Tục tư trị thông giám

Chương 62: Quyển 63

Khoảng 58 phút đọc · 12.794 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, quần thần nước Liêu dâng tôn hiệu cho Liêu chúa là Thánh Văn Thần Vũ Toàn Công Đại Lược Quảng Trí Thông Nhân Duệ Hiếu Thiên Hựu Hoàng đế, đổi niên hiệu là Hàm Ung, đại xá. Sách lập Lương vương Tuấn (浚) làm Hoàng thái tử; ban cấp bậc cho bá quan, có phân biệt hơn kém.

Ngày Giáp Tý, Liêu chúa đi đến Ngư Nhi Lạc.

Ban đầu, triều đình sai Vương Vô Kỵ (王無忌) mang chiếu sang trách Quốc chủ nước Hạ là Lượng Tộ (諒祚). Lượng Tộ lần lữa không chịu nhận chiếu, mà nhân dịp sứ thần chúc Tết là Lệ Mậu Tiên (荔茂先) dâng biểu tự nói rõ nguyên do khởi binh, đổ tội cho quan lại biên thùy, lời lẽ phần nhiều không đúng sự thực. Ngày Đinh Mão, lại dùng chiếu răn cấm việc xâm nhiễu, nhưng Lượng Tộ rốt cuộc không nghe.

Bổ Biên bài Trung thư chư phòng văn tự Vương Quảng Uyên (王廣淵) làm Trực Tập hiền viện. Khi Hoàng đế còn ở phiên đệ, Quảng Uyên nhờ người hầu cận bên cạnh Hoàng đế là Thời Quân Khanh (時君卿) dâng những bài văn và thư từ mình soạn, nên mới có lệnh bổ dụng này. Tri Chẩn viện Tư Mã Quang tâu: "Quảng Uyên tuy hơi có chút văn tài, ngoài ra không có sở trường nào khác; trong giới sĩ đại phu, y ưa bon chen, khéo tiến thủ, được coi là hạng nhất. Trước đây mới nhậm chức Thông phán, được vào Biên bài Trung thư văn tự, trong vòng 2 năm đã được thăng Đường trừ Tri Thư châu, giới sĩ phu đã cùng nhau chỉ trỏ coi là kẻ cầu may; nay đã lưu lại không cho đi, lại vội vàng gia cho chức đẹp, há chẳng khiến ngoài triều sinh lòng nghi hoặc! Bệ hạ đang buổi đầu chấp chính, muốn tuyển chọn, đề bạt hiền tài trong thiên hạ, đặt họ vào những chức vị vượt lệ thường, để làm gương thúc đẩy quần thần, thế mà các quan phụ trách việc ấy lại không xứng với ý Bệ hạ. Trước đây dùng Bì Công Bật (皮公弼) quyền phát khiển Tam ty phán quan, nay lại dùng Quảng Uyên làm Trực Tập hiền viện, thì còn lấy gì khiến người trong thiên hạ giữ tiết tháo liêm sỉ, tôn sùng phong khí thuần hậu?” Quang nhiều lần dâng sớ bàn luận, nhưng rốt cuộc không được trả lời.

Ngày Quý Dậu, Tham tri chính sự Âu Dương Tu tâu: "Lượng Tộ khởi xướng điên cuồng, dần dần trái bỏ lời thề ước, kế sách phòng bị trước hết là ở việc chọn người. Từ sau khi bãi binh năm Khánh Lịch đến nay, trong số những người từng kinh lý việc ấy khi trước, chỉ còn Hộ bộ Thị lang trí sĩ Tôn Miện (孫沔) là còn sống. Miện giữ Hoàn Khánh, nuôi luyện binh sĩ, chiêu phủ phiên di, ân tín là nổi bật nhất. Nay tuy đã 70 tuổi, nhưng nghe nói tinh lực chưa suy, săn chim, cưỡi ngựa vẫn như ngày thường. Tuy giữa chừng từng vì tội mà bị bãi, nhưng bỏ lỗi cũ mà thu dùng, chính là thuật dùng người. Xin triều đình xét hỏi, đặc biệt khen dùng, may có thể gánh vác một phương." Chiếu bổ Miện làm Tư chính điện học sĩ, Tri Hà Trung phủ.

Lễ viện tâu: "Xin từ nay, văn võ thần khi có người mất mà phải bỏ chầu, thì đều bỏ chầu vào ngày hôm sau khi nghe tin tang." Chuẩn theo.

Ngày Đinh Sửu, ban cho 2 châu Hứa, Thái tiền và phiếu 100.000 quan, lệnh hòa cốc mua thóc để cứu dân đói, lại sai Giá bộ Viên ngoại lang Lý Hi Dật (李希逸) trông coi.

Ngày Nhâm Ngọ, lệnh Cung bị khố Phó sứ Mạnh Uyên (孟淵) cùng 19 người đi đến địa giới Khai Phong phủ và các lộ Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam để mộ binh. Tư Mã Quang tâu: "Nước nhà lo ở chỗ binh không tinh, chứ không lo binh không nhiều. Binh ít mà tinh thì áo lương dễ cung cấp, công tư sung túc, 1 người có thể địch 10, gặp địch tất thắng; nhiều mà không tinh thì áo lương khó chu cấp, công tư khốn quẫn, 10 người không địch nổi 1, gặp địch tất bại vong. Lợi hại rõ ràng như trắng với đen, không khó biết. Các quan biên thùy không có tài lược gì khác, chỉ biết cầu thêm binh. Các quan trong triều lại sợ số binh cấp cho không đúng với số xin, sau này nếu việc biên giới thất bại thì đổ lỗi cho mình. Vì thế không đoái hoài đến sự thiếu thốn của quốc gia, chỉ biết chiêu mộ, lấy số lượng hư danh, không kể mệt nhọc yếu ớt, không dùng được. Đó là thuật để quần thần dung thân giữ chức, tạm bợ trước mắt, chứ không phải là mưu sâu tính xa, kế sách lâu dài cho triều đình. Thần xin Bệ hạ sớm hạ chỉ, phàm ở Kinh sư và các lộ, đều nên bãi việc chiêu mộ Cấm quân, chỉ chọn tướng soái, huấn luyện số binh cũ hiện có, để phòng ngự tứ di, thì không lo không đủ. Ở những nơi bị tai hại, châu huyện không được tùy tiện chiêu mộ dân đói để sung vào Tường quân, chỉ căn cứ vào số thóc hiện có mà cứu tế nông dân, đợi sau này được mùa khá hơn, khiến họ đều trở lại nghề cũ, thì thiên hạ rất may mắn!"

Ngày Giáp Thân, lấy Thái thường bác sĩ, Tập hiền hiệu lý Thiệu Hàng (邵亢) làm Trực Sử quán, Dĩnh vương phủ Dực thiện, Đồng phán Ty Nông tự, lệnh hầu hạ ở hai vị hoàng tử. Hoàng đế từng triệu kiến tại điện Quần Ngọc, hỏi về thế sự, nói: "Học sĩ thật là khí vật của nước vậy!"

Ngày Canh Dần, nước Liêu lệnh cho quần thần, gặp ngày Chính đán, Đoan ngọ, Đông chí thì dâng biểu riêng chúc mừng Đông cung.

Tháng 2, ngày Tân Sửu, lấy Tam ty sứ, Cấp sự trung Thái Tương (蔡襄) làm Đoan Minh điện học sĩ, Lễ bộ Thị lang, Tri Hàng châu. Ban đầu, Hoàng đế từ phủ Bộc được lập làm Hoàng tử, trong ngoài không có lời dị nghị. Đến khi lên ngôi, vì uống thuốc nên Hoàng thái hậu buông rèm nghe chính. Hoạn quan, cung phi tranh nhau làm rối loạn, đều nói trong số cận thần cũng có người dị nghị, người ngoài bèn truyền rằng Tương từng có lời bàn luận, nhưng không ai biết hư thực. Hoàng đế nghe mà nghi, nhiều lần hỏi Tương là người thế nào. Một hôm, nhân Tương xin nghỉ triều, Hoàng đế đổi sắc mặt bảo Trung thư rằng: "Tam ty nắm tiền thóc thiên hạ, công việc phiền nhiều, mà trong 10 ngày Tương nghỉ đến 4, 5 ngày, sao không dùng người khác!" Hàn Kỳ và những người khác cùng tâu: "Việc Tam ty không thiếu sót, bãi ông ta không có cớ. Nay lại tìm một người tài thức, danh vọng hơn Tương cũng chưa có." Âu Dương Tu lại tâu: "Mẹ Tương hơn 80 tuổi, nhiều bệnh. Tương chỉ xin nghỉ triều, không đến chầu hầu, nhưng sau khi mặt trời lên cao thì vào Ty, cũng không bỏ việc." Nhưng mỗi khi tấu việc, hễ nói đến Tam ty, Hoàng đế chưa từng không đổi sắc mặt.

Đến khi Lượng Tộ đánh phá Kinh Nguyên, Hoàng đế bèn giục Trung thư rằng biên sự sắp nổi, quân nhu chưa bị, Tam ty phải sớm chọn người. Hàn Kỳ và những người khác lúc đầu còn gỡ tội, sau biết ý Hoàng đế không đổi, bèn tâu đợi Tương tự xin thì có thể đổi bổ. Ban đầu, lời đồn nhiều đường, hoặc nói Hoàng đế sau khi vào cung đã tự xem tấu thư. Đến nay nhân Tương xin bãi chức, Hàn Kỳ bèn chất vấn Hoàng đế, Hoàng đế nói: "Trong nội cung không thấy văn thư, nhưng từ lúc ở cung Khánh Ninh đã nghe rồi." Hàn Kỳ nói: "Việc phát xuất mờ ám, hư thực chưa rõ, xin xét lại. Nếu để Tương vì lời đồn vô căn mà mắc tội, thì sau này tiểu nhân có thể khuynh đảo, người hiền khó đứng vững." Tằng Công Lượng nói: "Kinh sư xưa nay ưa làm lời gièm, một người bịa chuyện, nhiều người thêm thắt, liền coi là thật. Đời trước vì lời nghi ngờ mà hại trung lương, không chỉ bề tôi mắc họa, mà còn gây hại cho quốc gia." Âu Dương Tu nói: "Bệ hạ cho rằng việc này quả có hay không?” Hoàng đế nói: "Tuy không thấy văn thư, nhưng sao dám bảo là tất không?” Âu Dương Tu nói: "Lời gièm nghi ngờ không chỉ là không có dấu vết để tìm; giả sử dấu vết rõ ràng, cũng còn phải phân biệt thật giả. Trước đây Hạ Lạt muốn hại Phú Bật, sai tỳ nữ học chữ viết của Thạch Giới, lâu ngày học thành, bèn giả làm bản thảo chiếu phế lập do Giới soạn cho Bật, may nhờ Nhân Tông thánh minh nên Bật được bảo toàn. Thần vào đầu niên hiệu Chí Hòa, mãn tang đến kinh, có kẻ tiểu nhân ghen ghét thần, giả soạn bản thảo tấu chương xin sa thải nội quan do thần dâng, truyền bá trong ngoài, nội thần không ai không nghiến răng, cũng nhờ Nhân Tông bảo toàn đến nay. Xét như thế, giả sử có văn thư, còn phải phân biệt thật giả, huống chi không có dấu vết!" Hàn Kỳ và Tằng Công Lượng lại lần lượt tiến lời. Hoàng đế nói: "Người tố cáo sao không nói đến người khác?” Bèn lệnh cho Tương ra trấn thủ bên ngoài. Lấy Long Đồ các học sĩ, Công bộ Thị lang Lữ Công Bật (呂公弼) quyền Tam ty sứ.

