà Chu không nghe nói bỏ lễ phối Văn Vương mà dời sang Vũ Vương, bỏ lễ phối Vũ Vương mà dời sang Thành Vương, nhưng thuyết ‘phối khảo’ trong ‘Dịch’, ‘tôn nghiêm cha’ trong ‘Hiếu kinh’, các đời noi theo, cũng không phải là không có lý. Nhân Tông nối nghiệp, giữ gìn, khiến thiên hạ đại trị, được 42 năm, công đức có thể nói là tột bậc. Nay mới bắt đầu nhập thờ trong tông miếu, lại hạ thấp mà không cho phối Đế, rất không phải là cách để tuyên dương đại hiếu tôn nghiêm cha. Thần cùng mọi người tham khảo điển cũ, rộng xét dư luận, dám cho rằng nghị luận đã định trước đây là thích hợp." Ban chiếu theo nghị luận của Tôn Biện và những người khác.

Tháng 2, ngày Mậu Thìn, lệnh Hàn Kỳ (韓琦) trông coi việc biên soạn ‘Nhân Tông thực lục’.

Ngày Tân Mùi, lệnh Tây Kinh Tả tàng khố Phó sứ, Duyên giới hà Tuần kiểm Đô giám Triệu Dụng (趙用) tiếp tục nhiệm kỳ, theo lời xin của Cao Dương quan và Hà Bắc Duyên biên An phủ ty. Dụng có tài võ, quả cảm, quen thuộc việc biên giới, người Thát dùng thuyền chở muối phạm cấm biên giới, Dụng mổ thuyền, đánh chìm. Người Thát sợ Dụng, vì ông thường cưỡi thuyền đầu hổ, gọi là Triệu Hổ Đầu.

Ngày Kỷ Mão, ban chiếu: lễ tế Cao Môi vào tiết Xuân phân, bỏ việc dùng cung tên, bao cung, việc tiến rượu, thịt khô, cùng lễ cung nhân uống rượu phúc, nhận thịt ban, vì đang ở trong thời gian để tang trong Lượng các.

Tháng này, nước Liêu cấm dân Nam Kinh phá đê dẫn nước trồng lúa tẻ.

Tháng 3, ngày Đinh Dậu, mồng 1, ban chiếu: "Tam ty dùng 3.000.000 quan tiền của Nội tàng khố để tu sửa, phụng sự sơn lăng của Nhân Tông, theo lệ Càn Hưng mà miễn một nửa, số còn lại cho hoàn dần."

Sai Nhập nội Đô tri Nhậm Thủ Trung (任守忠), Quyền Hộ bộ Phó sứ Trương Tháo (張燾) trông coi án tu sửa, xây dựng của Tam ty. Quan Câu đương công sự Trương Huy (張徽) dựng điện Thần ngự của Nhân Tông ở Tây viên Kinh Linh cung, điện xong, đặt tên là Hiếu Nghiêm, điện khác gọi là Ninh Chân. Tháo nhân đó xin vẽ hình các văn võ đại thần thời Càn Hưng trên tường điện. Việc vẽ tượng bắt đầu từ đây.

Ở Kinh sư, đánh thuế theo lượng men rượu, mỗi hộ đều có sổ sách cố định, bất kể có bán hay không, có người đến nỗi phá sản để trả. Tháo xin bỏ hạn ngạch hàng năm, nghiêm cấm lệnh, tùy theo dùng men nhiều ít mà thu, từ đó thuế tăng lên gấp mấy lần. Từng cùng Tam ty sứ bàn việc đúc tiền, Hoàng đế hỏi vặn, mọi người đều không trả lời được, Tháo thong thả trình bày, Hoàng đế cho là phải, khi lui ra, lệnh thị thần ghi nhớ tên họ. Tháo là cháu gọi Kháng (亢) bằng bác.

Ngày Kỷ Dậu, Tư Mã Quang tâu: "Thần nghe gần đây thánh thể Hoàng thượng rất an, phụng sự Hoàng thái hậu, tối sớm vào chầu, chưa từng bỏ sót, há chỉ là phúc của quần thần, bách tính, mà còn là phúc của tông miếu, xã tắc. Hoàng thượng đã là hậu duệ của Nhân Tông, thì Hoàng thái hậu chính là mẹ của Hoàng thượng. Nay Bộc vương đã mất, lòng hiếu dưỡng chưa trọn của Hoàng thượng lúc sinh tiền, nếu không đem thi thố với Hoàng thái hậu, thì sẽ dùng vào đâu? Nay Hoàng thượng đã có thể phụng dưỡng theo lễ, mà thần lại còn khẩn thiết dâng lời, chính là muốn Hoàng thượng từ đầu đến cuối không mệt mỏi, bên ngoài hết lòng cung kính, bên trong hết lòng yêu thương, khiến đức hiếu mỗi ngày một mới, để hợp với mong mỏi của thiên hạ mà thôi. Nếu vạn nhất có kẻ tiểu nhân vô tri, vì chuyện nhỏ nhặt mà ly gián tình mẹ con của Hoàng thượng, không nghĩ đến nỗi lo quốc gia nghiêng đổ, chỉ muốn tự mưu lợi cho thân mình, xin Hoàng thượng giao cho hữu ty, nghiêm minh định tội, khiến thiên hạ đều rõ Hoàng thượng thánh minh, nhân hiếu, không phụ đại ân, mà kẻ gièm pha, nịnh hót không thể xen vào."

Quang lại tâu: "Thần xét thấy thời Tổ tông, lúc rảnh rỗi không việc, thường triệu thị thần hầu cận, cùng thong thả giảng luận; đến như văn võ triều sĩ, sứ thần, tuyển nhân, phàm ai được vào chầu, thường triệu đến trước, thân tự hỏi han. Sở dĩ như vậy, một là muốn cho tình hình dưới thông lên trên, không bị bưng bít; hai là muốn biết người ấy có năng lực hay không, tài khí có thể dùng vào việc gì. Nay Hoàng thượng với sĩ đại phu đương thời chưa giao tiếp nhiều, tình thực, giả dối trong dân gian chưa biết hết, nên ban chiếu cho thị thần hầu cận, mỗi ngày luân phiên 1 người trực ở Tư thiện đường, đêm thì ngủ tại Sùng Văn viện, để phòng khi triệu kiến bất thường. Còn các quan khác khi vào chầu, tâu việc, cũng mong Hoàng thượng bớt phần nghiêm trọng, hỏi han kỹ càng, để mở rộng thính minh, giúp ích cho đại chính."

Hôm khác, Quang vào chầu tâu đối, lại nói: "Hoàng thái hậu là mẹ, Hoàng thượng là con. Hoàng thái hậu làm mẫu nghi thiên hạ đã 30 năm, Hoàng thượng mới từ phiên vương vào nối đại thống, vạn nhất hai cung có hiềm khích, Hoàng thượng cho là ai trái, ai phải, ai được, ai mất? Lại nữa, ân đức của Nhân Tông ở trong dân, đã khắc vào xương tủy, Hoàng thượng thừa hưởng đại nghiệp mà không có gì để báo đáp, thì lấy gì an ủi mong mỏi của thiên hạ? Phàm bậc nhân chủ sở dĩ giữ được quốc gia là vì nắm quyền uy, ân phúc. Nay Hoàng thượng lên ngôi gần tròn năm, mà chính sự triều đình, việc bổ nhiệm, ban thưởng, trừng phạt, hết thảy giao cho đại thần, chưa từng hỏi han đầu đuôi sự việc, xét đoán phải trái, để có chỗ cho, chỗ lấy. Thần e trên dưới quen như thế, quyền uy, ân phúc dần dần chuyển dời, thì tuy có nghiệp bốn biển, cũng lấy gì tự giữ? Những điều lợi, hại ấy rõ ràng như trắng với đen, việc chọn bỏ dễ như trở bàn tay. Hoàng thượng hôm nay đổi ý, đổi nghĩ, vẫn chưa muộn. Nếu cố giữ ý kiến, rốt cuộc không thay đổi, thần e ngày tháng càng lâu, hiềm khích càng sâu, không thể hòa hợp lại, quyền uy đã mất, không thể thu về, sau dù hối hận cũng không kịp."

Quang vì lời nói không được dùng, khẩn cầu bổ ra ngoài, Hoàng đế sai Tể thần tuyên dụ rằng: "Những điều khanh nói, đại để đều đã thi hành. Hơn nữa, khanh giữ chức dâng lời can gián, chưa cần xin ra ngoài." Quang lại tâu: "Hai việc thần đã nói trước đây, nếu không thể làm được, thì dù ngày ngày hầu bên rèm son, có ích gì! Nếu lễ phụng dưỡng ngày càng tăng, việc tìm cầu đạo trị, chăm lo không mệt, khiến từ trên mẹ hiền vui vẻ, dưới dân chúng an lạc, thì thần dù ở nơi xa, cũng như ở bên cạnh Hoàng thượng vậy."

