Tục tư trị thông giám

Chương 71: Quyển 72

Khoảng 58 phút đọc · 12.849 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Quý Sửu, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.

Ngày Ất Mão, bãi bỏ việc các đạo dâng cống mùa xuân bằng vàng lụa, và đình chỉ số bạc nộp cho Thượng phương trong tròn 1 năm.

Ngày Canh Thân, Quyền phát khiển Kinh Hồ Nam lộ, Chuyển vận phán quan là Đường Nghĩa Vấn (唐義問) tâu rằng: "Gần đây bãi bỏ Kinh Mô quân, đổi làm huyện Trường Lâm, quân đồn trú giảm bớt, không đủ để khống chế nơi trọng yếu. Nghe nói từ khi bãi bỏ đến nay, thuế muối rượu mỗi năm đều hụt đi một khoản, còn quá hơn số tiền dịch còn lại. Xin cho lập lại quân." Chiếu cho giám quan Bắc lộ Kinh Hồ xem xét tâu lên, rồi rốt cuộc không thi hành.

Ngày Mậu Thìn, viện Tiên Thiều bị cháy, không ra coi chầu.

Ngày Kỷ Tị, có vệt bạch hồng xuyên qua mặt trời.

Ngày Canh Thìn, chiếu cho phán quan phủ Khai Phong là Ngô Kỷ Phục (吳幾復) hặc tội Đông đầu cung phụng quan Vương Vĩnh Niên (王永年), vì Vĩnh Niên đến chỗ Tể tướng kiện việc tông thất là Thúc Bì (叔皮) cùng những người khác thay áo, lén ra ngoài cầu thầy bói. Vợ Vĩnh Niên là em gái Thúc Bì. Vĩnh Niên từ Giang Nam bị bãi chức, áp giải tiền công quỹ về Kinh sư, đã ăn trộm mấy nghìn mân, mong bên vợ trả thay, nhưng Thúc Bì không chịu trả; Tam ty thúc nợ rất gấp. Vĩnh Niên biết Thúc Bì từng vào đêm Thượng Nguyên cải trang vi hành trong xóm làng, bèn đêm gõ cửa Đông phủ cáo biến rằng: "Anh em Thúc Bì riêng đến hỏi thầy bói, cho rằng mình có thiên mệnh, mưu làm phản, bí mật chế tạo xe cộ, y phục, đồ dùng của Hoàng đế, đều đã sắm đủ." Vì thế mới lệnh cho Kỷ Phục thẩm tra. Kỷ Phục tra xét, đều không có chứng cớ. Vĩnh Niên đã nhận tội, gặp bệnh, chết trong ngục.

Thị ngự sử Chu Doãn (周尹) tâu: "Theo chế độ gần đây, các đại tế ở Thái miếu đều sai tông thất từ chức Sứ, Tướng trở lên kiêm chức Thái úy hành sự, là để coi trọng tông miếu, tôn kính tổ khảo, thân cận hoàng tộc, dạy bảo con cháu. Mùa đông năm ngoái, đến kỳ tế Lạp, Trung thư vừa định ban sắc, có người trong tông thất vội xin nghỉ bệnh, đã phải biệt sai quan khác, hôm sau lại vào triều bái yết; cũng có người sau khi nhận lời thề răn dạy rồi lại cáo bệnh. Trộm nghĩ tông thất là bậc thân hiền, được hưởng công nghiệp tích lũy của 9 đời Thánh, đã cực kỳ tôn sùng hiển quý, lẽ ra xuân thu phải hết sức cử hành lễ nghi. Nay lại vì một ngày phụng tế mà lấy làm ngại, thì là trái đức, bỏ gốc, không gì hơn thế. Nên gia tăng ràng buộc, từ nay tông thất là Sứ, Tướng trở lên, nếu phải đến Thái miếu hành sự, không được đến lúc ấy mới vin cớ bệnh mà trốn tránh. Nếu cho rằng số tông thất từ Sứ, Tướng trở lên không nhiều, mà việc tế lễ lại thường xuyên, thì cho phép từ Tiết độ sứ trở lên đều được kiêm nhiệm." Vua theo đó.

Tháng 2, ngày Nhâm Ngọ mồng 1, thống quân sứ Đông Bắc lộ nước Liêu là Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努) được gia phong tước Thượng phụ, phong làm Ngô vương.

Ngày Giáp Thân, lệnh cho Bắc viện Khu mật sứ, Ngụy vương Da Luật Di Tốn (魏王耶律伊遜) cùng anh em ruột được đời đời dự vào hàng được chọn vào Bắc, Nam viện Khu mật; các em khác mẹ thì đời đời dự vào hàng được chọn chức Y Lặc Hi Ba.

Ngày Mậu Tý, vì trận thua ở Quả Trang, ban thưởng quan chức cho bọn Chủng Ngạc (種諤) có phân biệt bậc.

Ngày Kỷ Sửu, Liêu chúa đi đến hồ Ngư Nhi Lạc.

Ngày Tân Mão, giữa mặt trời có đốm đen như quả mận, đến ngày Ất Tị thì tan.

Nước Liêu vì Trung Kinh mất mùa đói kém, bãi bỏ việc tuần hành ngự giá.

Ngày Ất Mùi, quyền Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ (鄧潤甫) tâu: "Từng có bề tôi chủ trương ‘hưng lợi’, bàn về lăng tẩm đế vương các đời trước, cho dân xin khai khẩn, cày cấy, mà Ty Tư nông lại cho phép. Vì thế các lăng nhà Đường đều bị chặt phá, nghe nói cây cối ở Chiêu lăng đã bị đốn sạch không còn. Lệnh đời Hy Ninh quy định lăng tẩm đế vương các đời trước đều cấm chặt củi, khai thác; gặp khi tế Giao thì sai quan đến tế, cái đức ý ấy có thể nói là sâu xa. Kẻ tiểu nhân tham bóc lột, không nghĩ đại thể, giả sử những gì họ được không đem lại lợi ích, đã là không nên, huống chi cái được lại rất ít ỏi nông cạn! Xin hạ lệnh cho các nơi thuộc hạt, theo lệ cũ cấm chặt củi, cày cấy, khai khẩn, và bãi chức, trách phạt những người khởi xướng." Chiếu rằng: "Các lăng nhà Đường, trừ những khoảnh ruộng đã được điều lệ định rõ cấm khai khẩn ra, còn lại những đất dân đã xin khai khẩn thì cho phép vẫn cày cấy như cũ, làm hộ giữ lăng; ngoài ra đều cấm."