Đầu niên hiệu Chí Hòa, Công Bật làm Quần mục sứ, Hoàng đế còn ở phiên đệ, từng được ban ngựa, bọn lại dịch cấp cho ngựa xấu, xin đổi, Công Bật nói: "Đây là thân thích gần của triều đình, lại có tiếng tốt từ trước, nên tránh hiềm, không thể cho đổi." Đến nay Công Bật tấu việc, Hoàng đế nói: "Trẫm ở trong cung, khanh không muốn đổi ngựa với trẫm, lúc ấy trẫm đã biết khanh rồi." Công Bật dập đầu tạ. Hoàng đế lại nói: "Khanh kế nhiệm Thái Tương làm Tam ty sứ, Tương coi việc tài chính, kiện tụng không quyết kịp thời, khá nhiều việc tồn đọng, khanh xử trí thế nào?” Công Bật biết Hoàng đế không vui với Tương, bèn đáp: "Tương siêng năng việc công, chưa từng có thiếu sót, e rằng lời người nói là bậy." Hoàng đế càng coi Công Bật là bậc trưởng giả.

Ngày Quý Mão, Thứ mật phó sứ Vương Trù (王疇) mất. Hoàng đế đến tế, ban bạc trắng 2.000 lạng, truy tặng Binh bộ Thượng thư, thụy là Trung Giản.

Ngày Bính Ngọ, giáng Thiểm Tây chuyển vận sứ, Quang Lộc khanh Trần Thuật Cổ (陳述古) làm Thiếu phủ giám, Tri Hân châu, vì khi quyền Tri Vị châu đã tự tiện điều động Phó tổng quản Kinh Nguyên Lưu Kỷ (劉幾) quyền Tri Phụng Tường, lại hặc tội Kỷ, việc tra hỏi phần nhiều sai sự thực.

Ban cho 361 người là tiến sĩ, minh kinh, chư khoa hợp cách do Lễ bộ khảo thí, như Bành Như Lệ (彭汝礪) người Bà Dương, đều cho xuất thân, đỗ thứ.

Ngày Đinh Mùi, xét giảm tội nhân.

Ngày Đinh Tị, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê (王珪) và những người khác tâu: "Chiếu theo chiếu chỉ, xét định sự bất đồng giữa Lễ viện và Đồng tri Lễ viện Lữ Hạ Khanh (呂夏卿) về việc tế Đế, tế Hạp, xin theo như Lễ viện nghị, năm nay tháng 10 tế Hạp, năm sau tháng 4 tế Đế; theo như Hạ Khanh nghị thì bỏ lễ tế Lạp năm nay." Chuẩn theo.

Lấy Hàn lâm học sĩ, Trung thư Xá nhân Giả Ảm (賈黯) làm Cấp sự trung, quyền Ngự sử trung thừa. Chu Mạnh Dương (周孟陽), Vương Quảng Uyên vì là người cũ ở phiên đệ, thường được triệu kiến, Ảm tâu: "Hiền tài đầy triều, chưa có ai được triệu kiến, mà chỉ triệu riêng 1, 2 người thân cũ, tỏ ra với thiên hạ là không rộng rãi. Xin theo chuyện cũ đời Thái Tông, triệu các quan Thị tòng, Quán các để dự việc hỏi han." Hoàng đế từng thong thả bảo Ảm: "Trẫm muốn dùng người, mà ít người có thể đảm nhiệm." Ảm đáp: "Thiên hạ chưa từng thiếu người, chỉ là dùng thế nào mà thôi." Rồi dâng 5 điều: Một là sáng suốt biết người; hai là nuôi dưỡng dần dần; ba là không cầu tài năng toàn diện; bốn là tiến cử theo loại; năm là chọn người thay mình.

Lấy Lễ bộ Lang trung kiêm Ngự sử Tri tạp sự Cung Đỉnh Thần (龔鼎臣) làm Tập Hiền điện tu soạn, Tri Ứng Thiên phủ. Ban đầu, Đỉnh Thần được Tể tướng Hàn Kỳ yêu mến, Hàn lâm học sĩ Ngô Khuê (吳奎) muốn tiến cử làm Ngự sử, Giả Ảm không chịu, Khuê tranh luận không được, bèn thôi. Sau đó, Đỉnh Thần đổi từ Đô quan Viên ngoại lang sang Khởi cư xá nhân, Tri Gián viện, rồi Tri tạp sự; ở chức ngôn quan, ít có kiến nghị, nên lần này bị đưa ra ngoài. Về sau, Hoàng đế muốn dùng Vương Quảng Uyên làm Gián quan, nói: "Những năm gần đây, Gián quan, Ngự sử phần nhiều không làm tròn chức, như Cung Đỉnh Thần, chưa từng nói việc gì."

Ngày Kỷ Mùi, khởi phục tiền Lễ bộ Thị lang, Thứ mật phó sứ Ngô Khuê lĩnh chức cũ, Khuê cố từ, không cho; sai con là Đại lý Bình sự Cảnh (璟) dâng biểu khẩn từ. Hoàng đế nhất định muốn khởi dùng, Hàn Kỳ nói: "Những năm gần đây, đại thần ở Lưỡng phủ như Văn Ngạn Bác, Giả Xương Triều, Phú Bật đều xin được mãn tang, Khuê tất không chịu ra." Âu Dương Tu nói: "Nếu biên cảnh có việc gấp, chinh chiến binh giáp, thì không thể tránh." Hoàng đế nói: "Lúc này phía tây chưa yên, Khuê sao có thể tự theo ý riêng?” Bèn triệu Cảnh vào điện Diên Hòa dụ bảo, trao chiếu ban cho Khuê. Khuê rốt cuộc từ chối, Hoàng đế cho phép, chiếu mỗi tháng cấp nửa tiền bổng, Khuê cố từ không nhận.

Tháng 3, ngày Đinh Mão, chiếu cho Cống viện: "Những người dự thi điện tiến sĩ 5 lần, chư khoa 6 lần, thi tỉnh tiến sĩ 6 lần, chư khoa 7 lần, nay không hợp cách mà tuổi trên 50, thì xếp bài thi thành 3 hạng tâu lên." Bèn lấy 7 người tiến sĩ như Tôn Kinh (孫京) làm Thí Tả tác giám Chủ bạ, 38 người còn lại làm Châu Trưởng sử, Tư mã, Văn học.

Hoàng đế mới lên ngôi, lệnh Điện trung thừa, Phán Ty Thiên giám Chu Tông (周琮) và những người khác làm lịch mới, 3 năm thì xong. Tông tâu rằng lịch Sùng Thiên về khí tiết chậm hơn trời nửa ngày, hành độ của 5 sao sai nửa thứ, hiện tượng nhật thực sai 10 khắc. Sau đó, Trung quan Chính Thư Dịch Giản (舒易簡) cùng Giám sinh Thạch Đạo (石道), Lý Cấu (李遘) lại trình bày học thuật nhà mình, bèn chiếu lệnh Hàn lâm học sĩ Phạm Trấn (范鎮), Chư vương phủ Thị giảng Tôn Tư Cung (孫思恭), Quốc tử giám Trực giảng Lưu Bàn (劉攽) khảo định đúng sai. Hoàng đế suy cứu việc “thần không tụ ở Phòng” trong Thượng thư và các lần nhật thực trong Xuân Thu, so với những điều lịch hiện nay dự đoán. Thấy học thuật của Dịch Giản, Đạo, Cấu sơ lược, không dùng được, thuật mới thì tinh mật, bèn ban tên là lịch Minh Thiên, Tông và những người khác đều được thăng 2 cấp. Về sau lịch Minh Thiên cũng không dùng được, Tông và những người khác đều bị tước bỏ chức mới thăng.

Ngày Tân Mùi, Tân trừ Thị ngự sử Hòa tạp sự Lữ Hối (呂誨) vì từng nói lỗi của Trung thừa Giả Ảm mà từ chức, Ảm tâu: "Hối mới được làm Ngự sử là do thần cùng Tôn Biện (孫抃) và 3 người nữa tiến cử. Thần và các vị ấy biết Hối là người phương chính, cẩn hậu, nay được thăng dùng, rất hợp lòng mong đợi. Thần cùng làm việc với Hối, tất có thể hiệp lực, cúi xin sớm lệnh cho nhận chức." Chiếu dụ bảo Hối, Hối bèn nhận mệnh. Nhân đó tâu: "Các đời đặt quan tai mắt để bổ khuyết chỗ không kịp của người chủ, phàm việc nên biện luận phải trái, hễ hơi dính đến dối trá thì phải xử phạt nặng, không nên bỏ lời họ mà không dùng, khiến họ chán nản nhục chí. Với người hiền thì chết mới thôi, với kẻ không hiền thì quay lại suy nghĩ, chỉ lo cho thân mình, ai ai cũng thế. Ví như việc triều đình, quan Đài, Gián không được dự nghe, đến khi chính lệnh đã ban xuống mới được biết, lúc ấy muốn sửa chỗ sai thì nói là mệnh đã thi hành, khó bề thu hồi. Như thế thì các quan chấp chính lúc nào cũng thắng, quan tai mắt cũng như không đặt. Lại nghe gần đây có thần liêu kiến nghị rằng tiên đế khi lâm chính, tin dùng quan Đài, Gián, những việc đã thi hành mà họ tâu nhiều lần bị thu hồi, muốn Bệ hạ sửa khác việc của tiên đế, phàm việc phải kiên trì không đổi. Thi hành một mệnh lệnh sai, tiến một kẻ bất nhân, rồi nói với ngoài rằng đó là do bậc thanh suy ban ra, người ta tất không dám lay động. Nếu quả có chuyện ấy, thì là muốn bít lấp tai mắt thánh minh, khiến Bệ hạ cự tuyệt lời can mà làm việc, há phải là người trung thành yêu vua sao? Thần từng thân nghe đức âm, chỉ ra những kẻ im lặng rất nhiều, nhưng rốt cuộc không nghe có lời răn nhắc. Thần cho rằng Bệ hạ ham hỏi còn hơn Ngu Thuấn, chỉ là chưa từng xét lời họ; cầu trị như Hán Tuyên, chỉ là chưa từng trách thực chất. Thần đã chưa được đi, há dám không lấy việc nói mà tự nhận trách nhiệm. Mong Bệ hạ đã hỏi thì phải xét lời, đã dùng thì phải trách thực, chớ để tả hữu che lấp làm mê hoặc thánh minh, khiến quan ngôn sự lúc nào cũng có thưởng phạt răn khuyến, thì người ta không dám tạm bợ, chức vụ đều được làm tròn."