Lữ Hối tâu: "Gần đây thánh thể đã bình phục, mà vạn cơ triều chính, chưa nghe Hoàng thượng thân tự quyết đoán. Người bàn luận cho rằng Hoàng thượng nhường tránh, còn chờ đợi điều gì đó; nếu quả như vậy, e là chưa phải thuận. Từ sau thời Hán, các Hoàng thái hậu lâm triều, đều là vì vua nối ngôi còn nhỏ, thân tự phò tá, cùng ngồi dưới rèm, chuyên quyền nghe quyết; đến khi vua nhỏ đã lớn, mới có việc phục bích. Việc hôm nay khác với thế. Tiên đế chọn Hoàng thượng trong tông tộc, vì hiền lại lớn tuổi, ý phó thác chính là vì ngày nay. Lúc Hoàng thượng bệnh nặng, nếu không có Hoàng thái hậu trong cung phò tá, thì chính sự không nơi gửi gắm; đại thần lập kế cho nước, là trung vậy. Tuy nhiên, Hoàng thượng lâm triều ở tiền điện, trăm quan triều bái xong, hai phủ đại thần mới vào Tiểu điện cửa Đông nội, thì giềng mối, quyền bính đều ở trong tay, Hoàng thượng tự mình chưa chuyên quyết, còn chờ đợi gì nữa! Cúi xin Hoàng thượng cảm ngộ trong lòng, đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Chỉ cần bên trong chăm lo hiếu dưỡng, dẫn dắt Trung cung hết lễ, thì tình mẹ chồng, nàng dâu sẽ hòa hợp, tình mẹ con càng thân thiết. Tự mình chăm sửa chính sự, nắm giữ uy, phúc, ngày ngày cùng thị thần hầu cận bàn cầu đạo trị, việc không làm quá, tự nhiên Hoàng thái hậu yên lòng, ân ý không cách trở, vui vầy nơi thâm cung, nhàn nhã thanh tĩnh, bế cháu, chơi con, không còn dính vào chính sự, há chẳng phải là điều Hoàng thái hậu mong muốn sao?"

Hối bèn nói với Hoàng thái hậu rằng: "Điện hạ bảo hộ Thánh tử đã 30 năm, phò tá lại hơn một năm, thiên hạ yên bình, tông miếu vững bền, ân từ đã tột, công đức đã lớn. Nhưng vì vạn cơ rối rắm, lao thân nhọc trí, chưa từng nghỉ ngơi, không phải là gốc để vui vầy, hưởng thọ. Huống chi Hoàng đế thân tự trị việc, chăm chỉ như thế, trong lòng Thánh thượng ắt đã yên. Thần ngu cho rằng rèm ở Đông điện nên 5, 7 ngày mới ngự một lần, hỏi han đại thần, đừng để trễ việc, thì cũng bớt được phần nhọc nhằn, mà đạo phò chính cũng không tổn hại. Nên sớm tuyên chiếu lệnh, rộng báo triều đình, bên ngoài biểu hiện sự khiêm nhường, bên trong được hưởng vui nhàn nhã, trên thuận thiên đạo, dưới hợp lòng người, hưởng trọn vẻ đẹp ấy, há chẳng tốt sao!"

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Mùi, ban chiếu: lấy quan lại châu, huyện Hà Bắc bổ sung số nghĩa dũng còn thiếu, lệnh Chuyển vận sứ hặc trị. Đô Chuyển vận sứ Triệu Biện (趙抃) tâu: "Lúc mới nhận chiếu, nhiều quan đã bãi chức, nhiều lại chết, đi đày. Nay quan lại phần nhiều mới đến, nếu đều trị tội, thì người mới đến bị vạ. Xin lấy hết năm làm hạn, nếu vẫn không đủ thì mới hặc trị." Ban chiếu theo, những châu, quân bị lụt ở sông thì cho bổ sung dần.

Lúc đầu, Biện đến Đại Danh, khi ấy Giả Xương Triều (賈昌朝) là cựu tướng, giữ Ngụy. Biện muốn khám xét phủ khố, Xương Triều sai thuộc hạ đến nói: "Trước đây các Giám ty chưa từng khám xét kho tàng của ta, công tuy muốn làm tròn chức trách, e việc không có tiền lệ, biết làm sao?" Biện nói: "Bỏ Đại Danh, thì các quận khác sẽ không phục." Liền đến khám. Xương Triều lúc đầu không vui, đến khi vì quan lại chiêu mộ nghĩa dũng không đủ, đáng bị tội hơn 800 người, Biện tâu xin khoan, người đáng tội được miễn, mà số nghĩa dũng cũng đủ theo, Xương Triều bấy giờ mới hổ thẹn, khâm phục.

Ngày Đinh Sửu, Quyền Ngự sử Trung thừa Vương Trù dâng sớ, xin xa giá tuần hành để an lòng dân. Bấy giờ, Tể thần và Gián quan nối nhau xin, Hoàng đế nói: "Phải bàn với Thái hậu." Hàn Kỳ tâu với Thái hậu, Thái hậu nói: "Nay đội quân túc vệ chưa đủ, hãy đợi ít lâu." Kỳ nói: "Đó là việc nhỏ, không khó làm." Bèn ban chiếu cho hữu ty chọn ngày tâu lên.

Trước đó, Tư Mã Quang tâu: "Các Hoàng đế đời trước khi băng, cung nhân hầu hạ ở hàng dưới đều cho ra khỏi cung, trả về thân thích, để thuận lòng người, trọng nhân thế, giảm chi phí, tránh hiềm nghi. Thần xét tiên đế cung kiệm, ít ham muốn, người hầu hạ, được sủng ái trong hậu cung rất ít, nhưng vì hưởng quốc lâu ngày, thì tháng thêm, năm chất, trong cung cấm người ăn không cũng khá nhiều, Hoàng thượng vì lúc đầu thương xót, chưa nỡ giải tán. Nay sơn lăng, nhập miếu, đại lễ đều xong, cho là nên noi theo lệ đời trước, những người trong hậu cung tiên đế không từng được ngự hạnh mà có con, cùng những người phẩm vị hơi cao, và người giữ việc văn thư, còn lại đều cấp cho đồ trang sức, cho ra ngoài, mỗi người về với thân thích, hoặc tùy ý lấy chồng. Ghi vào sử sách, cũng là một việc đẹp của Thánh triều." Ngày Quý Mùi, cho ra khỏi cung 135 cung nhân.

Ngày Giáp Thân, ngự Nhĩ Anh các, dụ Nội thị Nhậm Thủ Trung rằng: "Ngày dài, quan Giảng độc hầu chầu lâu chưa ăn, ắt mệt mỏi. Từ nay, sau khi xử lý chính sự xong, không đợi dâng bữa, liền ngự Kinh diên." Theo lệ cũ, sau khi giảng đọc xong, bái rồi lui, Hoàng đế lệnh không phải bái, về sau thành lệ.

Hoàng đế từ khi lên ngôi mắc bệnh, đến nay vẫn chưa hoàn toàn bình phục, thường không thích uống thuốc. Lữ Công Trứ (呂公著) giảng ‘Luận ngữ’ đến câu Điều mà thầy cẩn trọng là trai giới, chiến tranh, bệnh tật, nhân nói: "Người có thiên hạ, là chủ của trời đất, tông miếu, xã tắc, đối với trai giới, tế tự ắt phải hết lòng thành, hết sức cung kính; người xưa, một cơn giận là xác phơi, máu chảy, nên khi khởi binh, động chúng không thể không cẩn thận; đến như bệnh tật của con người, thường ở trong ăn uống, ngủ nghỉ, là điều người thường hay xem nhẹ, mà thánh nhân lại cẩn trọng. Huống chi là bậc nhân chủ, gánh nặng, trách nhiệm lớn, càng phải tiết chế ham muốn, xa tiếng nhạc, sắc đẹp, gần thầy thuốc, thuốc men, vì tông miếu mà tự yêu lấy thân, không thể không cẩn thận." Hoàng đế vì thế mà cảm động. Sau nhân lúc Phụ thần tâu việc, nhắc đến Công Trứ, Âu Dương Tu nói: "Công Trứ là người điềm đạm, yên tĩnh mà có văn." Hoàng đế nói: "Gần đây giảng giải ở Kinh diên rất hay."