Ngày Đinh Dậu, chiếu: "Các châu mỗi năm vào tháng 10 sai quan kiểm tra những người già yếu, bệnh tật, nghèo khổ, không thể tự sống, ghi vào sổ, mỗi người mỗi ngày cấp gạo và đậu mỗi thứ 1 thăng, trẻ nhỏ thì cấp nửa, 3 ngày cấp 1 lần. Bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng 11, đến hết ngày cuối tháng 3 năm sau thì thôi."

Ngày Kỷ Hợi, Khu mật phó sứ Vương Thiệu (王韶) bị bãi chức. Thiệu bất đồng với Vương An Thạch, nhiều lần lấy cớ mẹ già xin về, Hoàng đế bảo An Thạch cố giữ lại. Khi có cuộc chinh phạt An Nam, Thiệu nói: "Việc lập châu Quảng Nguyên, thần cho là ham hư danh mà quên họa thực, người chấp chính lại nghi thần là châm biếm. Lúc mới khởi sự, thần hết sức tranh luận, muốn giảm sức dân, bớt chi tiêu, nhưng các đồng liêu không ai chịu nghe, đến nỗi lấy việc Hy, Hà mà bác bỏ thần. Bản ý của thần là không tốn kém triều đình mà có thể đến được Y Ô, Lô Cam, vốn không muốn lấy Hy, Hà làm lộ, lấy Hà, Mân lập châu. Nay ý kiến khác với mọi người, nếu không xin lui, ắt đến chỗ không dung." Thiệu vốn là người bịa đặt chuyện mở biên, đột ngột leo lên địa vị chấp chính, rồi lại đổ lỗi việc dùng binh tốn của cho triều đình, nên Hoàng đế không vui, cho làm Quan văn điện học sĩ, Hộ bộ thị lang, tri Hồng châu; lại vì trong biểu tạ ơn có lời oán trách, vô lễ, nên bị giáng chức xuống tri Ngạc châu.

Ngày Bính Ngọ, vì khôi phục được các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu và những châu khác, quần thần dâng biểu chúc mừng. Đặc xá nhẹ cho các châu quân thuộc Quảng Nam Tây lộ. Kinh lược An Nam đạo, Đô tổng quản, Tuyên phủ ty Kinh Hồ Hồ Nam lộ đều bị bãi. Quân mã hành doanh, trừ số lượng lưu lại phòng thủ thích đáng, còn lại đều cho về bản lộ. Những hộ ở phường, xóm, thôn, làng từng bị giặc đi qua, và những người vì tránh giặc mà mất nghiệp, cùng gia đình những người thổ đinh bị giết, năm ngoái đã được miễn thuế thì lại miễn thêm, năm nay cả 2 lần thuế và tiền dịch đã được miễn 2 kỳ thì lại miễn thêm 2 kỳ nữa. Những nhà có người bị giặc giết, nay còn lại đinh khẩu cô bần không thể tự sống, thì ở các châu quân sở tại mỗi ngày cấp gạo ăn. Đổi châu Quảng Nguyên làm Thuận châu.

Ban chiếu cho Lý Càn Đức (李乾德), cho phép theo lệ cũ vào cống, trả lại những dân khẩu bị bắt ở các vùng đất đã cắt. Trong cuộc chinh phạt này, Hoàng đế lệnh cho Trung thư, Khu mật viện kê đủ số quân mã hành doanh: quân 49.506 người, ngựa 4.690 con, trừ số bị bệnh và gặp sự cố, còn lại 23.400 người, 3.174 con ngựa.

Lấy Quách Quỳ (郭逵) làm phán Tầm châu, Triệu Tiết (趙禼) làm tri Quế châu. Vì việc chinh phạt Giao Chỉ, hai người lấy cớ bệnh mà về trước, Quỳ đã bị giáng, Tiết cũng vì không lập tức bình giặc, bị giáng làm Trực Long đồ các, tri Quế châu.