Ngày Tân Tị, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê tâu: "Quyền Ngự sử trung thừa Giả Ảm trước đây với tư cách Học sĩ đồng tu soạn Nhân Tông thực lục, từ khi kiêm lãnh Đài hiến thì không vào viện nữa, xin lệnh cho vẫn như cũ mà làm việc." Chuẩn theo.

Ngày Nhâm Ngọ, Lễ viện tâu: "Gần đây theo chuyện cũ của quốc triều, xét định chế độ thay đổi phục tang đại tường của Nhân Tông, lấy ngày 29 tháng 3 làm lễ tường, ngày 29 tháng 6 làm lễ đàm trừ, đến ngày mồng 1 tháng 7 thì theo việc lành, đã được ban sắc. Thần đẳng kính xét học lễ, Vương Túc cho rằng 25 tháng thì hết tang, còn Trịnh Khang Thành cho là 27 tháng. Thông điển theo thuyết của Khang Thành, lại thêm đến ngày 27 thì hết, tức là 28 tháng hết tang, đến tháng 29 mới theo việc lành, lại càng sai. Thời Thiên Thánh, lại định năm tháng của 5 bậc tang phục, sắc quyết là 27 tháng, nay sĩ thứ đều theo dùng. Tang 3 năm, từ thiên tử đến thứ dân, không nên khác nhau. Xin lấy ngày 29 tháng 3 làm đại tường, tháng 5 chọn ngày làm lễ đàm, ngày mồng 1 tháng 6 theo việc lành." Chuẩn theo.

Ngày Đinh Hợi, nước Liêu lấy Tri Hưng Trung phủ Dương Tích (楊績) lại làm Tri Thứ mật viện sự.

Ngày Kỷ Sửu, ban cho nhà cô gái Chu Hồi (朱回) ở huyện Thượng Ngô, châu Việt 30 tấm lụa, 20 hộc gạo. Mẹ Chu mất sớm, nàng được bà nội nuôi, lúc ấy mới 10 tuổi. Trong xóm có Chu Nhan (朱顏) tranh cãi với bà, cầm dao muốn giết bà, cả nhà kinh hoảng chạy tán, chỉ có Chu khóc lớn xông lên, ôm che cho bà, tay nắm áo Nhan, lấy thân mình đè xuống lưỡi dao của Nhan, nói: "Thà giết con, chớ giết bà!" Nhờ thế bà được thoát. Chu bị chém mấy chục nhát, mà tay vẫn nắm áo Nhan không buông, Nhan tức giận, chém đứt cổ nàng mà chết. Việc tâu lên, nên có ân ban này.

Hoàng đế từng hỏi các phụ thần: "Vàng thóc trong thiên hạ có bao nhiêu?” Hàn Kỳ và những người khác đều trả lời. Nhân đó hỏi: "Chi phí cho đám binh nhàn gấp đôi trước kia, vì sao?” Âu Dương Tu nói: "Từ sau việc phía tây, các quan biên thùy mở rộng phòng bị, đã tăng số quân, thì chi phí hàng năm càng nhiều." Lại hỏi: "Tổ tông vỗ về như thế, mà vẫn có kẻ cứng đầu." Hàn Kỳ nói: "Quốc gia chủ ý ở chỗ nghỉ dân, nên giữ đại thể, dung chứa mà thôi."

Tri chế cáo Tổ Vô Trạch (祖無擇) tâu rằng Trung thư tỉnh không nên ở phía đông, xin dời đối diện với Môn hạ tỉnh, được chuẩn.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Mão, nước Liêu vì Tri Thứ mật viện sự Trương Tự Phục (張嗣復) có bệnh, đổi làm Tri Hưng Trung phủ.

Ngày Mậu Tuất, chiếu lệnh Lễ quan và các quan từ Đãi chế trở lên bàn việc tôn sùng lễ nghi đối với Bộc An Ý vương, tâu lên, vì là việc Tể thần Hàn Kỳ và những người khác đã dâng tấu từ tháng 5 năm trước.

Ngày Canh Tý, Liêu chúa đến Trặc Cổ Lý (特古裡) nghỉ mát.

Ngày Tân Sửu, chiếu: "Giám ty, Tri châu mỗi năm tiến cử thuộc lại trong địa hạt, cốt ở chỗ được người, không nhất thiết phải đủ số hạn định."

Trước đó, Ngự sử trung thừa Giả Ảm tâu: "Nay Kinh triều quan đến bậc Khanh, Giám có hơn 2.800 người, mà quan Lại bộ tâu rằng người được tiến cử, mài khảo, chọn dùng mà chưa được yết kiến còn hơn 250 người. Thần không dám dẫn xa chuyện đời trước, chỉ lấy việc tiên triều mà so. Vào thời Thiên Thánh, pháp còn giản, người được chọn 4 lần khảo thì đổi quan, số thuộc lại do các sứ ở chư lộ tiến cử chưa bị hạn chế, mà các quan ở Kinh như Đài các và Thường tham quan từng nhậm Tri châu, Thông phán, tuy không phải thuộc lại cũng được tiến cử, lúc ấy người được đổi quan do mài khảo mỗi năm chỉ vài chục. Sau này tư cách khảo xét hơi tăng, mà số thuộc lại do Tri châu tiến cử thì căn cứ vào số huyện thuộc mà định số. Lại nữa, Thường tham quan không được tiến cử sĩ, điều lệ so với thời Thiên Thánh dần dần phức tạp, mà người được đổi quan đã nhiều rồi. Nhưng người đủ cách mài khảo vẫn không phải đợi quá 10 ngày là được yết kiến, chưa từng có người phải chờ. Đến thời Hoàng Hựu, mới hạn số người do Giám ty tiến cử, pháp càng chặt, mà người chờ mài khảo đã không dưới 60, 70. Từ Hoàng Hựu đến nay mới 10 năm, mà bỗng nhiều lên gấp 3. Trước kia pháp lỏng mà số ít, nay pháp chặt mà số tăng, vì sao vậy? Chính là vì người tiến cử thuộc lại mỗi năm bị hạn số, chỉ lo đủ số mà thôi. Như một quận thú, mỗi năm cho tiến cử 5 người, mà cuối năm không đủ số, thì ai cũng cho là bỏ sót mình, người đáng tiến cử thì sợ tiếng, sợ chê, muốn thôi mà không dám, nên người được tiến cử nhiều, mà kẻ thật tài, thật liêm không khỏi bị lẫn với kẻ bất tài. Nên ban minh chiếu cho thiên hạ, hễ có người thì tiến cử, không cần đủ số hạn định." Hoàng đế nghe theo, nên có chiếu này.

Ngày Bính Ngọ, rước an ngự dung Nhân Tông vào điện Hiếu Nghiêm ở cung Cảnh Linh.

Tháng 5, ngày Quý Hợi, lấy Tư chính điện học sĩ, Lễ bộ Thị lang, Tri Thái Nguyên phủ Trần Húc (陳旭) làm Thứ mật phó sứ.

Lữ Hối tâu: "Trước đây khi tiên triều dùng Trần Húc, thần cùng Đường Giới (唐介), Phạm Sư Đạo (范師道), Triệu Biện (趙抃), Vương Đào (王陶) nói y là gian tà, không nên đặt vào Lưỡng phủ, tấu chương dâng lên liên tiếp, vết xấu đều rõ. Nhưng ngoài thì cận thần chủ trương, trong thì hoạn quan kéo vào, Hàn Kỳ hết sức dọn đường, Phú Bật do dự không quyết, bàn luận suốt nửa năm, Húc ra làm Tri Định châu, thần và các vị ấy bị giáng đày ra ngoài Giang. Việc đã hai bên đều bãi, phải trái không phân, lời người sôi sục. Gần đây trong buổi tấu đối ở điện Sùng Chính, thần nghe đức âm nói Húc có tài, có người nói y gian tà, chưa mấy ngày đã nghe chiếu bổ nhiệm. Há có lẽ trong ngoài đều nói y gian tà, bậc minh triết biết mà lại dùng! Thần cho rằng đại thần hết sức tiến cử, Bệ hạ bất đắc dĩ mà dùng đó thôi. Chỉ mong lòng trong sạch, suy nghĩ sâu thêm, sự tiến thoái của Húc đều do thánh đoán."

Lấy Binh bộ Viên ngoại lang, Bí các hiệu lý Thái Kháng (蔡抗) kiêm Khởi cư xá nhân, sung Sử quán tu soạn, Đồng tri Gián viện. Kháng ban đầu làm giảng thư ở phủ Mục thân, ra vào cung đệ, không nhận quà cáp. Hoàng đế coi trọng, xin với Bộc An Ý vương, mong được cùng giao du. Mỗi lần gặp tất áo mũ chỉnh tề, lễ nghĩa như thầy bạn. Đến khi thân chính, liền hỏi Kháng ở đâu. Lúc ấy Kháng làm Quảng Đông chuyển vận sứ. Vội triệu về làm Phán Đô lý khiếm bằng do ty. Kháng chưa đến, Hoàng đế mỗi lần gặp sứ giả từ phương nam về đều hỏi. Đến khi vào chầu, lưu lại nói chuyện đến chiều muộn, nói: "Khanh là cố nhân của trẫm, trẫm trông mong ở khanh nhiều, chớ lấy lễ thường mà tự xa cách." Ở mấy tháng, bèn có lệnh này.

Lấy Hàn lâm học sĩ, Quyền Tri Khai Phong phủ Phùng Kinh (馮京) làm Thiểm Tây An phủ sứ, thay Trần Húc.

Ngày Mậu Thìn, chiếu rằng: "Trẫm nhờ di nghiệp của tiên đế, vui cùng công khanh đại phu gắng sức trị nước. Gặp lúc thiên hạ thái bình đã lâu, trong ngoài theo lệ cũ, kẻ lười biếng chức vụ nhiều, chưa nghe ai đẩy lợi đến dân, hết lòng lo nước. Chỉ chất chứa năm tháng để mong tiến thân, lại tô vẽ danh tiếng để cầu người biết, điều có thể nói cũng không ngoài việc lo sổ sách, kỳ hạn, trẫm còn trông mong gì! Kẻ im lặng, tạm bợ mà không bị trừng phạt, thì người đoan lương, mẫn tiệp không có gì để khuyến khích. Trẫm giữ sự công bằng lớn lao trong thưởng phạt, ắt sẽ thi hành. Trăm quan hãy đổi suy nghĩ, siêng năng, mỗi người sửa chức vụ mình để xứng ý trẫm."