Tư Mã Quang tâu: "Thần thấy Quyền Ngự sử Trung thừa Vương Trù dâng lời, xin Hoàng thượng noi theo lệ Chân Tông, ngự các chùa, quán cầu mưa, triều đình tuy theo lời xin, đến nay xa giá chưa ra. Thần ngu cho rằng xa giá tạm ra, chỉ quanh trong Kinh thành, cũng đâu cần câu nệ lời bọn bói toán, sử quan, chọn ngày giờ! Cúi xin Hoàng thượng quyết đoán từ thánh tâm, trong vòng một, hai ngày, xa giá sớm ra, vì dân cầu mưa, để đáp mong mỏi trong ngoài." Ngày Bính Ngọ, cầu mưa ở Tướng quốc, Đại Thanh tự, Lễ Tuyền quán. Hoàng đế lâu ngày không khỏe, đến nay sĩ, dân trông thấy, hoan hô, mừng rỡ.

Tháng 5, ngày Kỷ Hợi, ban chiếu: "Từ nay, khi hạn, lụt, sai quan cầu đảo ở Cửu cung Quý thần." Theo lời của Hồ Túc (胡宿).

Ngày Đinh Mùi, lệnh Thiên Chương các Đãi chế Lữ Công Trứ cùng tu ‘Khởi cư chú’, Thiệu Tất (邵必) biên tập ‘Nhân Tông ngự chế’.

Ngày Mậu Thân, Hoàng thái hậu viết tay giao cho Trung thư, trả lại chính quyền. Trước đó, bệnh Hoàng đế hơi thuyên giảm, từ mùa thu năm ngoái, cách ngày ngự tiền, hậu điện thị triều, thính chính, hai phủ mỗi lần bãi triều, vào Tiểu điện cửa Đông nội tâu lại với Thái hậu như cũ. Hàn Kỳ muốn trả chính quyền cho Thiên tử, mà Ngự bảo ở trong tay Thái hậu; bèn nhân lúc Hoàng đế cầu mưa trở về, khiến Ngự bảo không vào các của Thái hậu nữa. Có lần đem hơn 10 việc xin Hoàng đế quyết đoán, đều được chuẩn. Kỳ lui ra, cùng đồng liêu mừng, bèn nói với Tằng Công Lượng (曾公亮) và những người khác rằng: "Nếu Chiêu Lăng (Nhân Tông) sống lại, Kỳ phải xin lui; nhưng vì thánh thể Hoàng thượng chưa bình, nên chậm trễ đến nay. Nay Hoàng thượng nghe quyết không mệt, thật là niềm vui lớn của thiên hạ. Kỳ nên ở trước rèm tâu với Thái hậu, xin một chức ở quê, cần các ông giúp sức." Kỳ bèn đến Đông điện, tâu lại hơn 10 việc Hoàng đế đã quyết, Thái hậu mỗi việc đều khen hay. Đồng liêu lui ra, Kỳ ở lại một mình, bèn tâu với Thái hậu xin từ chức, Thái hậu nói: "Tể tướng sao có thể lui! Lão thân nên ở sâu trong cung, mà mỗi ngày còn ở đây, thật là bất đắc dĩ." Kỳ nói: "Đời trước như Mã, Đặng là bậc hiền, còn không khỏi tham luyến quyền thế; nay Thái hậu có thể phục bích, thật là điều Mã, Đặng không bằng." Bèn hai lần lạy chúc mừng, lại nói: "Đài gián cũng có chương sớ xin Thái hậu trả chính quyền, chưa rõ định ngày nào dỡ rèm?" Thái hậu vội đứng dậy, Kỳ liền lớn tiếng lệnh Nghi loan ty dỡ rèm; rèm vừa hạ, sau màn ngự vẫn còn thấp thoáng thấy áo Thái hậu.

Ngày Canh Tuất, Hoàng đế bắt đầu mỗi ngày ngự tiền, hậu điện.

Ngự sử Trung thừa Vương Trù dâng sớ rằng: "Nay Hoàng thượng quay mặt Nam, dựa rèm mà trị vì quần thần, xét từ đầu mối, là do Hoàng thái hậu che chở, phò tá, cứu vớt mà nên; lại có thể nhường quyền uy, ân phúc, đem quyền nước giao trọn cho Hoàng thượng, thì dù là bậc hiền hậu đời xưa cũng không hơn được. Xin ban chiếu cho hai phủ đại thần bàn xét lễ tôn sùng mẫu hậu. Như thể thức triều đình cung kính phụng thờ, cùng lễ tiết ngày sóc, ngày vọng, xe cộ, nghi vệ, phẩm phục, chế độ các ty cung cấp, sau này tôn xưng mỹ hiệu, ân điển ban cho ngoại thích, phàm điều gì có thể biểu đạt ý phụng thờ cha mẹ, đều nên ưu đãi, rực rỡ, để phát dương công nghiệp của mẫu hậu, thì đức hiếu sẽ sáng tỏ trong thiên hạ." Hoàng đế theo. Ngay hôm ấy, ban chiếu cho Trung thư, Khu mật viện bàn nghị lễ nghi tôn sùng Hoàng thái hậu tâu lên.

Ngày Tân Hợi, Hoàng đế hỏi Tể thần: "Tệ nạn tích tụ rất nhiều, làm sao sửa chữa?" Phú Bật (富弼) đáp: "Cần dần dần sửa đổi." Lại hỏi: "Lấy khoan dung mà trị thì thế nào?" Ngô Khuê (吳奎) đáp: "Thánh nhân trị người vốn lấy khoan dung, nhưng không thể không có mực thước. ‘Thư’ nói: ‘Khoan mà có phép, thong thả mà hòa.’ Lại hỏi về tông thất đời trước, Bật đáp: "Đời Đường, danh thần phần nhiều xuất thân từ tông thất." Khuê nói: "Thời Tổ tông, tông thất đều là thân thích gần, nhưng lúc đầu chỉ bổ nhiệm đến chức Điện trực, Thị cấm, Cung phụng quan, không như nay là quá; triều đình ắt phải tính kế lâu dài, nên có chỗ cắt giảm."

Ngày Nhâm Tý, ban chiếu: "Lệnh của Hoàng thái hậu gọi là Thánh chỉ, khi ra vào chỉ không đánh roi báo đường, còn nghi vệ khác như lệ Chương Hiến Minh Túc thái hậu; những gì lấy, xin, do bản các sứ thần ghi Thánh chỉ giao cho sở ty; những việc thuộc Trung thư, Khu mật viện, sứ thần dâng trạng, đều tâu lại rồi mới thi hành."

Ngày Bính Thìn, ban tên cung của Hoàng thái hậu là Từ Thọ, gia phong Tuyên Huy Bắc viện sứ, Bảo Bình Tiết độ sứ, Phán Vận châu Tào Dật (曹佾) làm Đồng Bình chương sự.

Lúc đầu bàn việc bổ nhiệm, Hoàng đế hỏi Tể tướng Hàn Kỳ, Kỳ nói: "Hoàng thượng ban ân cho nguyên cữu, không phải là tư riêng ngoại thích." Hỏi Khu mật sứ Phú Bật, Bật đáp như Kỳ. Bèn hạ chiếu, nhưng Thái hậu giữ chiếu không ban. Hoàng đế cố xin, mới cho.

Học sĩ viện tâu xét định sửa đổi trong luật lệnh, văn thư trong cung những chữ trùng với ngự danh, tổng cộng 20 chữ, còn lại theo đó mà đổi âm, nghĩa để tránh húy, được chuẩn.

Ngày Nhâm Tuất, vì Hoàng đế bình phục, lệnh Phụ thần tạ ơn Trời đất, Tông miếu, Xã tắc và các cung, quán.

Ngày Quý Hợi, Tể thần Hàn Kỳ cùng những người khác tâu xin tôn lễ Bộc An Ý vương và Khiếu Quốc Thái phu nhân Vương thị, Tương Quốc Thái phu nhân Hàn thị, Tiên Du huyện quân Nhậm thị, ban chiếu đợi sau đại tường sẽ bàn.