Ngày Mậu Thân, Tam ty tâu: "Phụng chiếu cùng Chế trí giải diêm sứ là Bì Công Bật (皮公弼) bàn kỹ lợi hại của phép dùng diêm sao ở Thiểm Tây mà trong ngoài bàn luận. Tệ hại của phép muối là do số diêm sao ở Hy, Hà vượt mức, diêm sao vượt mức nên giá diêm sao rẻ, giá diêm sao rẻ nên lương thảo đắt. Lại nữa, ở 3 lộ Đông, Tây, Nam, các châu huyện thông thương đều do quan quyền bán, nên thương nhân không đến. Như thế, phép muối không thể không đổi, việc quan bán không thể không bỏ. Nay muốn sửa đổi tệ cũ, tất phải thu lại diêm sao cũ, đóng dấu muối cũ, thi hành phép ‘thiếp nạp’, rồi từ ngày bắt đầu biến pháp, mua hết diêm sao cũ nhập quan. Những muối đã xin xuất, định hạn cho người tự khai báo, theo giá mới nộp tiền ‘thiếp nạp’ vào số muối đã đóng dấu, cấp công cứ. Điều lệ ghi rõ những việc thi hành. Phép cũ ở Đông Nam, mỗi tấm diêm sao không quá 3.500, diêm sao Tây muối mỗi tấm không quá 2.500, đều mua hết nhập quan. Trước hết lệnh cho thương nhân mang diêm sao đến Ty Nha muối ở Giải châu và các ao muối đối chiếu, đục khắc, rồi mới cho bán ở trong. Những muối đã xin xuất, định hạn cáo thưởng, cho phép thương nhân tự khai báo. Muối Đông Nam mỗi tấm ‘thiếp nạp’ 2.500 tiền, muối Tây mỗi tấm ‘thiếp nạp’ 3.000, đổi lấy công cứ, định hạn bán ra, bãi bỏ việc cấm bến, quan bán ở 2 nơi. Việc Ty Đề cử xuất bán muối đều theo giá tiền ‘thiếp nạp’ của khách, dùng để mua diêm sao cũ chi dụng, tùy ý khách, đối chiếu tính toán mà xin. Từ Ty Thẩm xét hạ xuống mẫu ấn gỗ chữ triện in trên tấm muối, giao cho các châu quân khắc, giao cho quan được sai kiểm điểm, đóng dấu, cấp cho ‘dẫn’ mới. Ở các nơi thông thương thuộc Kinh Tây Nam, Kinh Tây Bắc, Tần Phượng, Hà Đông lộ, trong Kinh và địa giới phủ Khai Phong, mỗi nơi cử 1 viên quan. Muối nguyên tấm, định trong 10 ngày phải do quan tự khai báo, đóng dấu, ‘thiếp nạp’, giao cho quan được sai kiểm đếm, dùng số hiệu ấn, hủy bỏ ‘dẫn’ cũ, cấp ‘dẫn’ mới, tiền ‘thiếp nạp’ cho phép dùng để bù trừ. Nếu thương nhân muốn dùng diêm sao cũ theo giá định mà đổi lấy tiền ‘thiếp nạp’ muối, thì cho phép, nộp ở bất cứ nơi nào, sau khi gạch bỏ, niêm phong, gửi đến Chế trí ty. Nếu muối lậu suy giảm, thì muối quan tự nhiên có thể lưu thông. Muối 2 lộ mà dân xin xuất, ước chừng không dưới 350.000 tấm, đợi đến khi dân chuyển đổi, ước cần 1 năm. Lo vì vùng biên chưa thu được tiền muối theo phép mới, lương thảo sẽ thiếu, xin tạm lấy số thóc còn thiếu do đổi tiền công năm ngoái, tính theo giá vật mà vay dùng làm quân lương, đợi khi tiền muối thu vào, sẽ chi trả lại theo số. Ở các châu quân, huyện, trấn thông thương, cuối năm, giao cho Chuyển vận, Đề điểm ty căn cứ số hộ dân dưới quyền, cùng với số ‘dẫn’ muối thương nhân nộp, ghi số muối bán làm chuẩn, so sánh tăng giảm, theo điều lệ ở các lộ Giang, Hoài bán muối rượu mà thưởng phạt." Chiếu rằng: "Trừ những nơi quan bán muối do Ty Đề cử xuất bán giải diêm đã có chỉ huy riêng, và muối Ty Thị dịch đã mua, cũng theo lệ khách ‘thiếp nạp’ giá tiền, còn lại theo như điều đã định."

Tháng 3, ngày Tân Dậu, chia sai các phụ thần cầu mưa ở Giao, Miếu, Xã Tắc, lại chiếu cho phủ Khai Phong, các Ty Chuyển vận, Đề điểm hình ngục ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, đều tìm hỏi các danh sơn linh từ, giao cho trưởng quan đến cầu đảo.

Ngày Bính Dần, Tam ty tâu: "Xem xét và lại hỏi kỹ thương nhân, từ trước đến nay, những nơi sản xuất tiểu diêm và vùng giáp ranh địa phận tiểu muối Kinh Đông, Hà Bắc, như các châu Chân, Bộc, Tế, Đan, Tào, Hoài, Nam Kinh và trong địa giới phủ Khai Phong là 9 huyện Dương Vũ, Toan Táo, Phong Khâu, Khảo Thành, Đông Minh, Bạch Mã, Trường Nguyên, Tố Thành, Vị Thành, nếu cho thông thương, tất bị muối ngoài và tiểu muối xâm lấn, việc buôn bán không thông. Nên theo lệ cũ để quan tự xuất bán, vẫn chiêu tập thương nhân vào mua trong và ngoài. Còn các châu quân Hà Dương, Đồng, Hoa, Giải châu, Hà Trung, Thẩm phủ và trong địa giới phủ Khai Phong là 11 huyện Trần Lưu, Ung Khâu, Tương Ấp, Trung Mâu, Quản Thành, Úy Thị, Yêm Lăng, Phù Câu, Thái Khang, Hàm Bình, Tân Trịnh, thì tạm cho thông thương, đợi mỗi tháng đối chiếu số ‘dẫn’ muối thương nhân nộp với lợi tức quan bán, nếu không chênh lệch nhiều thì lập làm phép định, nếu chênh lệch nhiều, hoặc không đủ mức thu hàng năm, thì theo lệ cũ để quan bán." Hoàng đế theo đó.

Trước đây, Trương Cảnh Ôn (張景溫) làm Đề cử bán muối, tăng giá muối khá nhiều, dân không chịu mua, bèn bắt dân mỗi ngày phải mua, tùy giàu nghèo, nghề nghiệp mà định số khác nhau. Ai mua bán muối lậu, thì trọng thưởng người tố cáo, lấy tài sản nhà phạm nhân sung làm phần thưởng. Dân mua muối quan, ăn không hết, để qua đêm, cũng xử như muối lậu, dân gian oán giận xôn xao. Mỗi tấm diêm sao trước giá 6.000, đến nay chỉ hơn 2.000, thương nhân không đem thóc vào, kho biên bị thiếu. Triều đình nghi ngờ, triệu Chuyển vận sứ Thiểm Tây là Bì Công Bật vào bàn việc này, Công Bật hết sức trình bày việc quan bán muối là bất tiện, chiếu cho cùng Tam ty bàn. Thẩm Khoát (沈括) ở Tam ty, tuy không thể bác được ý kiến Công Bật, nhưng Vương An Thạch đang chủ trương theo Cảnh Ôn, Khoát muốn hợp ý An Thạch, bèn nói rằng nếu cho thông thương, thì mỗi năm mất hơn 20 vạn quan tiền do quan bán. Tuy xin cho 11 huyện Quản Thành và các huyện khác, cùng 6 châu phủ Nam Kinh, Mạnh, Thẩm, Đồng, Hoa, Vệ được thông thương, nhưng Trung thư rốt cuộc không thi hành. Sau khi An Thạch rời chức, Khoát mới cùng Công Bật cùng tâu rằng việc quan bán muối không thể không bỏ, bèn chiếu cho phép 6 châu phủ Mạnh, Thẩm, Đồng, Hoa, Giải, Hà Trung và 11 huyện Trần Lưu cùng thông thương, còn lại vẫn quan bán như cũ.