Ngày Tân Mùi, lấy Đông thượng các môn sứ Lưu Kỷ (劉幾) làm Tri Phu châu. Kỷ ban đầu quyền Phó đô tổng quản Kinh Nguyên, cùng Trần Thuật Cổ kiện tụng lẫn nhau, sau khi bị bãi, người thay Kỷ bèn phát giác việc Kỷ dùng quá tiền công sai, chiếu lệnh Kỷ đến Vĩnh Hưng quân chờ xét. Quyền Ngự sử trung thừa Giả Ảm tâu: "Nước nhà dùng tướng soái, nên trách ở công hiệu giữ biên, chống giặc, những lỗi nhỏ nhặt đều nên bỏ qua, thì mới được họ tận lực chết vì nước. Thời Thái Tổ, thiên hạ chưa định, Lý Hán Siêu (李漢超) và 14 người chia nhau giữ 3 biên, đều hơn 10 năm không đổi, toàn bộ lợi thuế của châu đều giao cho họ, lại cho phép họ buôn bán, miễn thuế nơi họ đi qua, quân sĩ không kể lớn nhỏ đều cho phép tùy nghi, vì thế Hán Siêu và những người ấy lập được công danh, mà trong 20 năm không lo phía tây bắc. Thời Khánh Lịch, Thiểm Tây dùng binh, khá mất thuật ấy, quan biên thùy dùng tiền công sai hơi có quá, thì pháp quan dùng văn từ sâu sắc mà buộc tội, như Doãn Thâu (尹洙), Trương Kháng (張亢), Tằng Tông Lượng (滕宗諒) là vậy. Nay Tây Nhung phản loạn, Bệ hạ đang phải dùng ân uy để trị các tướng, nên nghĩ đến cách Thái Tổ dùng người, mà răn việc gần đây thất thố. Như Kỷ, nếu không có đại quá, xin tha mà không hỏi." Hoàng đế nghe theo, nên có lệnh này.

Ngày Bính Tý, Giả Ảm tâu: "Gần đây các Hoàng tử phong tước, đều kiêm chức Kiểm giáo Thái phó. Xét quan nghi, Thái sư, Thái phó, Thái bảo là Tam sư, con làm thầy cha, về nghĩa không được, đời trước theo lệ, sai ở chỗ không chỉnh. Xin từ nay, Hoàng tử và tông thất bậc thấp đều không được kiêm chức Sư, Phó, tùy theo thăng tiến mà đổi phong Tam công." Giao cho Lưỡng chế bàn, xin theo lời Ảm. Trung thư cũng nói: "Từ đời Đường trở đi, thân vương không kiêm chức Sư, Phó, quốc triều vì Tam sư, Tam công đều là hư danh, nên theo mà phong. Nay nên sửa sai." Chiếu cho, lại lệnh những người đã nhận mệnh, sau này khi gia ân thì đổi phong.

Ngày Tân Tị, nước Hạ sai sứ sang cống nước Liêu.

Ngày Giáp Thân, lệnh Tể tướng Hàn Kỳ, Tằng Công Lượng quyền kiêm công việc Thứ mật viện, vì Phú Bật đang cáo bệnh. Bật từ mùa đông năm trước vì bệnh chân nằm nhà, đến nay dâng hơn 20 sớ xin bổ ra ngoài, Hoàng đế rốt cuộc không cho.

Ngày Bính Tuất, Thứ mật viện biên soạn Cơ yếu văn tự 981 quyển dâng lên, ban thưởng cho những người làm việc, có phân biệt.

Tháng 6, ngày Tân Mão, lấy Giang Đông chuyển vận phán quan, Đồn điền Viên ngoại lang Phạm Thuần Nhân (范純仁) làm Điện trung Thị ngự sử, Thái thường bác sĩ, Quyền phát khiển Diêm thiết phán quan Lữ Đại Phòng (呂大防) làm Giám sát Ngự sử lý hành. Chế độ gần đây, khi Ngự sử khuyết, thì lệnh Hàn lâm học sĩ, Ngự sử trung thừa, Tri tạp sự luân phiên tiến cử 2 người, Hoàng đế tự chọn 1 người bổ nhiệm, đến nay khuyết 2 viên, người được tiến cử chưa dâng, trong nội cung đưa tên Thuần Nhân, Đại Phòng ra mà bổ. Đại Phòng là người Lam Điền. Đại Phòng trước hết tâu: "Kỷ cương thưởng phạt chưa thỏa lòng mong đợi của bốn phương có 5 điều: Tiến dùng bề tôi mà quyền không về trên; đại thần mệt mỏi, già yếu mà không được cho nghỉ; Di địch kiêu ngạo mà không chọn tướng soái; các thần bàn luận bổ ích, sửa sai mà đại thần ngăn trở; các thần ở biên thùy, tả hữu làm hỏng việc mà được thưởng, người làm tròn chức vụ lại mắc tội." Lại luận: "Phú Bật đau chân, xin giải chức cơ vụ, dâng hơn chục sớ mà không được chấp thuận; Trương Biện (張昪) gần 80 tuổi, xin cáo lão mà không cho; Ngô Khuê có tang 3 năm, triệu con y đến mà gọi 2 lần, sai sứ triệu y lại 2 lần nữa; Trình Kham (程戡) từ chối vì già không kham nhiệm vụ biên thùy, cũng không cho. Thần cho rằng Bệ hạ muốn làm trọn phận vua tôi, khiến người bệnh được nghỉ, người có tang được mãn, người già được trọn tuổi già, thì tiến thoái theo lễ, cần gì phải quá sức tô vẽ, khiến lòng thành của 4 người ấy không được tự bày tỏ?”

Ngày Quý Tị, quần thần dâng biểu xin cho nghe nhạc, [vua] không cho; đến khi dâng biểu 5 lần, mới cho.

Lúc trước, Đoàn luyện sứ Giáng châu là Dương Toại (楊遂) làm Tuần kiểm Tân Thành, từng cứu chữa vụ cháy ở phủ Bộc vương, Hoàng đế nhớ rõ mặt mũi ông ta.

Bấy giờ, Ty Thị vệ khuyết chức Soái, Hoàng đế trước hết nêu tên Dương Toại, cất nhắc làm Đoàn luyện sứ Đăng châu, kiêm Bộ quân Đô ngu hầu.

Ngày Kỷ Hợi, xuống chiếu: "Từ nay, các viên Phán quan ở Tam ty giữ chức đã lâu, không được lại cử nhiệm chức vụ khác."

Ngày Nhâm Dần, Đề cử Tại kinh chư ty khố vụ là Vương Khuê (王珪) cùng những người khác tâu rằng Đô quan Lang trung Hứa Tuân (許遵) đã biên tu, chỉnh lý các loại lệ lệ của Ty Đề cử và Tam ty, được 130 quyển; chiếu cho thi hành, lấy tên là “Tại kinh chư ty khố vụ điều thức”. Hứa Tuân là người Tứ châu.

Ngày Kỷ Dậu, lấy Trang trạch sứ Trương Lợi Nhất (張利一) làm Hoàng thành sứ, Tri Hùng châu kiêm Hà Bắc duyên biên An phủ sứ, thay Hoàng thành sứ Lý Trung Hựu (李中祐). Lại cho Lý Trung Hựu quyền làm Định châu lộ Tổng quản.

Tư Mã Quang tâu: "Gần đây nghe dân nước Khiết Đan có kẻ ở sông biên giới đánh cá, lại có kẻ ở phía nam Bạch Câu chặt phá cây liễu trồng, đó chỉ là chuyện nhỏ nơi biên ải, đâu đáng bận lòng! Thế mà triều đình cho rằng Tri Hùng châu trước đây là Lý Trung Hựu không thể cấm ngăn, bèn chọn châu tướng khác thay thế. Thần e rằng khi tướng mới đến, tất sẽ lấy Trung Hựu làm gương răn, rồi giết bừa dân bên ấy, thì mối tranh chiến sẽ qua lại không cùng. Mong bệ hạ nghiêm sức tướng lại biên giới phía bắc, như những việc thuyền đánh cá, chở liễu, chỉ nên dùng công văn kiểm điểm, dùng đạo lý bảo dụ, khiến quan lại bên họ tự mình răn cấm, không được dùng cung tên đao kiếm mà gia hại. Nếu đã nhiều phen bảo dụ mà không nghe, thì tâu lên triều đình, sai sứ thần chuyên đến triều đình của vua họ, cùng họ biện luận phải trái, cũng không hại gì. Nếu lại vẫn không nghe, thì không gì bằng rộng cầu hiền tài, tăng sửa chính sự, đợi khi công tư đều giàu đủ, sĩ tốt ngựa chiến tinh mạnh, rồi mới phụng mệnh mà hỏi tội, khôi phục cõi đất nhà Hán, nhà Đường, so với việc tranh hơn thua về cá với liễu, chẳng phải là xa rộng hơn sao!"

Sai Thí Hiệu thư lang Tôn Mâu (孫侔), Thí Tương tác giám Chủ bạ Thường Trật (常秩), Tiền Bạc châu Vệ Chân huyện Chủ bạ Vương Hồi (王回) đều làm Thôi quan Tiết độ sứ quân Trung Vũ; Tôn Mâu làm Tri Lai An huyện, Thường Trật làm Tri Trường Xã huyện, Vương Hồi làm Tri Nam Đốn huyện. Tôn Mâu cùng những người ấy đều nổi tiếng về văn hạnh, được Tri chế cáo Thẩm Cấu (沈遘), Vương Đào (王陶) cùng những người khác tiến cử. Chiếu ban xuống thì Vương Hồi mất, Tôn Mâu, Thường Trật đều từ chối không nhận chức.

Lúc đầu, bàn việc tôn sùng lễ nghi đối với Bộc An Ý vương, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê cùng những người khác nhìn nhau, không ai dám nói trước. Thiên Chương các Đãi chế Tư Mã Quang một mình phấn bút đứng ra nghị luận, nghị xong, Vương Khuê liền sai lại lấy bản thảo viết tay của Tư Mã Quang làm bản căn cứ. Bài nghị ấy nói: "Cúi xét sách Nghi lễ, người làm con thừa tự thì là con của người ấy, không dám lại ngó về thân thích riêng tư. Thánh nhân chế lễ, tôn quý không có hai bề trên, bởi nếu lòng cung kính yêu mến chia ra ban cho bên kia, thì không thể chuyên nhất ở bên này. Vì thế từ đời Tần, Hán trở về sau, các Hoàng đế có người từ chi bên mà vào thừa đại thống, hoặc tôn xưng cha mẹ mình làm Hoàng đế, Hoàng hậu, đều bị cho là không phải lúc bấy giờ, để tiếng chê cười cho đời sau. Huống chi người vào kế vị đời trước phần nhiều là sau khi xe ngự trong cung đã yên nghỉ (vua mất), mưu sách dựng lập hoặc do Hoàng thái hậu, hoặc do bề tôi, chứ không như Nhân Tông Hoàng đế khi tuổi tác chưa suy, suy nghĩ sâu xa về trọng trách tông miếu, kính vâng ý trời đất, chọn lựa trong tông thất người thánh minh, trao cho đại nghiệp. Bộc An Ý vương tuy đối với bệ hạ có tình thân trời sinh, có ơn nuôi dưỡng, nhưng bệ hạ sở dĩ ngồi sau rèm, đội mũ miện, giàu có bốn biển, con cháu đời đời nối nhau, đều là nhờ đức của Tiên đế. Thần cùng các quan trộm cho rằng lễ nghi tôn sùng Bộc An Ý vương ngày nay nên theo phép cũ triều trước phong tặng thân thích gần gũi, lấy chức quan cao, đất nước lớn, tôn sùng đến cùng cực. Chiêu Quốc, Tương Quốc Thái phu nhân, Tiên Du huyện quân cũng đổi phong làm Đại quốc Thái phu nhân. Khảo xét xưa nay, thật là xưng gọi thích đáng." Nghị dâng lên, Trung thư tâu rằng nghị của Vương Khuê cùng những người khác chưa thấy định rõ Bộc vương nên xưng là thân thuộc gì, có gọi tên hay không.