Tư Mã Quang dâng sớ lên Hoàng thái hậu rằng: "Thần lén nghe lời đồn ngoài đường, gần đây Hoàng đế và Hoàng hậu phụng sự điện hạ, lễ phép cung kính, siêng năng hầu hạ, còn hơn trước rất nhiều; nhưng điện hạ đối đãi thì quá nghiêm, tiếp xúc thì quá sơ lược. Hoặc khi cho vào chầu, lời qua tiếng lại không quá mấy câu, trong chốc lát đã lại sai lui ra. Như thế thì ân tình mẹ con làm sao thông đạt được? Lễ nghĩa dâu con làm sao thi thố được? Suy đến gốc rễ, ắt là khi Hoàng đế lâm bệnh, trong cung nội tất có kẻ gièm pha tà ác, bịa đặt lời lẽ, dò xét lẫn nhau, khiến cho hai cung ở giữa bỗng nhiên xa cách, lâu ngày không giải. Điện hạ đã khơi mở lòng nhân từ, trông xa thấy rộng, đem việc chính trong thiên hạ giao cả cho Hoàng đế, đó là phúc của tông miếu và sinh dân. Nhưng thần ngờ rằng bọn gièm pha tà ác kia, lòng như nước sôi, càng thêm bất an, hết sức mưu toan ly gián. Xin điện hạ xét kỹ tình trạng ấy, chớ lại nghe theo, đuổi bọn ấy đi xa, chớ để ở bên cạnh, khiến cho niềm vui giữa hai cung đều được như xưa. Như vậy, điện hạ ngồi hưởng sự phụng dưỡng hiếu thuận, tuổi thọ dài lâu vô cùng, quốc gia yên ổn, danh dự rạng rỡ tốt đẹp; so với việc tin dùng bọn gièm ác, trăm đường nghi kỵ đề phòng, suốt ngày sầu muộn, uất ức sinh bệnh, thì được mất cách nhau xa lắm vậy."

Nhuận tháng, ngày Quý Dậu, Bộ quân Đô ngu hầu, Đoan châu Phòng ngự sứ, Tri Hùng châu Triệu Tư (趙滋) mất, truy tặng làm Toại châu Quan sát sứ. Tư ở Hùng châu 6 năm, người nước Liêu đều kiêng sợ. Nước Liêu đói to, theo chế cũ, gạo đưa ra ngoài ải không được quá 3 đấu. Tư nói: "Bọn họ cũng là dân của ta vậy." Bèn ra lệnh cho xuất gạo không hạn chế, dân biên giới đều đội ơn. Ông cai quản quân đội rất nghiêm, quân chiến đấu vốn không chịu phục dịch, Tư sai khiến họ như quân Thường binh, không ai dám nói gì. Ông tu sửa thành quách, lầu gác, cho đến sổ sách, gạo muối, đều có phép tắc rõ ràng. Tính ông đặc biệt liêm khiết, cẩn thận, mỗi tháng được rượu công sai, không đem về nhà. Nhưng ông kiêu ngạo, bướng bỉnh, tự đề cao mình, đó là chỗ ngắn vậy.

Ngày Mậu Dần, Hoàng đế hỏi các quan chấp chính: "Đường Minh Hoàng trị nước mà đạt đến thái bình, cuối đời vì sao lại đến nông nỗi ấy?" Phú Bật đáp: "Minh Hoàng lúc đầu bình nội loạn, gắng sức cầu trị, dùng người được đúng, cho nên được trị an. Cuối đời dùng người không đúng, nên đến họa loạn. Người làm vua cốt ở chỗ chọn người, quyết không thể để kẻ gian nắm việc nước vậy." Ngô Khuê nói: "Minh Hoàng dùng Vương Trung Tự thống lĩnh muôn dặm, như thế là được; còn An Lộc Sơn gian xảo tàn bạo, cũng cho thống lĩnh muôn dặm, há lại không phát sinh loạn sao!" Hoàng đế đều cho là phải.

Ngày Kỷ Sửu, lấy Ngự sử Trung thừa Vương Trù (王疇) làm Hàn lâm học sĩ. Triệu gọi Trực học sĩ Khu mật viện, Sử bộ Lang trung, Tri Oanh châu Đường Giới (唐介) làm Hữu gián nghị đại phu, Quyền Ngự sử Trung thừa. Hoàng đế trực tiếp bảo Giới rằng: "Khanh ở tiên triều có tiếng là ngay thẳng, nay do chính trẫm chọn dùng, không phải do lời nói của bọn tả hữu vậy."

Trước đó, Hàn lâm học sĩ Phùng Kinh (馮京) nhiều lần xin thôi việc ở Khai Phong phủ để ra ngoài nhậm chức, Hoàng đế hỏi các phụ thần: "Kinh vì sao cầu đi?" Hàn Kì nói: "Kinh đảm nhiệm việc phủ đã khá lâu, ắt vì công việc phiền phức nên cầu đi đó thôi." Lại hỏi: "Kinh là người thế nào?" Kì nói: "Kinh ở Khai Phong hơn 1 năm, xử việc không có sai sót, xét trong hàng đỗ cao khoa cử, cũng là người đáng khen." Lại hỏi: "Giả Ảm (賈黯) là người thế nào?" Âu Dương Tu nói: "Ảm là người cương trực, chỉ là suy nghĩ đôi khi chưa chu đáo mà thôi." Kì nhân đó nói: "Quần thần tà hay chính, đều là điều bệ hạ đã biết; nhưng việc tiến hay lui, thực hệ trọng đến lợi hại của thiên hạ, không thể không xét."

Tháng 6, ngày Kỷ Hợi, tiến phong Hoàng tử Hoài Dương quận vương Húc (頊) làm Dĩnh vương, lại lệnh cho các ty hữu quan chọn ngày, chuẩn bị lễ sách mệnh.

Tăng đặt học quan cho tông thất. Chiếu cho Đại tông chính: "Nếu giáo thụ không làm tròn chức trách, lập tức tâu lên."

Ngày Quý Mão, Cống viện tâu: "Chiếu theo chiếu năm Hoàng Hựu thứ 4, những người lấy con gái tông thất mà được bổ quan thì không được dự thi. Xét theo điều lệ cống cử, những người thuộc hạng tiến nạp và thợ thuyền, buôn bán tạp loại mà có tài năng, hạnh kiểm đặc biệt, cũng được phép lấy quyển. Nay các phò mã tông thất đều là 3 đời ăn lộc, có người bảo đảm trách nhiệm, rồi mới được chọn dùng, há có thể vì thông gia với hoàng tộc mà lại coi như hạng người phạm tội tham ô tư lợi sao? Xin cho phép họ được dự thi, để mở rộng đường cầu hiền." Chiếu theo lời ấy.

Ngày Bính Ngọ, Tể thần Hàn Kì cùng các quan dâng biểu xin xếp thứ vị ở dưới Dĩnh vương, chiếu trả lời không cho.

Hoàng đế đã lệnh tăng đặt học quan cho tông thất, cho rằng số tông thất gấp bội trước, mà việc ở Tông chính ty cũng thêm nhiều; ngày Đinh Mùi, lại tăng đặt 1 viên Đồng tri Đại tông chính sự, lấy Tả Long Vũ vệ Đại tướng quân, Ninh châu Phòng ngự sứ Tông Huệ (宗惠) làm Hoài châu Đoàn luyện sứ, kiêm lãnh chức ấy, và xuống chiếu răn nhắc. Tông Huệ là con của Duẫn Thăng (允升), Hoàng đế khi còn ở phiên phủ đã biết ông hiền, nên cất nhắc dùng. Ngày tạ ơn, Hoàng đế bảo rõ ý chọn dùng. Tông Huệ bèn ngay tại chỗ ở dựng một tòa đường gọi là Văn Nghĩa, hằng ngày cùng các học sĩ, đại phu giảng tập trong đó, lấy thân mình làm gương cho tông thuộc. Hai lần được triệu vào chầu ở điện Diên Hòa, được cho phép dâng tấu về triều chính, do Ngự dược viện dâng lên.

Ngày Mậu Thân, chiếu: "Trong Đại sắc hệ vị, Hoàng tử Húc ở trên Phú Bật, Hạo (顥) ở dưới Tống Tường."

Ngày Tân Hợi, chiếu tăng bổng lộc hàng năm cho thủ lĩnh Mạc Xuyên Gia Lặc Tư Lại (嘉勒斯賚), lại tăng phong cho vợ con cháu và quan viên Khung lư thân tín của y.

Xây Bắc trạch Mục thân, Quảng thân ở Phương Lâm viên, dời Mật châu Quan sát sứ Tông Đán (宗旦) cùng 7 người đến ở. Về sau có người xin dời đến nữa, lại mở rộng trạch mà dời họ đến.

Tri Thái Nguyên phủ Trần Húc (陳旭) nói mẹ già, xin đổi sang 1 trong 3 châu Dương, Hồ, Việt, để tiện phụng dưỡng; vì cho rằng biên thần nên ở lâu, khó lòng thay đổi luôn, nên không cho.