Ngày Nhâm Thân, chiếu cho các châu huyện bắt châu chấu.

Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Tị, lại đặt Hiến châu.

Khu mật trực học sĩ, Cấp sự trung, tri Định châu là Tiết Hướng (薛向) được bổ làm Công bộ thị lang, lần thứ hai giữ chức này. Hướng từ chối chức mới, chiếu không cho. Theo lệ cũ, chỉ khi cựu chấp chính từ chức mới ban chiếu; việc hai tỉnh ban chiếu, bắt đầu từ Hướng.

Ban đầu, sứ nước Liêu đến xin đất bị giữ lại ở quán dịch đã lâu, nhiều lần nói lời vô lễ. Biên thùy tâu rằng Vân, Ứng tập trung binh, sửa đường Trác, Dịch, cho rằng người phương Bắc có dấu hiệu bội ước, nhiều lần chiếu cho Hướng xét thực hư. Hướng về tâu: "Người Liêu muốn sớm định việc phân giới, nên bày thế hư trương để lay động Trung Quốc. Sứ giả sợ triều đình không theo lời xin, nên nói lời ngạo mạn, mong cầu may mà thành. Vả lại, nếu binh đến, thì không sửa đường." Sau quả đúng như lời Hướng.

Ngày Quý Mùi, Trung thư môn hạ tâu: "Những người mới đỗ Minh pháp xuất thân, mùa thu năm ấy lấy bản nghiệp thi Trung Minh pháp, đến nỗi có người theo hai bậc mà được gia ân, ân trạch quá hậu. Nay muốn những người ứng thí Minh pháp đỗ, vào thi Trung Minh pháp, trừ hạng đỗ đệ nhất được bổ làm quan hình pháp và theo lệ được gia ân, còn lại chỉ miễn thi, không gia ân nữa." Hoàng đế theo đó.

Ngày Ất Dậu, Liêu chúa đi thuyền trên sông Hắc Long.

Ngày Đinh Hợi, nước Vu Điền (于闐) vào cống.

Ngày Đinh Dậu, chiếu cho Lễ bộ: "Tiến sĩ theo lệ cũ thi sách 5 đạo. Lại, thân thích ‘đản miễn’ của Tổ tông đã được ban quan chức, cho phép khóa danh ứng thí; còn người không phải thân thích ‘đản miễn’, cho phép dự thi ở Quốc tử giám và Lễ bộ, lập riêng một giáp, thi 2 trường, lấy 5 phần làm ngạch, số người phát giải không quá 50. Điện thí cùng với tiến sĩ chính thức vào bảng, thi sách, lập riêng một mục khảo xét. Nhiều lần thi không đỗ, đến 40 tuổi, trình lên Trung thư xin định đoạt, tùy tài mà bổ dụng."

Ngày Quý Mão, Tam ty tâu: "Gần đây phụng chiếu, đem diêm sao theo phép cũ ở Đông Nam giao cho quan đặt trường ở 7 nơi trong Kinh và các nơi, mỗi tấm 3 quan 4 trăm, tạm vay 20 vạn quan tiền mặt ở Nội tàng khố để ứng phó việc thu mua, đợi khi tiền muối ‘thiếp nạp’ thu vào thì lần lượt trả lại. Sau đó lệnh cho Ty Thị dịch theo đó thu mua. Bản ty tâu rằng thương nhân ùn ùn đến ty nộp văn diêm sao, theo số đã mua, dùng hết hơn 59 vạn 3000 quan tiền, Ty Thẩm xét hoàn toàn thiếu tiền mặt, rất lo làm hại phép diêm sao. Muốn đem số văn diêm sao mà thương nhân xin bán trong tay, trừ những tờ đơn lẻ chỉ dùng diêm sao, không có kèm theo, thì đối chiếu rồi trả lại, lệnh cho đến các châu quân phía Tây, ở trường quan gần đó đối chiếu rồi bán, còn lại số diêm sao đều thu mua hết. Trong số tiền giá ấy, 3 phần trả lại tiền mặt, 7 phần theo giá diêm sao nhập biên, tính kỹ số tiền phải chi, cấp cho ‘dẫn’ mới. Những diêm sao phải ‘thiếp nạp’ mới, đợi khi chiếu chỉ ban xuống, từ Ty Thẩm xét gửi công văn cho Tam ban viện, sai 1 sứ thần đến Chế trí giải diêm ty nhận số diêm sao mới cần tiêu hủy, đến Ty Thị dịch ghi chép, đối chiếu, viết cấp cho thương nhân, lệnh đến nơi giải muối lĩnh hàng. Cốt yếu là mua hết diêm sao cũ trong dân gian, lại khiến thương nhân đổi được ‘dẫn’ mới lĩnh muối, kịp thời bán ra." Vua theo đó. Số diêm sao mới vẫn tính trong hạn ngạch diêm sao xuất ra năm Hy Ninh thứ 10.