Bấy giờ Vương Khuê cùng những người khác nghị rằng: "Bộc vương đối với Nhân Tông là anh, đối với Hoàng đế nên xưng là Hoàng bá mà không gọi tên, theo lệ cũ đối với Sở vương, Kinh vương." Khi ấy có người bàn luận muốn xưng là Hoàng bá khảo. Thiên Chương các Đãi chế Lữ Công Trứ (呂公著) nói: "Chân Tông xưng Thái Tổ là Hoàng bá khảo, không thể đem mà thêm cho Bộc vương được."

Trung thư lại tâu: "Xét sách Nghi lễ: ‘Người làm con thừa tự thì để tang cho cha mẹ mình.’ Lại xét văn lệnh và chiếu ‘Ngũ phục niên nguyệt’, đều nói: ‘Người làm con thừa tự thì để tang cha mẹ của người mình thừa tự 3 năm áo sô xé, người làm con thừa tự thì để tang cha mẹ sinh ra mình 1 năm áo sô nguyên.’ Tức là con nuôi xuất tự đối với cha mẹ được thừa tự và cha mẹ sinh ra đều xưng là cha mẹ. Lại nữa, Hán Tuyên Đế, Quang Vũ đều xưng cha mình là Hoàng khảo. Nay nghị của Vương Khuê cùng những người khác xưng là Hoàng bá, trong điển lễ chưa thấy có căn cứ rõ ràng. Xin giao xuống Thượng thư tỉnh, tập hợp quan lại Tam tỉnh và Ngự sử đài bàn nghị." Chiếu theo đó.

Bọn chấp chính cho rằng triều sĩ ắt có kẻ đón ý, mà quan Đài, Gián đều theo nghị của Vương Khuê cùng những người khác, lời bàn luận xôn xao, chưa kịp dâng lên. Thái hậu nghe được, ngày Tân Hợi, trong cung đưa ra thủ bút trách mắng gay gắt Hàn Kỳ cùng những người khác, cho là không nên bàn xưng Hoàng khảo. Hàn Kỳ cùng những người khác tâu: "Thái hậu cho nghị của Vương Khuê cùng những người khác xưng Hoàng bá là không căn cứ, lại muốn hoãn việc này, đợi khi ý Thái hậu nguôi." Ngày Giáp Dần, xuống chiếu bãi việc Thượng thư tỉnh tập nghị, lệnh cho hữu ty rộng tìm điển cố, phải hợp với lễ kinh rồi tâu.

Hàn lâm học sĩ Phạm Trấn (范鎮), khi ấy kiêm Phán Thái thường tự, liền dẫn các Lễ quan dâng lời: "Hán Tuyên Đế đối với Chiêu Đế là cháu, Quang Vũ đối với Bình Đế là tổ, nên cha họ có thể xưng là Hoàng khảo, nhưng người bàn luận vẫn có kẻ chê, cho là đem tiểu tông mà hợp với đại tông. Nay bệ hạ đã để tang Nhân Tông, lại để tang Bộc An Ý vương, thì cái sai ấy chẳng những so với Hán Tuyên, Quang Vũ. Phàm xưng Đế, hoặc Hoàng, hoặc Hoàng khảo, lập miếu thờ, luận hàng chiêu mục, đều là không đúng." Nhân đó liệt kê đầy đủ sách Nghi lễ, Hán thư nghị luận, chiếu của Ngụy Minh Đế làm thành 5 thiên, dâng lên. Bọn chấp chính được tấu, nổi giận, gọi Phạm Trấn đến trách: "Chiếu thư nói phải khiến khảo xét kỹ, sao lại vội vàng dâng lên?” Phạm Trấn nói: "Hữu ty được chiếu thư, không dám trì hoãn, liền tâu lên, ấy là chức phận, sao lại lấy đó làm tội được!"

Bấy giờ các quan Đài từ Trung thừa Giả Ảm (賈黯) trở xuống đều có tấu, xin sớm theo nghị của Vương Khuê cùng những người khác. Thị ngự sử Tri tạp sự Lữ Hối (呂誨) tâu: "Triều đình đã biết lời bàn không nhất trí, thì phải biện rõ đúng sai, tham hợp ý kiến mọi người, làm sáng điều nên theo, sao có thể việc chưa định mà vội bãi tập nghị, lại giao cho hữu ty! Chiếu mệnh thay đổi qua lại, không phải là cách tỏ rõ sự chí công với thiên hạ. Hán Tuyên, Quang Vũ đều xưng cha là Hoàng khảo, hai vị Hoàng đế ấy trên thì thừa chính tông, đều không phải là kế tự từ chi bên, so với việc ngày nay đại thể hoàn toàn không giống. Căn cứ nghị của Vương Khuê cùng những người khác, Bộc An Ý vương đối với Nhân Tông Hoàng đế là anh, đối với Hoàng đế hợp xưng là Hoàng bá mà không gọi tên, như thế là hợp lễ. Lại dẫn việc Nguyên Tả, Nguyên Nghiễm xưng Hoàng huynh, Hoàng thúc, đều là điển lễ bản triều, sao có thể nói là không có căn cứ! Trộm xét ý chỉ chiếu trước, chỉ muốn tôn Bộc An Ý vương làm Hoàng khảo, cùng xưng với Nhân miếu, việc này không phải xuất phát từ lòng trong sạch, tất là do kẻ nịnh thần bày vẽ, cốt để làm vui lòng thánh thượng. Hai ba vị phụ thần không thể vì bệ hạ mà mở bày chính luận, lại còn sẽ mở ra mối ngăn cách, trái lễ nghĩa, làm rối lòng người, quên ơn Tiên đế, khiến bệ hạ rơi vào chỗ không chính, như thế có thể gọi là trung được chăng? Cúi mong bệ hạ ban chiếu khác, lấy nghị của Vương Khuê cùng những người khác làm định, đem những lời dâng trước sau không nhất quán, đều giáng ra ngoài, biện rõ đúng sai, chỉ rõ kẻ có tội, xử theo pháp luật, thì có thể giải tán mọi nghi ngờ, dứt tuyệt tà luận." Lữ Hối trước sau ba lần dâng tấu, đều lưu lại trong cung, không thi hành.

Tư Mã Quang tâu: "Chính phủ nói: ‘Sách Nghi lễ, văn lệnh, chiếu Ngũ phục niên nguyệt đều nói người làm con thừa tự thì để tang cha mẹ mình, tức là con nuôi xuất tự đối với cha mẹ sinh ra đều xưng là cha mẹ.’ Thần xét lễ pháp, tất phải chỉ rõ sự việc mà lập văn, khiến người hiểu được. Nay muốn nói người làm con thừa tự thì để tang cha mẹ mình, nếu không gọi là cha mẹ, thì không biết lập văn thế nào? Đây là chính phủ lừa dối thiên hạ, cho rằng mọi người đều không biết văn lý vậy. Lại nói: ‘Hán Tuyên Đế, Quang Vũ đều xưng cha mình là Hoàng khảo.’ Thần xét Tuyên Đế thừa sau Chiêu Đế, lấy cháu nối tổ, nên tôn cha mình là Hoàng khảo, mà không dám tôn ông mình là Hoàng tổ khảo, vì cùng hàng chiêu mục với Chiêu Đế. Quang Vũ từ áo vải mà khởi, giết Vương Mãng, thân mình xông pha tên đá mà được thiên hạ, danh là trung hưng, thực là sáng nghiệp, tuy tự lập 7 miếu, vẫn chưa phải là quá, chỉ xưng Hoàng khảo, sự khiêm nhường rất lớn. Nay bệ hạ thân là con của Nhân Tông mà thừa đại nghiệp, sách Truyện nói: ‘Nước không hai vua, nhà không hai bề trên.’ Nếu tôn Bộc vương làm Hoàng khảo, thì đặt Nhân Tông ở chỗ nào? Chính phủ trước đây lấy việc hai Hoàng đế không gia tôn hiệu cho cha ông mình mà làm phép tắc thì được; nếu cho rằng danh Hoàng khảo cũng có thể dùng cho ngày nay, thì e việc ấy không tương xứng. Giả sử Nhân Tông còn đang cai trị thiên hạ, Bộc vương cũng vạn phúc, khi ấy phong bệ hạ làm Hoàng tử, thì không biết gọi Bộc vương là cha hay là bác? Nếu Tiên đế còn thì xưng là bác, mất thì xưng là cha, thần tính rằng bệ hạ tất không làm như vậy. Lấy đó mà nói, Bộc vương nên xưng là Hoàng bá, còn nghi ngờ gì nữa! Mong bệ hạ trên thì khảo xét cổ điển, dưới thì thuận theo lòng người, dùng lễ mà tôn sùng Bộc An Ý vương như nghị của Vương Khuê cùng những người khác."

Khu mật sứ, Hộ bộ Thượng thư, Đồng Bình chương sự Phú Bật (富弼) nhiều lần dâng chương vì bệnh xin bãi chức, đến hơn 20 lần, Hoàng đế cố muốn lưu lại, nhưng không được. Mùa thu, tháng 7, ngày Quý Hợi, bãi làm Trấn Hải Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự, Phán Hà Dương. Lúc đầu khi bổ nhiệm làm Bộc xạ và Sứ tướng, Phú Bật 8 lần dâng chương xin lấy bản chức ra trấn thủ, không được. Khi sắp đi, lại xin bãi một chức Sứ tướng hoặc Bộc xạ, cho bãi chức Bộc xạ và đổi chiếu.

Ngày Bính Dần, chiếu rằng: "Việc có trước sau, nên chế độ có cao thấp; lễ có nặng nhẹ, nên cách dùng có rộng hẹp. Phàm việc tế Giao, tế Miếu để phụng thờ trời đất, tổ tông, nên theo như phép cũ; còn như chi phí xe ngự, y phục dùng trong cung, thì phải lo giảm bớt."

Ngày Bính Tý, cho 180 cung nữ xuất cung.