Ngày Ất Mão, Hoàng đế bảo các tể thần rằng: "Trình Kham (程戡) là người thế nào?" Đáp rằng: "Kham ở Phu Diên đã 3 năm, quen việc biên thùy." Hoàng đế nói: "Đô giám Diên châu Cao Tuân Giáo (高遵教) chết, Kham nhiều lần nói về công lao của y, xin gia tặng và cấp tuất. Đây là tộc tử của Cao Quỳnh (高瓊), trẫm biết y là hạng tầm thường, Kham ắt vì việc sau này mà nói vậy. Đại thần mà như thế, trẫm còn trông cậy vào đâu!"

Ngày Mậu Ngọ, lấy Dực thiện phủ Hoài Dương quận vương Vương Đào (王陶) làm Dực thiện phủ Dĩnh vương, ban Kim tử, Tử y; Ký thất tham quân Hàn Duy (韓維) làm Trực Tập hiền viện, Chư vương phủ Ký thất tham quân; Thị giảng Tôn Tư Cung (孫思恭) làm Trực Tập hiền viện, Chư vương phủ Thị giảng. Lúc ấy Hoài Dương quận vương được tiến phong làm Dĩnh vương, mà Đông Dương quận vương Hạo lại sắp xuất các, nên dời Đào, lệnh kiêm chức Dực thiện Đông Dương, còn Duy và Tư Cung làm Ký thất, Thị giảng cho hai vương.

Dĩnh vương tính khiêm tốn, kính trọng đãi ngộ quan lại trong cung; đối với Duy lại càng hậu, việc gì cũng hỏi, Duy hết lòng đáp, cho đến việc quỳ lạy, đi đứng, tiến lui, lúc gấp lúc hoãn, đều trình bày phép tắc. Một hôm, hầu vương ngồi, bọn thân cận dâng đôi giày kiểu cung (giày múa), Duy nói: "Vương dùng giày múa làm gì?" Vương lập tức lệnh hủy đi. Lúc đầu Hoàng đế bệnh nặng, đôi khi nói ra lời làm tổn thương Thái hậu, Thái hậu khóc mà nói với các phụ thần, lại trách hai vương, Duy cùng những người khác hết sức can rằng: "Thượng đã làm mất lòng Thái hậu, vương phải hết lòng hiếu kính để nối tiếp, còn e chưa đủ; nếu không, cha con đều chịu họa vậy!" Vương cảm ngộ. Hôm khác, Thái hậu bảo các phụ thần rằng: "Hoàng tử gần đây rất có lễ, đều là do các khanh chọn được quan trong cung mà nên, nên triệu họ đến Trung thư để khen ngợi." Khi Tào Dật (曹佾) được bổ làm Sứ tướng, vương muốn sai Duy cùng những người khác truyền ý Thái hậu cho các phụ thần, Duy và Tư Cung không chịu, vương rốt cuộc sai Đào nói. Duy và Tư Cung răn vương rằng: "Bệ hạ thân nắm vạn cơ, trong ngoài trên dưới, thể thống đã chính, vương nên chuyên tâm vào đạo hiếu, đồng đều phụng dưỡng ba cung là đủ, ngoài ra chớ nên dự vào việc gì nữa."

Ngày Tân Dậu, sao Thái Bạch hiện ban ngày.

Thái thường tự tâu: "Nhân Tông phối hưởng Minh đường, khi đặt tơ lụa dùng khúc ‘Thành An’, khi rót rượu hiến dùng khúc ‘Đức An’."

Lộ Luân (路綸), Lang trung Bộ Giá, dâng bộ Cửu quốc chí 50 quyển do cha là Chấn (振) soạn, chiếu giao cho Sử quán. Chấn thời Chân Tông từng làm Tri chế cáo; Cửu quốc là chỉ Ngô, Nam Đường, Mân Hán, Nam Hán, Sở, Tây Sở, Ngô Việt, Thục, Hậu Thục.

Ngày Nhâm Tuất, sao Tuế tinh hiện ban ngày.

Ngày Quý Hợi, Công bộ Thượng thư, Tập hiền viện học sĩ Dư Tĩnh (余靖) mất, truy tặng Hình bộ Thượng thư, thụy là Tương.

Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Ngọ, chiếu: "Từ nay không lấy con cháu họ Khổng làm Tri Tiên Nguyên huyện." Theo lời của Vương Cương (王綱), Ti đề điểm hình ngục Kinh Đông, để làm trọng chức quan cai trị dân.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu xử quyết tù nhân các đạo.

Ngày Bính Tý, lấy con của thủ lĩnh Mạc Xuyên Gia Lặc Tư Lại là Đống Tiển (棟戩), Thành châu Đoàn luyện sứ, làm Thuận châu Phòng ngự sứ.

Ngày Tân Tị, nước Liêu cấm tăng ni riêng đến hành tại, bịa đặt họa phúc, dụ dỗ lấy tài vật.

Tháng 8, ngày Nhâm Dần, Liêu chúa đến Hoài châu, yết miếu Thái Tông, Mục Tông.

Ngày Bính Thìn, lấy Tuyên chính sứ, Nhập nội Đô tri, An Tĩnh quân Lưu hậu Nhậm Thủ Trung (任守忠) làm Bảo Tín tiết độ phó sứ, an trí ở Khí châu.

Trước đây, khi Hoàng đế còn là Hoàng tử, từng lệnh Thủ Trung tuyên triệu, Thủ Trung tránh không chịu đi; đến khi Hoàng đế lên ngôi, thân thể không khỏe, y bèn gièm pha, gây hiềm khích giữa hai cung. Lúc ấy y lại tự tiện lấy mấy vạn lạng vàng châu báu ở Phụng Thần khố dâng Hoàng hậu, nhờ đó nhận thưởng, Tư Mã Quang, Lữ Hối (呂誨) liên tiếp dâng sớ hặc tội. Quang nói: "Thủ Trung có 10 tội lớn, đều là những việc bệ hạ tận mắt thấy, mọi người cùng biết; còn những việc lừa dối làm gian, ngang ngược trái phép thì không kể xiết. Cúi xin bệ hạ phát lộ hết tội của y, công bố cho bốn phương, chém ở chợ để răn bọn gian ác." Hoàng đế nghe theo, hôm sau bèn giáng chức Thủ Trung.

Ngày Đinh Tị, lấy 3 vạn thạch gạo thượng cung cứu tế dân đói vì lụt ở Túc, Bạc châu.

Tháng 9, ngày Đinh Mão, chiếu phục đặt Võ cử.

Trước đó, có chiếu mở Nhĩ Anh các từ ngày này, đến tiết Trùng Dương thì bãi. Thị giảng Lữ Công Trứ (呂公著), Tư Mã Quang tâu: "Thời tiên đế, khi vô sự thì thường mở giảng đường. Gần đây vì thánh thể không an, nên từ sau Đoan Ngọ và Đông chí, vào lúc nóng bức, giá rét, tạm bãi mấy tháng. Nay bệ hạ mới chấp chính, thanh minh, nên thân cận nho nhã, giảng cầu thuật trị nước, xin bệ hạ chớ tiếc chút thời gian rảnh, mỗi ngày ngự giảng đường." Chiếu theo.

Ngày Đinh Sửu, Lễ viện tâu: "Chiếu theo ngày đã định, tháng Mạnh đông dâng lễ ở Thái miếu, đổi làm Giáp tế. Xét ‘Xuân Thu’, Mẫn Công lên ngôi 22 tháng, tang chưa bỏ mà làm lễ Cát đế, cả 3 truyện đều chê. Chân Tông năm Hàm Bình thứ 2, tháng 6 bỏ tang, đến tháng 10 mới làm lễ Đế. Nhân Tông năm Thiên Thánh nguyên niên, tháng 4 còn trong thời gian chịu tang, hữu ty nhầm thông số lễ Đế cũ thời Thiên Hi, trong vòng 2 năm lại cử hành lễ Đế, nên trong 42 năm có 9 lần Đế, 8 lần Giáp, đều là quá gấp, việc đã đi trước từ đầu, nên năm tháng chồng chất, không thể sửa lại được. Năm nay chưa Đại tường, chưa thể Giáp; năm sau chưa Đảm, cũng chưa thể Đế. Tháng 10 năm nay, xin theo như lễ hưởng cũ." Chiếu theo.

Ngày Tân Tị, truy tặng An Viễn quân Tiết độ sứ Mã Hoài Đức (馬懷德), gia đình xin thụy; Lễ viện tâu Hoài Đức đã táng, khó định thụy, chiếu theo.