Ngày Giáp Thìn, Kinh lược sứ Hà Đông là Hàn Cương (韓絳) tâu: "Lan châu và Hà Tân đều không có đất tiếp giáp biên giới nước Hạ, xin giảm số Trại chủ, lưu lại khoảng 5 người quân Thường trực, và bãi bỏ 17 trạm phà thượng, hạ Hà. Lại, cửa ải Thượng Bình tuy là nơi chặn giữ đường phà trọng yếu, nhưng cũng dựa vào hiểm trở sông Hoàng Hà, muốn chỉ lưu 1 viên Giám áp, 300 quân sĩ." Vua theo đó.

Tháng 5, ngày Canh Tuất mồng 1, Giám hai Kinh Trừ thu trúc mộc vụ, Thái tử Trung doãn Trình Hạo (程顥) đổi làm Thái thường thừa. Do tri Hà Nam phủ là Giả Xương Hành (賈昌衡) và những người khác tâu rằng Hạo thông suốt cổ kim, hạnh kiểm tu dưỡng trong sạch, đổi quan đã 8 năm, chưa từng xin khảo công.

Ngày Mậu Ngọ, chiếu tu soạn chính sử hai triều Nhân Tông, Anh Tông, lệnh Tể thần Ngô Sung (吳充) đề cử, lấy Long đồ các trực học sĩ Tống Mẫn Cầu (宋敏求) làm Tu sử, Tập hiền viện học sĩ Tô Tùng (蘇頌) đồng Tu sử, Tập hiền hiệu lý Vương Tồn (王存), Hoàng Lý (黃履), Lâm Hy (林希) đều làm Biên tu quan.

Ngày Quý Hợi, tri Việt châu, Tư chính điện đại học sĩ Triệu Biện (趙抃) đổi làm tri Hàng châu. Khi Biện tri Việt châu, Lưỡng Chiết hạn hán, châu chấu, giá gạo tăng vọt, người chết đói chiếm 5, 6 phần 10. Các châu đều dán yết ở đường cái, đặt thưởng cáo, cấm người tăng giá gạo. Chỉ riêng Bộn dán yết ở đường cái, lệnh cho ai có gạo được tùy ý tăng giá mà bán. Thế là thương nhân chở gạo từ các châu ùn ùn kéo đến Việt châu, giá gạo lại rẻ, dân không ai chết đói.

Trước đó, Hoài, Chiết mất mùa, chiếu xuất gạo nộp cống trong bản giới, bán rẻ dưới giá thị trường để cứu dân đói. Phát vận phó sứ Lư Bỉnh (盧秉) tâu: "Giá tuy rẻ, nhưng người nghèo rốt cuộc vẫn không mua được gạo. Xin trả lại vốn mua, đem toàn bộ số còn lại cứu tế dân lưu tán." Chiếu cho phép. Năm ấy dâng sổ tâu, Hoàng đế hỏi: "Nghe nói dân Sở, Hòa ăn châu chấu để sống, có thế chăng?" Bỉnh đáp: "Có. Dân đói quá, người chết chồng chất." Hoàng đế buồn bã nói: "Chỉ có Triệu Bộn vì trẫm mà nói, hợp với khanh." Trước đó, Phát vận ty vào tâu, phần nhiều dâng số dư thừa để cầu ân, chỉ riêng Bỉnh dùng 70 vạn mân tiền trả nợ cũ cho Tam ty, nhân đó tâu rằng: "Phát vận ty chỉ đốc thúc tài phú 6 lộ, kịp thời nộp lên, vốn không có dư thừa; những gì dâng lên, phần nhiều là số chính thức, xin dứt bỏ hẳn." Hoàng đế khen và nghe theo.

Ngày Bính Dần, chiếu cho Trưởng sử Trịnh châu là Sài Cổn (柴袞), lệnh cho Lưu nội thuyên bổ làm Chủ bạ hoặc Úy ở nơi xa. Cổn là cháu bốn đời của Chu Thế Tông, nhận mệnh đã 10 năm, xin bổ một chức nên vậy.

Ngày Canh Ngọ, chiếu: "Thị ngự sử tri tạp sự Thái Xác (蔡確), tri Gián viện Hoàng Lý (黃履), định đoạt việc lợi hại, đúng sai, người nào quanh co không thực trong việc vận hà ở Vệ châu và nạo vét sông Hoàng Hà, thì hặc tội tâu lên. Nếu cần phải đến nơi xét nghiệm, thì bớt 1 viên quan và xin chỉ cho phái nội thị cùng đi."

Ban đầu, sau khi Hùng Bản (熊本) nhận mệnh, cùng với Chủ bạ Đô thủy giám là Trần Hựu Phủ (陳祐甫), Chuyển vận sứ Hà Bắc là Trần Tri Kiệm (陳知儉) cùng tra xét, các đê điều nói: "Năm thứ 8, nước ở sông cũ giảm 3 thước, chưa nạo vét đến Xuyên Bả thì đã tăng 3 thước, khi Bả đến lại tăng 1 thước. Hơn nữa, trong 10 năm trước đó, nước đều mùa hạ tràn, mùa thu lại, không chỉ riêng năm này, nước rút thật không phải do Bả." Bản và những người khác bèn tập hợp 15 người ở huyện Lâm Thanh, Quán Thị để trách cứ, và căn cứ vào sổ thủy lịch trên đê, liền dùng Bả thử nghiệm ở bờ nam, tuy có tăng sâu vài tấc, nhưng sáng hôm sau đo lại, đã không khác gì trước khi nạo vét. Lại hỏi ý kiến người bàn luận, đều cho rằng việc mở vận hà chỉ tốn kém mà không lợi, lại thành họa cho quan và dân. Bèn cho lời tâu của Văn Ngạn Bác (文彥博) là đúng, xin bãi bỏ Ty Nạo vét Xuyên.