Liêu chúa vì Thái hậu bắn được gấu, ban thưởng cho bá quan có phân biệt.

Ngày Đinh Sửu, sao Thái Bạch hiện ban ngày.

Ngày Mậu Dần, Quan Văn điện Đại học sĩ, Thượng thư Tả thừa Giả Xương Triều (賈昌朝) mất. Hoàng đế đến nhà tế rượu, truy tặng Tư không kiêm Thị trung, thụy là Văn Nguyên. Ngự bút đề bia mộ rằng “Đại nho nguyên lão chi bi”. Giả Xương Triều khi ở chức Thị tòng, phần nhiều được tiếng khen, đến khi làm chấp chính, vì kết giao cung nhân, hoạn quan, nhiều lần bị quan Gián quan, Ngự sử công kích.

Ngày Kỷ Mão, quần thần dâng tôn hiệu là Thể Kiền ưng lịch Văn Vũ Duệ Hiếu Hoàng đế, chiếu đáp không cho.

Ngày Canh Thìn, lấy Hoài Nam Tiết độ sứ kiêm Thị trung Văn Ngạn Bá (文彥博) làm Khu mật sứ. Lúc đầu, Văn Ngạn Bá từ Hà Nam vào chầu, Hoàng đế bảo: "Trẫm ở ngôi này là nhờ sức khanh." Văn Ngạn Bá đáp: "Bệ hạ lên ngôi Thái tử, nối ngôi Hoàng cực, là thánh ý của Tiên đế, công lao hiệp trợ của Hoàng Thái hậu, thần có can dự gì!" Hoàng đế nói: "Trẫm đã nghe rõ từ đầu, khanh có ơn với trẫm." Văn Ngạn Bá nhún tránh, không dám nhận. Hoàng đế nói: "Tạm phiền khanh đi phía tây, rồi sẽ gọi về." Văn Ngạn Bá đi chưa đến Vĩnh Hưng, liền có mệnh này, lại sai Trung sứ giục trở lại.

Khu mật sứ, Lại bộ Thị lang Trương Biện (張昪) bị bãi làm Chương Tín Tiết độ sứ, Bình chương sự, Phán Hứa châu. Trương Biện cáo bệnh đã lâu, xin bãi, dâng chương 7 lần, mới được cho.

Trước đó, Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng (曾公亮) muốn thuyên chuyển Âu Dương Tu làm Khu mật sứ, sắp tiến cử mà không nói với Âu Dương Tu. Âu Dương Tu đoán được ý, bảo hai người: "Nay Thiên tử còn đang thời gian lắng nghe (lương âm), Mẫu hậu rèm chấp chính, mà hai ba đại thần tự sắp đặt chức vị cho nhau, thì lấy gì làm gương cho thiên hạ!" Hai người phục lời ấy, vội dừng lại. Đến khi Trương Biện rời chức, Hoàng đế bèn muốn dùng Âu Dương Tu, Âu Dương Tu lại hết sức từ chối, không nhận.

Ngày Tân Tị, lấy Quyền Tam ty sứ, Long Đồ các Học sĩ, Công bộ Thị lang Lữ Công Bật (呂公弼) làm Khu mật phó sứ. Lữ Công Bật dâng lời: "Quan Gián quan, Ngự sử là tai mắt của nhà vua, gần đây lời tâu ít được dùng, không phải là cách để thông bốn nghe. Bệ hạ nên lấy chính sự mà trách thành cho đại thần, còn việc nghe nhìn thì giao cho Đài, Gián; nếu không phải người thích đáng thì bãi. Như thế thì đường ngôn luận sẽ thông, mà nghe nhìn sẽ rộng."

Lấy Đoan Minh điện Học sĩ, Tri Thành Đô phủ Hàn Giáng (韓絳) quyền Tri Khai Phong phủ, rồi thăng làm Tam ty sứ. Hàn Giáng ở Thành Đô cả thảy 2 năm. Lúc đầu, khi Trương Vịnh trấn giữ đất Thục, mùa xuân mua thóc, mùa thu mua muối, quan cấp phiếu, để ban ơn cho người nghèo yếu. Lâu ngày, phiếu đều chuyển vào tay nhà giàu. Hàn Giáng xóa bỏ sổ cũ, gọi dân nghèo đến cấp phiếu riêng, lại lệnh cứ 3 năm xét giàu nghèo mà đổi, bọn hào hữu không thể tung hoành. Thục giáp với Di, người biên giới chặt gỗ ở cương giới, thường sinh tranh chấp, nhân đó hạ lệnh cấm chặt gỗ. Lại cho quân giữ ở Tàm Nhai, đóng kín đường qua lại của các bộ phiên đến Uy, Mậu buôn bán. Trước kia Nội thị sai đến Thục, giao cho lại ở tửu trường chủ việc mua bán, nhân đó lấy giá gấp đôi để làm phí tổn, Hàn Giáng tâu xin thêm răn cấm, Hoàng đế sai Nội thị tỉnh ghi làm lệnh, mỗi lần đi đều phải nhắc răn. Đến khi ở Tam ty, lại xin đem thóc lúa ruộng ở 4 lộ Xuyên, Hiệp nộp vào Thường bình thương, rồi tùy theo việc đảm nhiệm và đường sá xa gần mà định thứ tự, trả tiền để bình ổn giá cả. Hoàng đế than: "Mọi người đều tạm bợ, chỉ khanh là không theo thời vậy!" Liền thi hành. Các lại ở Nội chư ty có kẻ dựa vào ân trạch, Hàn Giáng kiên quyết không cho, Hoàng đế nói: "Trẫm vốn không biết, sẽ vì khanh mà đổi." Nhưng kẻ dựa dẫm vẫn không thôi, Hàn Giáng càng kiên quyết, nhân đó nói với Hoàng đế: "Thần thân mình phạm giận dữ của mọi người, sợ có lời gièm bay đến." Hoàng đế nói: "Trẫm khi ở phiên đệ, từng nghe hữu ty lấy việc nước làm tình riêng. Điều khanh giữ thật tốt, sao lại sợ lời gièm!" Trước đó, mọi chi phí dùng trong cung đều lấy ở Hợp đồng Bằng do, Hàn Giáng xin những khoản có lệ đều giao cho hữu ty, từ đó Tam ty mới được hội kế.

Lấy Tri chế cáo Thẩm Cấu làm Long Đồ các Trực học sĩ, Quyền Tri Khai Phong phủ. Thẩm Cấu là người nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, sáng suốt, thông đạt việc đời. Trước làm Tri Hàng châu, dân có kẻ nghèo không thể chôn cất, thì cấp tiền công sử. Gả chồng cho hàng trăm cô gái mồ côi. Bọn xướng ca nuôi con gái nhà lương thiện, ông bắt về trả cho cha mẹ. Đối đãi sĩ đại phu, phần nhiều được lòng họ. Bọn lại thuộc đều vui lòng hết sức, làm tai mắt cho ông, sổ sách trong hạt dài ngắn, việc nhỏ nhặt đều biết, việc đến thì quyết ngay, mọi người đều kinh phục. Tiểu dân có phạm tội, tình hơi không tốt, không kể pháp nhẹ nặng, liền xăm làm lính, bọn gian hoạt đều im hơi. Khi ấy Cúc Chân Khanh (鞠真卿) làm Đề điểm hình ngục, muốn xét việc ấy, chuyển văn hỏi châu, Thẩm Cấu cho là hơi nới lỏng những người đã xăm, cấp cho công cứ, lại cho làm dân. Gặp lúc Thẩm Cấu được triệu về, Cúc Chân Khanh cũng bị bãi, việc bèn bỏ. Người bàn luận cho rằng ông nghiêm như Tôn Miện, nhưng Tôn Miện tuy hà khắc bạo ngược, chỉ sắc bén trong việc trừng ác, đến Thẩm Cấu thì người thiện cũng sợ. Ông trị Khai Phong như trị Hàng châu, sáng sớm vào làm việc, đến trưa xong việc, ra ngoài cùng bạn cũ往來, thong thả nói cười để tỏ ra còn dư sức, sĩ đại phu đều khen là có tài. Hơn một tháng, gia Long Đồ các Học sĩ, rồi thăng Hàn lâm học sĩ. Vì mẹ mất mà rời chức, rồi mất gấp.

Tháng 8, ngày Canh Dần, mưa to. Ngày Tân Mão, nước từ đất phun lên, làm hỏng nhà cửa quan dân, cuốn trôi giết người và súc vật không kể xiết. Hoàng đế ngự Sùng Chính điện, từ Tể tướng trở xuống, người vào chầu chỉ có 10 người. Chiếu mở cửa Tây Hoa để tháo nước đọng trong cung, nước tràn mạnh vào Đông điện, nhà của bọn Thị ban đều sụp đổ.

Ngày Giáp Ngọ, sai Diêm thiết Phó sứ Dương Tá (楊佐) cùng những người khác đề cử sửa chữa nhà doanh trại các quân, Hư bộ Lang trung Lai Lệnh Tôn (來令孫) cùng 8 người đến nơi ban tiền cho quân dân chết đuối, chôn cất, tế lễ những người không có thân thuộc.

Ngày Ất Mùi, xuống chiếu cầu lời nói thẳng.