Hàn lâm Thị độc học sĩ Lưu Sảng (劉敞) vì bệnh xin nghỉ đủ 100 ngày, cầu được nhậm chức ở châu quận nhàn. Hoàng đế bảo các quan chấp chính: "Như Lưu Sảng há dễ có sao!" Lại ban cho nghỉ; mỗi lần yến kiến các học sĩ, tất hỏi bệnh tình Sảng có khá hơn không. Ngày Quý Mùi, lệnh Sảng làm Tri Vệ châu; chưa đi, lại đổi làm Tri Nhữ châu. Tam ty tâu rằng Sảng đã hai lần được nghỉ, theo lệ không nên cấp bổng, chiếu đặc biệt cho cấp.

Ngày Mậu Tý, chiếu miễn cho Long Đồ các Trực học sĩ kiêm Thị độc Lý Kiển Chi (李柬之) việc tiến đọc, vì ông tự tâu có bệnh, xin về hưu. Hoàng đế bảo Kiển Chi rằng: "Khanh là bậc lão nho, thông đạt, trẫm kỳ vọng hỏi han để bổ chỗ chưa tới, há chỉ vì kinh thuật mà thôi!"

Trước đó, Hoàng đế rất muốn chỉnh đốn nghiêm túc trong cung nội, Kiển Chi can rằng: "Bệ hạ là bậc trưởng quân, lập từ Tề phủ, người ta đang trông ngóng, xin bệ hạ tạm dung thứ, che chở." Từng lệnh ông áp giải lễ vật mừng sinh nhật Dĩnh vương, theo lệ, vương lạy nhận xong thì lui ngay, Hoàng đế bảo vương lưu Kiển Chi lại ăn, mong được trò chuyện thong thả. Hôm sau vào chầu, Kiển Chi trình bày rằng vương anh tuấn, nhân hậu, là phúc của xã tắc, Hoàng đế rất vui.

Trước đó, nước Hạ sai bọn Ngô Tông (吳宗) đến cửa Thuận Thiên môn để dâng lễ mừng đăng cực, muốn đeo ngư phù và tự mang nghi vật theo, quan Dẫn bạn là Cao Nghi (高宜) cấm, họ không nghe; giữ họ lại ở chuồng ngựa một đêm, cắt đứt việc cung cấp ăn uống. Tông nói lời bất kính, Nghi lấy lệ cũ mà quở trách, khá lâu sau mới cho vào. Đến khi ban ăn ở cửa điện, Tông tố cáo với quan Áp bạn là Trương Cận (張覲), chiếu lệnh cho quay về Diên châu cùng Nghi biện bạch. Nghi là người Diên châu sai đi. Trình Kham nhận chiếu, cùng Thông phán tra hỏi, Tông nói: "Dẫn bạn bảo rằng ‘phải dùng 1 triệu quân, thẳng vào hang Hà Lan’, đó là lời gì vậy!" Thông phán nói: "Nghe nói sứ thần gọi quốc chủ là Thiếu đế, nên Dẫn bạn mới có lời đáp như thế, ấy là lỗi ở sứ thần, không phải ở Dẫn bạn." Tông chùn bước, chịu phục. Ngày Canh Dần, ban chiếu cho Lượng Tộ, răn rằng từ nay phải chọn kỹ sứ thần, chớ để sinh chuyện. Tư Mã Quang, Lữ Hối xin gia tội cho Cao Nghi, không được trả lời.

Mùa thu năm ấy, nước Hạ nhiều lần đem quân cướp phá Tần Phượng, Kinh Nguyên, cướp bóc dân thuộc hộ, quấy nhiễu biên trại cung tiễn thủ, giết cướp người súc vật đến hàng vạn, chiếu sai Văn tư phó sứ Vương Vô Kỵ (王無忌) mang chiếu đi hỏi tội. Tư Mã Quang tâu: "‘Chu thư’ khen đức Văn Vương rằng: ‘Nước lớn sợ uy lực, nước nhỏ nhớ đức.’ Ý nói chư hầu kiêu ngạo, không chịu thần phục thì đánh phạt; thuận theo, mềm mỏng thì bảo toàn. Không tránh kẻ mạnh, không hiếp kẻ yếu, đó là cách vương giả thi hành chính sự trong thiên hạ. Thần thấy năm ngoái tiên đế băng, Lượng Tộ sai sứ đến tế, Diên châu sai Chỉ sử Cao Nghi áp bạn vào kinh, Nghi lời lẽ khinh suất, kiêu ngạo với sứ thần, khinh nhờn quốc chủ của họ, sứ thần lúc từ biệt đã tự tố cáo ở triều. Thần khi ấy cùng Lữ Hối dâng sớ, xin gia tội Nghi, triều đình xem nhẹ việc ấy, không để ý, khiến oán hận mang về nước. Nay Lượng Tộ chiêu dụ bọn trốn tránh, tập hợp binh mã, rình rập biên giới, tấn công, vây hãm đồn ải, cưỡng bức hơn 80 tộc thuộc hộ, giết cướp cung tiễn thủ khoảng mấy nghìn người, phản nghịch như thế, mà triều đình lại sai sứ mang chiếu phủ dụ. Họ thuận theo thì khinh nhờn, kiêu ngạo thì sợ hãi, há chẳng phải trái với cách Văn Vương khiến chư hầu sao! Nếu sứ thần đến đó, Lượng Tộ cúi đầu nhận tội, cấm chỉ cướp phá, còn có thể tha thứ; nếu lại trái lệnh vua, lời lẽ kiêu mạn, cướp phá không dứt, chưa biết triều đình sẽ đối đãi thế nào? Cúi xin bệ hạ rộng mời quần thần, hỏi kế giữ biên, chọn điều hay mà gắng sức thi hành. Hiện nay cứu nguy biên thùy, nên như múc nước từ vò rò mà tưới vào nồi đang cháy, còn e không kịp, há có thể bề ngoài tỏ ra nhàn nhã mà nuôi thành đại họa vậy!"

Ngày Nhâm Thìn, Liêu chúa đến Trung kinh, Hoàng tử Lương vương Tuấn (浚) theo Liêu chúa đi săn, bắn liền mấy phát trúng cả 3. Liêu chúa ngoảnh bảo tả hữu rằng: "Tổ tông trẫm từ xưa, cưỡi ngựa bắn cung hơn người, uy chấn thiên hạ. Đứa trẻ này tuy nhỏ, mà không làm mất phong độ ấy." Sau gặp 10 con hươu, bắn được 9, Liêu chúa vui, bày yến tiệc.

Mùa đông, tháng 10, ngày Canh Tý, Hoàng đế duyệt võ nghệ các tướng hiệu Ban trực chư quân, thăng bổ có phân biệt.

Ngày Tân Sửu, Trực Bí các, Đồng tri Lễ viện Chu Mạnh Dương (周孟陽) vào tạ ơn, chiếu lệnh cho Cáp môn dẫn vào yết kiến ở điện Diên Hòa khá lâu. Từ đó nhiều lần được triệu kiến, hỏi han việc thời sự, lần cuối đến điện Long Nho, ở sau vườn Nhĩ Anh các, nơi quần thần chưa từng đến.

Ngày Quý Mão, Lễ viện tâu: "Ngụy quốc công Tông Ý (宗懿) không có con nối, Bộc vương không có cháu đích. Theo lệ cũ, tông thất chọn người ở bản vị lớn tuổi nhất để thừa tập, Oanh châu Phòng ngự sứ Tông Phác (宗朴) là con thứ hai của Bộc vương, nay ở bản vị là lớn tuổi nhất." Chiếu phong Tông Phác kế tập làm Kì quốc công.

Ngày Mậu Ngọ, nước Liêu cấm dân gian riêng khắc in sách vở. Trước đó, luật sách vở của nước Liêu rất nghiêm, ai đem sách truyền vào đất Tống, tội đến chết. Đến nay lại thi hành lệnh cấm ấy.

Ngày Canh Thân, Hàn lâm học sĩ Giả Ảm tâu: "Gần đây có chiếu lệnh trong ngoài tiến cử văn võ quan có thể đảm nhiệm thăng bổ và tướng lĩnh có thể dùng. Thần thấy trước đây hạ chiếu tiến cử sĩ, hoặc người ấy đã có người tiến cử, mà lại có người khác tiến cử nữa, thì theo lệ đều trách phải tiến cử người khác. Thần ngu cho rằng nên không hạn chế việc trùng tiến cử, có thể chọn người được nhiều người tiến cử mà đặc biệt thăng dùng, thì may ra được người." Chiếu theo.