Lúc ấy, Phạm Tử Uyên (范子淵) ở Kinh sư, nghe trước việc này, vội vào chầu tâu: "Hùng Bản, Trần Hựu Phủ cho rằng Vương An Thạch đã ra, Văn Ngạn Bác ắt sẽ làm tướng, nên phụ họa ý ông ta, cho rằng Xuyên Bả là bất tiện. Thần nghe Bản phụng mệnh tra xét, lại đến bái kiến Ngạn Bác, cùng ăn uống với Ngạn Bác, Hựu Phủ, Tri Kiệm đều dự, rồi đóng cửa nói chuyện riêng. Nay những gì tâu ắt không công bằng. Lại xem ý Ngạn Bác, không chỉ nói về Xuyên Bả mà thôi. Nếu bệ hạ nghe lời ông ta, thiên hạ những người nói tân pháp bất tiện ắt sẽ nổi lên như ong, pháp mà bệ hạ lập sẽ hỏng lớn." Hoàng đế hơi bị lời ấy làm dao động, chiếu đem tấu chương của Bản và những người khác giao cho Đô thủy giám và Ngoại giám thừa ty. Tử Uyên bèn tố cáo Bản và những người khác rằng dùng thủy lịch bờ bắc tháng 7 để định mực nước sông bờ nam tháng 5, lại không đều đến sông xem xét lợi hại, và phủ Đại Danh đã từng bảo đảm bằng công văn về lợi ích của việc dùng Bả nạo vét 2 nhánh sông, mà Bản và những người khác chỉ lấy hơn 4.700 tờ văn thư của Ty Nạo vét sông, chưa từng lấy văn thư của An phủ ty, Chuyển vận ty phủ Đại Danh để đối chiếu. Lại Thái Xác cũng hặc tội Bản phụng mệnh không cẩn thận, nghị luận không công bằng, xin lại giao cho quan khác định đoạt phải trái. Vì thế mới giao cho Khắc và Lý, lập tức đặt ngục ở Ngự sử đài để tra xét.

Đồng Đề cử công việc trà trường các lộ Thành Đô phủ là Bồ Tông Mẫn (蒲宗閔) tâu: "Thuyền của bản ty bán muối giải diêm, đã được đổi phép, theo lệ cũ cho thông thương. Ngoài ra còn có phép trà, sự việc liên quan, cần phải sửa đổi. Mỗi năm muốn phát 40.000 thồ trà đến Tần châu, Hy, Hà lộ, bán theo giá thị trường, vẫn nhận định số tiền thuế lãi, để ứng phó việc đổi ngựa, mua lương thảo. Còn dân đường Xuyên, Hiệp ăn trà, cho phép các trường tùy theo giá thị trường mà tăng giảm thu mua, mỗi quan thu lãi 1 phần khi bán, vẫn theo lệ nộp tiền ‘trường dẫn’ theo số quan. Các châu quân Phượng châu, Phượng Tường, Vĩnh Hưng quân, Hoàn Khánh lộ cũng theo lệ cũ làm nơi buôn bán, chia cho thương nhân đến các trà trường trong Xuyên trung tính toán xin buôn bán." Tri Bành châu Lữ Đào (呂陶) cũng tâu rằng quan trường mua trà, làm thiệt hại vườn trà, có khi dẫn đến kiện tụng và gây náo loạn. Liền chiếu cho các trà trường trong Xuyên trung miễn thu 3 phần lãi.

Ngày Bính Thìn, ở các huyện Ngọc Điền, An Thứ nước Liêu có châu chấu hại lúa.

Ngày Kỷ Tị, Liêu chúa đóng quân ở núi Trú Độc, yến tiệc quần thần. Liêu chúa nói: "Tiên đế dùng Nhân Tiên, Hoa Cát là vì họ hiền trí. Trẫm có Nhân Kiệt, Di Tốn, không kém Nhân Tiên, Hoa Cát." Uống rượu vui đến đêm mới thôi.

Ngày Giáp Tuất, sao Thái Bạch hiện ban ngày.

Thái tử nước Liêu từ sau biến cố của Hoàng hậu mẹ mình, nỗi lo hiện rõ trên nét mặt. Đảng của Da Luật Di Tốn, vì việc phế lập Hoàng hậu đều do mưu của y, nên vui mừng chúc tụng nhau, tha hồ tung lời gièm pha, phỉ báng, bọn trung lương bị đuổi gần hết. Hộ vệ Thái bảo Tiêu Tích Sa (蕭錫沙) lanh lợi, giỏi dò xét ý người, nhiều lần ra vào nhà Di Tốn, hễ thấy triều thần nào không theo thì bèn bới móc khiến họ bị đuổi, Tích Sa được thăng làm Điện tiền phó kiểm điểm. Gặp lúc Hộ vệ Tiêu Hòa Khắc (蕭和克) mưu giết Di Tốn bị phát giác, Di Tốn trói giam, tra khảo không nhận, đày ra biên. Tích Sa nói với Di Tốn: "Nay Thái tử còn đó, thần dân hướng lòng về, Đại vương vốn không có chỗ dựa vững chắc, lại thêm mối oán vu cáo Hoàng hậu, sau này Thái tử lên ngôi, Đại vương sẽ đứng ở đâu? Nên tính kỹ." Di Tốn nói: "Ta lo điều này đã lâu." Đêm, triệu đảng là Tiêu Đức Lý Đặc (蕭德哩特) đến, mưu tính cách vu hãm Thái tử. Ngày Ất Hợi, Di Tốn sai đảng là Hộ vệ Thái bảo Da Luật Tra Lạt (耶律扎喇) và những người khác cáo với Đô đốc phủ Da Luật Tát Lạt (耶律薩喇), Khu mật sứ Tiêu Tô Tát (蕭蘇薩) rằng họ mưu lập Thái tử. Liêu chúa lệnh tra xét, không có chứng cứ, bèn cho Tát Lạt ra làm Tiết độ sứ Thủy Bình quân, Tô Tát làm Lưu thủ Thượng Kinh, đánh roi 6 người Hộ vệ, những người khác đều đày ra biên.