Tư Mã Quang dâng sớ: "Gần đây mưa to dồn dập, sông ngòi đều tràn, đô thành sụp đổ, nhà cửa lật úp gần hết, chết vì đè, chết đuối không kể xiết, đó là đại tai nạn khác thường. Chẳng hay bệ hạ trong chỗ giữ gìn hành động, có điều gì chưa nghĩ đến chăng? Dám lấy suy nghĩ ngu muội mà nói, đại khái có 3 điều: Trộm nghĩ Hoàng Thái hậu bảo dưỡng thánh thể từ khi còn trong tã lót, bệ hạ vào thừa đại thống, khi mới mắc bệnh, ngoài cung truyền rằng Hoàng Thái hậu trước linh cữu Tiên đế đã vì bệ hạ mà dập đầu cầu xin, đến nỗi trán bị thương, há có thể nói là không có lòng từ ái với bệ hạ sao! Không may bị bọn gièm nịnh qua lại ly gián, khiến tình cảm hai cung bỗng nhiên có khe hở. Bệ hạ là con người ta, dù cho Hoàng Thái hậu có điều không từ với bệ hạ, sao có thể cân nhắc phải trái, sinh lòng oán hận, mà trong lòng yêu kính không được đầy đủ! Tiên đế chọn bệ hạ trong số mọi người, từ Phòng ngự sứ nâng lên làm Thiên tử, đem một Hoàng hậu và mấy Công chúa giao phó cho bệ hạ, mà linh cữu còn quàn, đã làm mất lòng Hoàng Thái hậu, mấy vị Trưởng công chúa đều bị giam ở cung vắng, ít khi được thăm hỏi, đó là chỗ bệ hạ bắt đầu làm mất lòng người. Tiên đế thiên tính khoan nhân, nặng việc không trái lòng người, cuối đời mắc bệnh, chán việc vạn cơ, bèn giao hết việc thiên hạ cho hai phủ, việc chọn bỏ, thăng giáng chưa chắc đều đúng. Đến khi bệ hạ lên ngôi, mọi người đều cho rằng ắt sẽ thu lại quyền uy, tiến hiền lui ngu, khiến thiên hạ rộng rãi, lập thấy thái bình. Nhưng bệ hạ lại càng khiêm nhường, tự mình che giấu, phàm trăm việc tâu xin, không chịu quyết đoán, biết người hiền mà không cất nhắc, biết người bất tiếu mà không bãi, biết việc sai mà không sửa, biết việc đúng mà không theo, đại thần chuyên quyền còn hơn triều trước, tùy ý bổ nhiệm, không chút kiêng dè, đó là lý do thiên hạ lại càng thất vọng. Quốc gia đặt quan Đài, Gián để làm tai mắt cho Thiên tử, ngăn việc đại thần bưng bít. Chính sự triều đình đều do đại thần quyết định thi hành, mà Đài, Gián hoặc lấy ý kiến khác mà can thiệp, bệ hạ nên tự dùng thánh ý xét đoán đúng sai, có thể làm thì làm, có thể dừng thì dừng. Nay lại giao cho đại thần, họ há chịu cho rằng việc mình làm là sai, mà cho lời người khác là đúng sao! Bệ hạ chỉ mang tiếng là cự tuyệt lời can, còn đại thần thì ngồi hưởng lợi chuyên quyền, những người có lòng trung ở bốn phương đều nhìn gió mà câm miệng, đó là lý do thiên hạ lại thất vọng. Mong bệ hạ trên thì xét ý trời, dưới thì thuận lòng người, đối với 3 điều ấy đều lưu tâm thánh, phụng sự Hoàng Thái hậu càng thêm hiếu kính, cố gắng được lòng vui, các Trưởng công chúa thường thêm thăm hỏi vỗ về, chớ để họ lạc chỗ. Nắm giữ đại quyền, chớ giao cho người khác, chọn dùng anh tuấn, theo danh mà trách thực, thưởng công phạt tội, bỏ nhỏ lấy lớn, đón nhận lời ngay, lòng rỗng mà theo điều thiện, và đều làm bằng chí thành. Như thế thì lòng người đã vui, đạo trời tự hòa."

Lữ Hối tâu: "Ngũ hành chí nói: ‘Xem nhẹ tông miếu, bỏ lễ tế tự, thì nước không thấm xuống dưới.’ Vừa rồi việc Bộc An Ý vương, lúc đầu bàn luận có người muốn tôn sùng ngang với Nhân miếu, cuối cùng bãi việc truy tôn, không bằng lệ Yên vương, lễ không trúng, mà hiếu không đủ, đó cũng gần như là khinh nhờn. Kinh Phòng truyện nói: ‘Đói mà không giảm, gọi là đại hoang, tai là nước.’ Đông qua xuân, các quận Hứa, Nghiễm đại hoang. Thần cho rằng những việc dùng của Thượng phương không cấp thiết, những công trình xa xỉ ở Hậu uyển, nên gia giảm bớt, để tôn sùng tiết kiệm, liệu thu mà định chi, chính là lúc này. Lại nói: ‘Ngăn trở người có đức, tai là nước.’ Tức là người có đức bị ngăn trở mà không dùng. Nay những người được mời đến ngồi trước chiếu, không ai không phải là cựu thần ở phiên đệ, đường thanh tiến dụng đều từ cửa quyền quý. Người trung lương há không bị cắt đứt. Xưa lấy công tích mà cử hiền, thì vạn hóa thành, điềm lành hiện; đời sau lấy lời khen chê mà chọn người, nên công nghiệp bỏ, tai dị đến. Bệ hạ nên cẩn thận suy nghĩ, cứu vãn lỗi lầm, may ra có thể tiêu trừ, phục hồi."

Lữ Đại Phòng (呂大防) tâu: "Mưa nước gây hại, đó là khí độc âm thắng dương." Nhân đó trình bày 8 việc: ân vua không lập, quyền thần quá thịnh, tà nghị can dự chính, ân riêng hại công, giặc biên kết mưu, trộm cướp tung hoành, lòng người mất chức, hình phạt mất công bằng.

Ngày Bính Thân, nước Liêu vì khách tinh phạm Thiên miếu, lệnh các lộ phòng bị giặc cướp, nghiêm cấm lửa.

Lúc đầu, bàn việc tôn sùng Bộc An Ý vương, Sử quán Tu soạn, Đồng tri Gián viện Thái Kháng (蔡抗) dẫn lễ nghĩa “làm con thừa tự”, chỉ rõ rất thiết tha, nước mắt ướt mặt, Hoàng đế cũng cảm động rơi lệ. Gặp lúc kinh sư đại thủy, Thái Kháng truy xét lỗi do trời phạt, giữ lời nói trước mà đối, các đại thần không thuận. Ngày Canh Tuất, sai Thái Kháng làm Tri chế cáo kiêm Phán Quốc tử giám, bãi chức Gián.

Ngày Ất Mão, chiếu giảm định chế độ cửu chương mũ miện, theo lời tâu của Đồng tri Lễ viện Lý Dục (李育). Lý Dục là người Hà Nam, từng cùng đồng liêu bàn việc trong cấm cung. Sau khi tâu, có Trung nhân đến hỏi ai làm việc này, đồng liêu sợ không dám đáp, Lý Dục một mình bước ra nói: "Dục chính là người làm." Trung nhân liền đi, việc cũng thôi.

Sai Tri chế cáo Tống Mẫn Cầu (宋敏求), Hàn Duy (韓維) cùng tu soạn “Nhân Tông thực lục”.

Tháng 9, ngày Tân Dậu, Đề cử Biên soạn Lễ thư, Tham tri chính sự Âu Dương Tu đã biên soạn xong Lễ thư 100 quyển; chiếu lấy tên là “Thái thường nhân cách lễ”, ban cho Âu Dương Tu cùng những người khác bạc lụa có phân biệt.

Ngày Nhâm Tuất, vì mưa dầm nên bãi đại yến. Tư Mã Quang tâu: "Bệ hạ sắp có việc ở Nam giao, quần thần theo lệ cũ xin dâng tôn hiệu, bệ hạ tự mình khiêm nhường, để nhận lỗi trời, an ủi lòng người. Mong từ nay, phàm biểu xin dâng tôn hiệu của quần thần, đều từ chối không nhận, lại lệnh về sau không được dâng nữa." Tư Mã Quang đã dâng sớ, lại trực tiếp bày tỏ, Hoàng đế vui lòng nhận. Quần thần dâng biểu 5 lần, rốt cuộc không cho.

Ngày Kỷ Tị, sách vấn người đỗ Chế cử. Ngày Giáp Tuất, lấy người đỗ vào bậc trong khoa Chế là Trước tác tá lang Phạm Bách Lộc (範百祿) làm Bí thư thừa, thăng một cấp; Tiền Hòa Xuyên huyện lệnh Lý Thanh Thần (李清臣) làm Trước tác tá lang. Bài đối sách của Phạm Bách Lộc nói: "Xem nhẹ tông miếu, bỏ lễ tế tự, thì nước không thấm xuống dưới. Xưa Hán Hiếu Ai tôn Cộng Hoàng, mà Hà Nam, Dĩnh Xuyên đại thủy; Hiếu An tôn Đức Hoàng, mà kinh sư cùng 29 quận quốc đại thủy; Hiếu Hoàn tôn Sùng Hoàng, mà 6 quận đất nứt, nước phun, giếng tràn; Hiếu Linh tôn Nhân Hoàng, mà kinh sư đại thủy. Khác đời mà cùng nghiệm, khít như phù tiết. Bệ hạ đối với Bộc An Ý vương, tình có thể giảm mà lễ không thể thêm, ân có thể dứt mà nghĩa không thể nâng. Lễ, người làm con thừa tự thì là con của người ấy, xưa giữ trọng đại tông thì hạ thấp thân thích riêng. Đại tông là tôn, tiểu tông là giảm; tế trời đất, tông miếu, xã tắc là trọng, tang trong cửa nhà là nhẹ. Điều nên giảm mà lại tôn, điều nên nhẹ mà lại nặng, ấy là trái lễ của Tiên vương. Lễ trái thì lòng người mất, ý trời xa, đó là chỗ biến dị phát sinh. Các Thánh đế Minh vương xưa kia, chưa từng không có lỗi, nhưng quý ở chỗ biết sửa. Bệ hạ nên chiếu hữu ty, chớ bàn lại việc truy tôn, chỉ nhân việc lập quốc cho Bộc An Ý vương, mà lập trưởng cho nước ấy, làm Thế thế Tự vương, đời đời thờ phụng An Ý vương, vĩnh viễn làm Thái tổ một nước, thì lòng người vui, ý trời nguôi, tai họa mưa lớn cần gì phải trừ!" Phạm Bách Lộc là cháu họ của Tư Mã Trấn.

Lý Thanh Thần là người An Dương, Hàn Kỳ gả cháu trai của anh mình cho, Âu Dương Tu khen văn chương ông, cho là giống Tô Thức. Khi thi ở Bí các, khảo quan Hàn Duy nói: "Bút lực như Tuân Khanh." Bài thi đến Trung thư, Âu Dương Tu ra đón nói: "Nếu Thanh Thần không đỗ thì sai lắm." Mở ra xem, quả như lời. Đến khi đình đối, có người nói Lý Thanh Thần nên dùng “Ngũ hành truyện” để đối, ắt lại được đệ nhất, Lý Thanh Thần nói: "Đó là lời phụ họa trong Hán thư, ta không tin. Trong dân há không có bệnh tật có thể dâng lên sao!" Nhân đó nói: "Trời đất to lớn, ví như thân người, bụng, tim, phổi, ruột bị công kích, tắc nghẽn, thì ngũ quan không yên. Dân sinh tụ tập là bụng, tim, phổi, ruột của trời đất; nhật, nguyệt, tinh, thần là ngũ quan của trời đất. Người giỏi dừng dị tượng của trời đất, không phải dừng dị tượng, mà là dừng bệnh tật của dân." Lý Thanh Thần rốt cuộc đỗ ở bậc thứ.

Ngày Ất Hợi, Liêu chúa đi đến Tịch Ty Điện.

Ngày Bính Tý, lấy Quyền Ngự sử Trung thừa Giả Ảm làm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Tri Trần châu, theo lời xin của ông. Trước đó, Giả Ảm cùng các quan Nhị chế bàn nghị, xin lấy Bộc vương làm Hoàng bá, bọn chấp chính không theo, ông nhiều lần đến Trung thư tranh luận. Gặp lúc mưa to nước lớn, khi ấy Giả Ảm đã mắc bệnh, dâng sớ nói: "Hai ba vị chấp chính dựng lên thuyết hai thống, hai cha, nên thần linh bảy miếu nổi giận, trời giáng mưa nước, cuốn trôi giết dân." Bèn lấy cớ bệnh xin đi, nên có mệnh này. Sau 12 ngày thì mất, miệng đọc di tấu mấy trăm chữ, vẫn lấy việc nghị Bộc vương mà xin. Truy tặng Lễ bộ Thị lang. Giả Ảm thanh khiết, tự lấy làm vui, ở triều nhiều lần nói việc, người ta khen là cương trực.