Tháng 11, ngày Giáp Tý, chiếu trong ngoài khi viết văn thư không được dùng liền hai chữ thụ ích, vì Hàn lâm học sĩ Giả Ảm tâu rằng đó là tên cũ của Nhân Tông, phải kiêng.

Nước Liêu định chế độ y phục cho quan lại, dân chúng.

Ngày Ất Hợi, lệnh cho Điền điền Lang trung Từ Ức (徐億), Chức phương Viên ngoại lang Lý Sư Tích (李師錫), Điền điền Viên ngoại lang Tiền Công Kỉ (錢公紀) đi các châu quân Thiểm Tây, chiêu mộ dân làm Nghĩa dũng.

Trước đó, Tể tướng Hàn Kì tâu: "Xưa ghi dân làm binh, số tuy nhiều mà cấp dưỡng rất mỏng. Đời Đường đặt Phủ binh, là gần với phép ấy nhất; sau Thiên Bảo thì bỏ, không thể phục. Nay Nghĩa dũng ở Hà Bắc gần 15 vạn, Hà Đông gần 8 vạn, dũng mãnh, chất phác, vốn do thiên tính, lại có tài sản, ruộng vườn, cha mẹ, vợ con ràng buộc, nếu hơi gia công tuyển luyện, thì khác gì Phủ binh đời Đường! Thiểm Tây khi mới có việc phía tây, cũng từng 3 đinh chọn 1 đinh làm Cung thủ, sau khắc vào tay làm Bảo tiệp chính quân. Đến khi nước Hạ nạp khoản, triều đình tuyển cho về, đến nay còn lại chẳng được bao nhiêu. Ba lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây đều là nơi khống chế phía tây bắc, việc nên nhất thể. Xin ở các châu Thiểm Tây cũng điểm Nghĩa dũng, chỉ khắc vào tay, lúc đầu không tránh khỏi chút quấy nhiễu, nhưng rốt cuộc là lợi lớn lâu dài." Chiếu theo. Bèn sai ghi tên Nghĩa dũng Thiểm Tây, được 156.873 người.

Bấy giờ Tri Gián viện Tư Mã Quang nhiều lần dâng sớ, cho rằng: "Nay người bàn luận chỉ trách Thiểm Tây riêng không có Nghĩa dũng, mà không biết dân Thiểm Tây, 3 đinh đã có 1 đinh làm Bảo tiệp rồi. Từ khi có việc phía tây đến nay, Thiểm Tây khốn khổ vì sưu thuế, so với trước Cảnh Hựu, sức dân hao tổn 2 phần 3, thêm mấy năm gần đây liên tiếp mất mùa, năm nay thu hoạch hơi khá, dân chỉ mong được nghỉ ngơi sinh sôi; lại gặp biên thùy có báo động, lòng người đã dao động, nếu lại nghe chiếu này, tất kinh hoảng, rối loạn lớn. Huống chi hiện nay chính quân Thiểm Tây rất nhiều, không đến nỗi thiếu, sao lại vội làm việc có hại không lợi này! Theo ngu kiến của thần, dân đã bị khắc ở Hà Bắc, Hà Đông còn nên cho về, huống chi dân Thiểm Tây chưa bị khắc sao!" Hoàng đế không nghe. Quang lại 6 lần dâng sớ, và tâu lên Trung thư tự trách, xin từ chức. Cũng rốt cuộc không cho.

Từng đến Trung thư tranh luận với Hàn Kì, Kì bảo Quang rằng: "Binh quý ở thanh thế đi trước, Lượng Tộ đang kiêu ngạo, nếu nghe Thiểm Tây bỗng tăng 20 vạn binh, há chẳng kinh sợ!" Quang nói: "Binh quý ở thanh thế đi trước, là vì không có thực, chỉ có thể lừa được trong một ngày; chậm một chút thì địch biết rõ tình hình, không thể dùng nữa. Nay ta tuy tăng 20 vạn binh, nhưng thực không thể dùng; chẳng qua 10 ngày, người phía tây biết rõ, còn sợ gì nữa!" Kì không đáp được, lại nói: "Ông chỉ thấy thời Khánh Lịch, dân binh Thiểm Tây lúc đầu khắc vào tay, sau đều khắc vào mặt làm chính quân, lo nay lại như thế. Nay đã hạ sắc bảng cùng dân ước, vĩnh viễn không sung quân, đi thú biên." Quang nói: "Triều đình từng thất tín với dân, không dám tin là như vậy, ngay Quang cũng không khỏi nghi." Kì nói: "Ta ở đây, ông chớ lo." Quang nói: "Tướng công ở đây lâu dài thì được; vạn nhất tạm nghỉ, về phiên, người khác ở đây, nhân số binh đã thành do tướng công để lại, sai sứ vận lương, đi thú biên, chỉ trong chớp mắt mà thôi." Kì im lặng, rốt cuộc không dừng. Về sau 10 năm, Nghĩa dũng vận lương, đi thú biên, trở thành việc thường.

Ngày Đinh Sửu, nước Liêu vì sách vở ở Càn Văn các thiếu nhiều, hạ chiếu cầu sách, lệnh nho thần hiệu đính.

Ngày Kỷ Mão, Tri Quế châu Lục Thân (陸詵) tâu việc sứ Giao Chỉ bàn bạc, Hoàng đế nhân đó hỏi: "Giao Chỉ từ năm nào cắt cứ?" Các phụ thần đáp: "Từ đời Đường, niên hiệu Trí Đức, đổi làm An Nam Đô hộ phủ, đến đời Lương, niên hiệu Chính Minh, thổ hào Khúc Thành Mĩ (曲成美) chuyên chiếm đất ấy." Hàn Kì nói: "Trước đây vì Lê Hoàn phản mệnh, Thái Tông sai tướng đánh, không phục; sau sai sứ chiêu dụ, mới chịu thần phục. Đường núi hiểm trở, nhiều mưa lũ, sương độc, khí độc, tuy được đất ấy, e không giữ được, chỉ nên dùng lễ hòa hiếu mà thôi." Mùa đông năm ấy, Thân bắt đầu tuần biên đến Ung châu, triệu 45 thủ lĩnh động ở hai sông Tả, Hữu Giang đến dưới cờ, duyệt chọn thổ đinh, được 5 vạn tinh binh, bổ nhiệm tướng hiệu, đúc ấn cấp cho, tâu xin miễn mấy vạn số thuế tích nhĩ của Lưỡng Giang. Giao Chỉ rất sợ, bèn sai sứ vào triều cống, lời lẽ càng thêm cung kính. Về sau Thân lại tâu xin mỗi năm một lần luyện tập thổ đinh, và từ nay 3 năm một lần làm sổ sách tâu lên.

Lấy Điền điền Viên ngoại lang, Tri Tương Ấp huyện Phạm Thuần Nhân (范純仁) làm Giang Đông Chuyển vận phán quan. Trước đó, Thuần Nhân làm Trước tác tá lang, Tri Tương Thành huyện, tục ở đó không trồng dâu, dệt lụa, bèn hạ lệnh khuyến khích trồng dâu, ai phạm tội nhẹ, tùy theo số dâu trồng nhiều ít mà miễn tội, dân càng noi theo, sau gọi là Trước tác lâm. Đến khi dời sang Tương Ấp, huyện có đất chăn ngựa, lúc đầu không thuộc huyện, vệ sĩ thả ngựa phá hoại ruộng dân, Thuần Nhân bắt một người đánh trượng. Chủ ngựa giận, tâu việc ấy lên triều, có chiếu hặc tội Thuần Nhân. Thuần Nhân tâu rằng binh phải nhờ nông để nuôi, thương binh phải thương nông trước, triều đình cho là phải, tha không hỏi, lại cho đất chăn ngựa thuộc huyện. Đất chăn ngựa thuộc huyện bắt đầu từ Thuần Nhân. Thuần Nhân là con của Trọng Yêm (仲淹).

Ngày Canh Thìn, nước Liêu cấm ở Nam kinh chế lụa riêng gấm dùng cho ngự dụng, riêng buôn bán sắt, và uống rượu trái thời. Lệnh cho Tam ty Nam kinh mỗi năm xuân thu dùng tiền công đãi yến tướng sĩ.

Tháng 12, ngày Canh Tý, Tri chế cáo Tổ Vô Trạch (祖無擇) dâng Hoàng cực châm, ban chiếu khen thưởng.