Ngày Bính Tý, nước Liêu lấy Chiêu thảo sứ Tây Bắc lộ, Liêu Tây quận vương Tiêu Hô Lý Ngạch (蕭呼哩額) làm Bắc phủ Tể tướng kiêm Tri Khiết Đan hành cung Đô đốc phủ sự. Hô Lý Ngạch là cháu nội Hiếu Mục, khéo nịnh, hoạt kê, lấy Trịnh quốc công chúa, được phong Phò mã đô úy. Ban đầu bất hòa với Da Luật Di Tốn, bị đưa ra làm Tiết độ sứ Ninh Viễn quân. Về sau Hô Lý Ngạch đoán biết ý Di Tốn, hết lòng phụng sự; Di Tốn muốn kéo làm tay chân đắc lực, nên mới có sự thăng chức này.

Ngày Đinh Sửu, chiếu cho sứ thần đổi văn tư, thi 10 đạo đại nghĩa Luật lệnh, thông 8 đạo là thượng, 6 đạo là thứ, 4 đạo là thứ nữa, đều là hợp cách, Trung thư xin chỉ.

Ngày Mậu Dần, nước Liêu chiếu cáo rằng ai tố cáo kẻ mưu nghịch sẽ được trọng thưởng, đó là mưu của Da Luật Di Tốn. Lúc ấy có Da Luật Nạp Lỗ (耶律喏嚕) và em là Ô Dã (烏頁) đều là đảng của Di Tốn, đương thời gọi là "hai tên giặc".

Tháng 6, ngày Kỷ Mão mồng 1, Da Luật Di Tốn sai bè đảng là Bài ấn lang quân Tiêu Ngạch Đô Ôn (蕭額都溫) đến phòng của chú là Da Luật Thác Bột Gia (耶律托卜嘉) tâu gấp rằng: "Trước đây những điều Da Luật Tra Lạt cáo về Tát Lạt và những người khác đều là thực, thần cũng cùng mưu, vốn muốn giết Di Tốn mà lập Thái tử. Nếu thần và những người khác không nói, e sau này việc rõ ra sẽ bị liên lụy." Liêu chúa tin lời ấy, đánh roi Thái tử, giam vào phòng riêng, lệnh cho Di Tốn cùng Da Luật Hiếu Kiệt (耶律孝傑), Da Luật Trọng Hỉ (耶律仲禧), Tiêu Hô Lý Ngạch, Dương Tuân Húc (楊遵勖), Da Luật Diên Cách (耶律延格), Tiêu Tích Sa tra xét. Thái tử trình bày hết nỗi oan, nói với Diên Cách: "Bề trên chỉ có một mình ta là con, nay đã làm Thái tử, còn cầu gì nữa! Ông với ta là anh em kết nghĩa, nên nghĩ đến người vô tội, tỏ bày ý ta với bề trên." Tiêu Tích Sa nghe vậy, nói với Diên Cách: "Nếu tâu như thế, thì đại sự hỏng rồi; nên đổi lời thành nhận tội." Diên Cách vào, theo lời Tích Sa mà tâu, Liêu chúa nổi giận. Trong ngoài biết Thái tử bị oan, không ai dám nói, chỉ có Bắc viện Khu mật phó sứ Tiêu Duy Tín (蕭惟信) khẩn thiết can gián, Liêu chúa không nghe. Di Tốn và những người khác truy xét đảng của Thái tử, bắt Bắc viện Tuyên huy sứ Da Luật Thác Bột Gia, Hán nhân Hành cung Đô đốc phủ Tiêu Thác Bột Gia (蕭托卜嘉) và những người khác giam ngục, không chịu nổi tra tấn, đều phải nhận tội. Di Tốn sợ Liêu chúa còn nghi, bèn dẫn Thác Bột Gia và những người khác ra đình tra hỏi, bắt mỗi người mang gông nặng, dây buộc cổ, không thở nổi; mọi người không chịu nổi cực hình, chỉ cầu chết cho nhanh. Di Tốn bèn vào tâu: "Không có lời nào khác." Liền giết Tiêu Thác Bột Gia, Da Luật Thác Bột Gia và em là Trần Lưu, cùng các quan túc trực Đông cung, sai sứ giết Tiết độ sứ Thủy Bình quân Da Luật Tát Lạt, Lưu thủ Thượng Kinh Tiêu Tô Tát và các con, bắt Tiêu Nham Thọ (蕭岩壽), Tiêu Hòa Khắc đến Kinh, giết. Lúc ấy những người bị liên lụy giết hại rất nhiều, giữa mùa hè, xác không được chôn, đất bốc mùi hôi. Da Luật Mạnh Giản (耶律孟簡) bị đày đến Bảo châu.

Ngày Nhâm Ngọ, nước Chú Điện (注輦) sai sứ vào triều cống.

Ngày Quý Mùi, chiếu: "Ở Nam Kinh, các châu Vận, Duyện và các châu, cùng các huyện Thần Lộc thuộc Hình châu, Kê Trạch, Bình Ân, Phì Hương thuộc Minh châu, trộm cướp đều dùng luật nặng."

Ngày Bính Tuất, Liêu phế Thái tử Tuấn (浚) làm thứ nhân, giam ở Thượng Kinh. Khi Thái tử sắp đi, nói: "Ta có tội gì mà đến nỗi thế này?" Tiêu Tích Sa (蕭錫沙) quát bảo lên xe, sai vệ sĩ đóng chặt cửa xe rồi đi. Tiêu Đức Lý Đặc (蕭德哩特) giám tống Thái tử, lúc ấy luôn giục đi gấp, không cho xuống xe, trong việc đi đứng ăn uống, nhiều lần thêm điều khinh nhục, đến nơi thì xây tường bao quanh mà giam. Tây Nam diện chiêu thảo sứ Ngô vương Tiêu Hãn Gia Nỗ (蕭罕嘉努) dâng thư nói Thái tử bị oan, nhưng không được trả lời.