Lấy Long Đồ các Trực học sĩ, Phán Đô thủy giám Hàn Chí (韓贄) làm Tri Hà Nam phủ, vì tội để cống rãnh trong ngoài đô thành lâu ngày không sửa.

Ngày Nhâm Ngọ, sao Thái Bạch phạm sao Nam Đẩu.

Trước đó, khi trong hàng Tăng quan có chỗ khuyết, phần nhiều do quyền thần thế gia xin xỏ, có chiếu trong cung xuống bổ người, nên các quan Ngự sử, Gián quan nhiều lần dâng sớ bàn luận. Nhân Tông bèn định lệ rằng: "Khi Tăng quan có chỗ khuyết, lệnh hai phố (Tăng lục hai phố) mỗi bên chọn 1 người, so tài nghệ rồi bổ dụng." Đến đây, chức Giám nghĩa bị khuyết, Trung thư đã hạ lệnh cho hai phố chọn người mà vẫn chưa tiến cử, thì nội thần Trần Thừa Lễ (陳承禮) xin lấy sư chùa Bảo Tướng viện là Khánh Phụ (慶輔) cho giữ chức ấy, có chiếu trong cung xuống cho Khánh Phụ làm Giám nghĩa, nhưng Trung thư giữ tấu, cho là không thể được.

Âu Dương Tu (歐陽修) bèn dâng sớ nói: "Bổ một chức Tăng quan là việc rất nhỏ, nhưng việc của Trung thư đã thi hành rồi, mà lại dùng chiếu trong cung để sửa đổi phép tắc do tiên triều đã định, thì tức là để cho nội thần khuấy rối triều chính, việc ấy sao có thể mở đầu mối cho nó được!" Lại nói: "Cung nữ, kẻ thân cận trong cung, từ đời trước vốn thường khó chế ngự. Việc nhỏ này, nếu không để ý mà thuận theo, thì bọn ấy tất sẽ tự phô trương ra ngoài, cho rằng triều chính có thể xoay chuyển được, thế lực của chúng chẳng phải là nhỏ." Hoàng đế lập tức chuẩn theo tấu nghị của Trung thư, lệnh cứ theo lệ mà chọn người thi tuyển.

Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Hợi mồng 1, Liêu chúa đi tuần núi Y Vu Lư sơn (醫巫閭山).

Ngày Canh Dần, lấy Thiên Chương các đãi chế Lữ Công Trứ (呂公著), Tư Mã Quang (司馬光) làm Long Đồ các trực học sĩ kiêm Thị độc.

Ngày Giáp Ngọ, lại lấy Vương An Thạch (王安石) làm Công bộ lang trung, Tri chế cáo, vì đã mãn tang mẹ.

Ngày Kỷ Hợi, nước Liêu vì Thái hậu bắn được hổ, bày yến tiệc lớn đãi quần thần, lệnh mỗi người làm thơ.

Ngày Quý Mão, Lữ Hối (呂誨) tâu rằng: "Bọn Đài, Gián là tai mắt của người chủ. Niên hiệu Thiên Thánh, Cảnh Hựu, trong Tam viện có 5 viên Ngự sử, số người được sai đi thay phiên là 3 người, thường có đến 20 viên; về sau càng ngày càng suy giảm, là do bọn chấp chính không muốn bệ hạ nghe được những khuyết điểm trong ngoài, nhưng dẫu vậy vẫn không dưới hơn chục viên. Nay ở Ngự sử đài, chức Trung thừa khuyết đã mấy tháng, trong 5 viên Ngự sử, số người được sai đi thay phiên là 3 người, chỉ có thần cùng Phạm Thuần Nhân (范純仁), Lữ Đại Phòng (呂大防) là đang giữ chức; tấu chương dâng lên 10 bản, thì 8, 9 bản bị bác bỏ. Quan Gián quan có 2 viên, Tư Mã Quang đã thuyên chuyển sang chức khác, Phó Nghiêu Du (傅堯俞) ra sứ Bắc đình. Đường ngôn luận bị bưng bít, chưa từng có lúc nào nghiêm trọng như ngày nay, thần ngầm lấy đó làm điều hổ thẹn cho thánh triều!"

Ngày Ất Tị, lệnh Tri chế cáo Thiệu Tất (邵必) quyền tri Gián viện.

Ngày Mậu Thân, lấy Quyền phát khiển Tam ty Khai trích ty Tôn Vĩnh (孫永) làm Tư vương phủ Thị độc, Trung thu biên bài văn tự Tôn Cố (孫固) làm Tư vương phủ Thị giảng. Dĩnh vương hiếu học không biết mệt. Một hôm, đưa ra bản tân lục “Hàn Phi tử”, giao cho thuộc lại trong phủ đối chiếu hiệu đính, Tôn Vĩnh nói: "Hàn Phi hiểm độc, trái với ý chỉ của Lục kinh, xin vương chớ để tâm vào đó!" Vương nói: "Ghi chép là để đủ số sách trong tàng thư, chứ không phải là điều ta ưa thích."

Ngày Nhâm Tý, lấy Long Đồ các trực học sĩ kiêm Thị giảng Lư Sĩ Tông (盧士宗) làm Tri Thanh châu. Sĩ Tông vào chầu từ biệt, Hoàng đế bảo: "Trẫm vốn biết khanh trung hậu thuần khiết, há nên để khanh ở ngoài lâu như thế!" Nhân đó lệnh cho được vào chầu lần nữa; đến khi yết kiến, bèn bàn luận về phép tắc của Tổ tông không nên nhiều lần thay đổi.

Ngày Giáp Dần, Lữ Công Trứ dâng bộ “Nhân Tông ngự tập” do mình biên soạn gồm 100 quyển, Hoàng đế ngự điện Diên Hòa, mặc giày bào mà xem.

Lấy Hàn Lâm học sĩ Phùng Kinh (馮京) làm Nam giao nghi trượng sứ, vì chức Ngự sử trung thừa đang khuyết. Ngay trong ngày ấy lại đổi lệnh, lấy Cấp sự trung, Thiên Chương các đãi chế Bành Tư Vĩnh (彭思永) quyền Ngự sử trung thừa.

Tháng 11, ngày Canh Ngọ, triều hưởng ở Cảnh Linh cung. Ngày Tân Mùi, hưởng Thái miếu. Ngày Nhâm Thân, tế Trời Đất ở Viên Khâu, lấy Thái Tổ phối hưởng. Đại xá. Trước đó, bách quan tập nghi ở Thượng thư tỉnh, được ban rượu thịt; lang quan Vương Dịch Tri (王易知) say no mà nôn mửa, Ngự sử liền dâng sớ hặc tội thất nghi. Đến đây, Tể tướng Hàn Kì (韓琦) tâu việc ấy, Hoàng đế nói: "Đã đại xá tội rồi." Kì nói: "Theo lệ cũ, tội thất nghi không được tha theo lệnh đại xá." Hoàng đế nói: "Thất nghi là tội phạt nhẹ, nhưng nếu để sĩ đại phu nhờ rượu thịt mà được dung tha, thì khó mà còn thể diện." Rốt cuộc vẫn tha cho.

Nước Liêu, Da Luật Di Tốn (耶律伊遜) cậy sủng mà làm điều phi pháp, Bắc viện Khu mật sứ Da Luật Nhân Tiên (耶律仁先) kiềm chế hắn, nên bị Di Tốn ghét. Tháng 12, ngày Giáp Ngọ, giáng Nhân Tiên ra làm Lưu thủ Nam Kinh, đổi phong làm Tấn vương. Nhân Tiên đến Nam Kinh, thương xót cô quả, cấm ngăn gian ác, biên cảnh yên ổn. Người bàn luận cho rằng từ sau khi Dụ Duyệt Hưu Cách (裕悅休格) mất, chỉ có một mình Nhân Tiên mà thôi.

Ngày Giáp Thìn, Hạ chúa Lượng Tộ (諒祚) sai người đến chúc mừng ngày Chính đán; ngày Đinh Mùi, lại sai người đến chúc mừng Thọ Thánh tiết.

Tư Mã Quang tâu

Sau khi tế Giao xong, Thị ngự sử tri tạp sự Lữ Hối lại trình bày lại ý kiến trước, xin sớm chính đính lễ tôn phụng đối với Phổ An Ý vương, lại nói: "Nay bọn nịnh thần dâng lời, làm mê hoặc, rối loạn thánh thính, Trung thư bèn cho là sai, cố chấp tà luận. Cần phải có người phát minh nghĩa kinh, giải thích các điều nghi ngờ của quần thần. Thần xin hạ chỉ cho Khu mật viện và các thần liêu sau này được thăng nhiệm vào hàng Lưỡng chế, cùng nhau xét kỹ điển lễ để chính định phải trái. Để lâu mà không quyết, không phải là cách tỏ rõ sự chí công với thiên hạ vậy." Hối liền sau đó được vào chầu đối ở điện Diên Hòa, bày tỏ khẩn thiết, trước sau tổng cộng 7 lần dâng sớ, nhưng không được theo. Nhân đó xin miễn chức ở Đài, bổ ra ngoài, lại 4 lần dâng sớ, cũng không được theo. Bèn hặc Hàn Kì rằng: "Đất Vĩnh Chiêu lăng còn chưa khô, tiếng dặn dò bên ngọc kỷ vẫn còn đó, thế mà Kì vội muốn truy tôn Phổ vương, khiến bệ hạ trọng người sinh ra mình mà khinh người nối ngôi, làm cho tiểu tông được tôn sùng mà đại tông bị đoạn tuyệt. Người bàn luận tranh biện đã nửa năm, Kì vẫn cố chấp cho là phải, không chịu sửa đổi. Xin giáng ông ta ra trấn thủ ở ngoài phiên để an ủi lòng bàn luận của sĩ phu."

Ngày Tân Hợi, nước Liêu lấy Nam Kinh Lưu thủ Tiêu Duy Tín (蕭惟信) làm Tả Y Lặc Hi Ba (左伊勒希巴). Nam phủ Tể tướng Tiêu Đức (蕭德) vì già xin về, được ban chiếu ưu đãi không cho. Bắc phủ Tể tướng Diêu Cảnh Hành (姚景行) bị giáng ra làm Tiết độ sứ Vũ Định quân, lấy Hán nhân Hành cung đô bố trí sứ Da Luật Lương (耶律良) làm Đồng tri Nam viện Khu mật sứ sự.

Hết chương 62

Chương sauQuyển 64

Đọc chương 63 →

Bình luận về truyệnTrang truyện