Ngày Bính Ngọ, lấy Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ Thị lang Vương Trù làm Khu mật phó sứ. Hoàng đế từng bảo các phụ thần: "Trù giỏi văn chương." Âu Dương Tu nói: "Người này cũng cương trực, chỉ là không cầu tiếng tăm lẫy lừng mà thôi." Một chiều, Hoàng đế ngự tiểu điện, triệu Trù thảo chiếu, nhân đó thong thả bàn việc trong ngoài, nói chuyện khá lâu. Hoàng đế vui nói: "Khanh thanh liêm, ngay thẳng, hiếu học, trẫm biết đã lâu, không phải hôm nay." Không mấy ngày, bèn có lệnh này. Trù từ chối không nhận, Hoàng đế sai nội thị giục Trù vào, ngự ở điện Diên Hòa chờ, mặt trời đã xế, đợi Trù vào rồi mới vào nội.

Tri chế cáo Tiền Công Phụ (錢公輔) trả lại bản thảo chiếu, nói rằng Trù đức vọng nhẹ, tư chất nông, ở Đài chỉ ăn lộc suông, không thể trọng dụng; lại còn tiến cử một số cận thần có thể làm phụ bậc. Hoàng đế vì mới chấp chính đã bổ nhiệm hai phủ, mà Công Phụ ngăn trở khiến chiếu mệnh không thi hành, ngày Đinh Mùi, giáng làm Đoàn luyện phó sứ Từ châu, không cho ký thư bản châu sự. Tri chế cáo Tổ Vô Trạch xin giảm tội Công Phụ, lại không chịu thảo chiếu. Hoàng đế muốn cùng lúc giáng tội Vô Trạch, Trung thư cứu, ngày Mậu Thân, phạt 30 cân đồng.

Tri Gián viện sự Lữ Hối tâu: "Trù từ khi đỗ khoa đến nay 35 năm, làm quan không ra khỏi kinh thành, tiến thân theo đường tắt, từ đó có thể biết. Công Phụ nói y tư chất nông, đức vọng nhẹ, là muốn triều đình chọn dùng hiền tài, chưa phải là quá. Tội giáng quá nặng, sĩ luận xôn xao, thần lấy làm tiếc cho bệ hạ. Cúi xin phục chức cũ cho Công Phụ, chỉ bãi chức, dời làm Tri một châu quân nhỏ, xa xôi, để y suy nghĩ lỗi mình, bớt lời bàn tán." Thiên Chương các Đãi chế kiêm Thị giảng Lữ Công Trứ cũng dâng sớ xin bãi bỏ lệnh giáng tội Công Phụ, không được trả lời. Vài ngày sau, Long Đồ các Trực học sĩ Lư Sĩ Tông (盧士宗) nhân tâu việc Thẩm hình viện, đối ở tiện điện, thong thả lại vì Công Phụ mà nói, ngoài đều cho rằng giáng tội Công Phụ quá nặng, rốt cuộc không theo.

Lấy Nội thị tỉnh Áp ban, Văn tư phó sứ Vương Chiếu Minh (王昭明) làm Hoàn Khánh lộ Trú bạc binh mã Tiền hạt, chuyên quản câu bản lộ, kiêm quản câu Phu Diên lộ Phiên bộ công sự, đóng quân ở Khánh châu; Cung bị khố phó sứ Lý Nhược Ngu (李若愚) làm Kinh Nguyên lộ Quyền trú bạc binh mã Tiền hạt, chuyên quản câu bản lộ, kiêm Quyền quản câu Tần Phượng lộ Phiên bộ công sự, đóng quân ở Vị châu. Lệnh họ dò xét tình hình phiên, xử lý kiện tụng của họ, nếu có thưởng phạt thì cùng bàn với soái, việc lớn thì tâu lên, mỗi người được phép mỗi năm cưỡi trạm ngựa vào triều tâu việc; kết tập trai tráng, sắp đặt trước, khi giặc đến, khiến người già yếu đều có nơi nương náu. Vài ngày sau, lại lấy Tây kinh Tả tàng khố phó sứ Lương Thực (梁實) lãnh Tần Phượng, Nội điện Thừa chế Hàn Tắc Thuận (韓則順) lãnh Phu Diên, mà lệnh Chiếu Minh, Nhược Ngu chuyên lãnh bản lộ.

Gián quan Lữ Hối tâu: "Từ đời Đường trở đi, mỗi khi cất quân không lợi, chưa từng không do giám quân mà ra. Nay Chạy mã Thừa thụ quan phẩm rất thấp, một lộ đã không chịu nổi tai hại của họ, huống chi Tiền hạt mang trọng trách, thực bằng với quyền An phủ sứ sao! Xin triều đình bãi bỏ, chọn kỹ soái thần, mọi việc đều giao phó, thì quyền ngoài ải mới có thể phát huy hết." Ngự sử Phó Nghiêu Du (傅堯俞), Triệu Chiêm (趙瞻) đều có tâu bàn, rốt cuộc không theo. Chiêm là người Trù Trật.

Vương Chiêu Minh (王昭明) và những người khác đến nơi, bèn triệu tập các tù trưởng các bộ lạc phiên, nhân danh chiếu thư để an ủi, ban thưởng, ban cho bạc lụa; lập sổ sách quân mã trong thành trại, tính theo thế tộc lớn nhỏ, chia thành đội ngũ, cấp cho cờ xí, sai mỗi người tu sửa bảo lũy, mỗi người đều cấp khí giới giáp trụ để phòng khi điều động phát遣, lại ước định rằng nếu khi có lệnh mà không tập hợp, thì bắt các thủ lĩnh đội ngũ ấy trị tội theo quân pháp.

Tri Diên châu là Trình Kham (程戡) tâu rằng: "Sở dĩ các bộ lạc phiên bỏ trốn đi, là vì nha lại biên thùy hà khắc tàn bạo, để cho người phương Tây dụ dỗ bắt đi đó thôi. Nay Vương Chiêu Minh và những người khác chỉ có thể gọi các thủ lĩnh đến, dùng lời lẽ an ủi vỗ về, lấy dê rượu mà ban thưởng, e rằng vẫn chưa đủ để kết được lòng họ, mà lại làm cho biên thùy thêm xao động. Nên đặt thêm các chức Lộ phân kiềm hạt, Đô giám các bộ, mỗi nơi một viên tướng coi quân mã kiêm chức Duyên biên tuần kiểm sứ, chớ lại để họ chuyên nắm việc các bộ lạc phiên nữa." Nhưng cũng không được chấp thuận.

Ngày Quý Sửu, lấy Triển vận sứ đô Hợp Bắc là Triệu Biện (趙抃) làm Long đồ các Trực học sĩ, Tri Thành Đô phủ. Trước đây khi Biện đi sứ đất Thục, từng tâu rằng người Thục ưa việc cúng tế yêu quái, tụ tập đông người làm điều phi pháp. Xin xử chém kẻ cầm đầu, những kẻ còn lại đều xăm mặt đày đi. Đến lúc này lại có vụ án như thế, mọi người đều cho là không tránh khỏi tội chết; nhưng Biện xét thấy họ không có ý gì khác, bèn bảo tù nhân rằng: "Bọn các ngươi nếu có thể trở về làm ăn sinh sống như cũ, thì ta tha tội cho các ngươi." Họ đều dập đầu xin tự kiểm điểm. Bèn chỉ kết tội kẻ cầm đầu, những người còn lại đều tha, không truy cứu nữa, người Thục rất vui mừng.

Hôm khác, Hoàng đế bảo Triển vận sứ Vinh Dần (榮諲) rằng: "Triệu Biện làm Thành Đô, là chính sự trung hòa vậy."

Năm ấy, trong Kinh nội, Tống châu, Bạc châu, Trần châu, Hứa châu, Nhữ châu, Thái châu, Đường châu, Nhuệ châu, Tào châu, Bộc châu, Tế châu, Thiền châu châu, Hào châu, Tứ châu, Lư châu, Thọ châu, Sở châu, Hàng châu, Tuyên châu, Hồng châu, Ngạc châu, Thi châu, Du châu, Quang Hóa, Cao Bưu quân đều bị đại thủy lụt, bèn sai sứ đi xem xét khắp, mở đường tháo nước, cứu tế an ủi, miễn cho họ tiền thuế tô ruộng.

Nước Liêu, ở Nam Kinh, Tây Kinh được mùa rất to. Tiêu Châu Trạch (蕭珠澤), Chiêu thảo sứ Tây Bắc lộ, được triệu vào triều, phong làm Lưu Thành quận vương.

Hết chương 61

Chương sauQuyển 63

Đọc chương 62 →

Bình luận về truyệnTrang truyện