Ngày Bính Thân, Tri chế cáo Tôn Thù (孫洙) tâu: "Năm Hy Ninh thứ 4, những người dâng lời bàn đều lấy làm lo rằng chế cáo quá mức tâng bốc, cho rằng việc ma khám thăng quan, vốn không có công tích, không nên chuyên dùng lời huấn dụ. Bèn soạn định điều lệ, các bản ma khám đều dùng lời văn nhất định; văn thần từ chức Đãi chế, võ thần từ Cáp môn sứ trở lên, mới được đặc mệnh thảo chế, còn lại đều dùng 4 câu định từ. Thành ra quần thần tuy trước sau thăng quan mỗi người mỗi khác, mà cùng một lời; người giữ chức điển cáo tuy họ tên khác nhau, mà cùng dùng một chế; trong một nhà, người được bổ quan có mấy người, văn võ tuy khác, mà đều làm một thể. Đến như việc trí sĩ, tặng quan, tiến cử, thứ phục, tông thất ban tên, tông phụ phong ấp, lời văn trai sớ các loại, tuy tên gọi, thể loại tản mác khác nhau, mà đều gò bó theo một luật, năm năm tuân dùng, chẳng phải là cách để huấn dụ bách quan, ban chiếu cho đời sau. Điển chương đời trước, cố sự bản triều, chưa từng có việc ấy. Bệ hạ thiên tư thần thánh, lời nói thành điển mô, thế mà các thần điển cáo lại cẩu thả giản lược như vậy, há xứng với ý nghĩa minh chiếu dùng để lập nên chế độ một đời sao! Cúi mong đều cho tùy việc mà soạn thuật, chỉ không được quá mức tâng bốc mà sai mất sự thực." Chiếu: "Từ nay, lời văn do Xá nhân viện soạn, từ Thiếu khanh giám trở xuống, các việc tấu tiến, tiến cử, thứ phong, mỗi lần gặp đại lễ thì đổi một lần; ân trạch cử nhân, mỗi khoa trường thì đổi một lần; phong tông thất phụ nữ, tùy thời mà thảo chế; văn quan chuyển quan trí sĩ, cùng tuyển nhân đổi làm Kinh triều quan, Tri huyện, đều tùy theo bậc mà soạn định." Về sau Xá nhân viện lại xin: "Bách quan phong tặng, những người từng giữ chức Đãi chế, Quan sát sứ trở lên, con cái được phong tặng, đều tùy việc mà soạn riêng." Hoàng đế cho theo.

Ngày Tân Sửu, Khu mật viện tâu: "Nghe ở Ung châu, Khâm châu, bọn Động đinh, người của chúng khá dũng mãnh, chỉ vì huấn luyện chưa tới nơi, khích lệ không có phương pháp. Muốn giao cho Kinh lược ty tuyển chọn những người có tài võ, liêm khiết, giỏi việc làm Đô ty, Tuần kiểm các chức, để trông coi huấn luyện, mỗi quý chia nhau đi khám duyệt. Cuối năm, mỗi động kê rõ số người võ nghệ tinh mạnh, theo thứ bậc của thủ lĩnh mà cấp bổng; quan Đề cử căn cứ số người võ nghệ tinh mạnh được 5 phần trở lên mà bàn việc ban thưởng. Lại cho 5 người ở gần nhau kết làm 1 bảo, 5 bảo ở gần nhau kết làm 1 đội. Mỗi lần khám duyệt, bảo, đội đều nương tựa lẫn nhau; đến khi chiến đấu, cứu giúp lẫn nhau. Chia dũng nhát làm 3 bậc: có chiến công hoặc võ nghệ xuất chúng là thượng đẳng, được miễn sai dịch; người tài năng nhanh nhẹn là trung đẳng, được miễn khoa phối; còn lại là hạ đẳng. Ngày thường không trở ngại việc làm ruộng, học tập võ nghệ, khi quan Đề cử đến khám duyệt, thì tập hợp một thôn mà khảo nghiệm, không được tụ tập sẵn ở biên cảnh. Nếu có trộm cướp, lệnh cho thủ lĩnh liên đới báo cáo." Hoàng đế cho theo.

Ngày Nhâm Dần, Tam ty tâu việc đúc đại tiền, xin tạm theo như ngạch cũ, từ nay về sau nếu có đúc thêm, xin trừ các lộ Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Đông ra, các lộ khác đều đúc tiểu tiền. Lại tâu: Chuyển vận sứ Hà Bắc Tây lộ xin đặt Giám ở Hình, Từ châu, đúc 10 vạn quan thiết tiền "chiết nhị", nay xét muốn đúc 10 vạn quan thiết tiền "chiết nhị" ở Vĩnh Hưng quân lộ, rồi ở Hà Bắc Tây lộ đúc thêm đại đồng tiền. Đều được cho theo.

Ngày Đinh Mùi, đặt Thiết thành bảo ở Mân châu.

Ngày Mậu Thân, nước Liêu sai sứ đi xét các ngục ở Ngũ Kinh chư đạo.

Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Hợi, nước Liêu ban thưởng cho những người tố cáo mưu phế lập: Hộ vệ Thái bảo Trát Lạt (劄喇) được gia phong Trấn quốc đại tướng quân, được dự vào hàng tuyển bổ Tiết độ sứ các châu biên; Chỉ hậu lang quân Da Luật Thác Bột Gia (耶律托卜嘉) được gia phong Giám môn vệ Thượng tướng quân; Bài ấn lang quân Tiêu Ngạch Đô Ôn (蕭額都溫) làm Thủy Bình quân Tiết độ sứ. Ngạch Đô Ôn chính là em của Tiêu Thác Bột Gia. Trước đó, Tiêu Thác Bột Gia lấy Chiêu quốc công chúa, công chúa là con do Ý Đức hoàng hậu sinh, nên Tiêu Thác Bột Gia thân với Thái tử; Da Luật Di Tốn (耶律伊遜) ghen ghét, rốt cuộc khiến đến gặp nạn. Ngạch Đô Ôn thấy anh chết, bèn muốn ép lấy công chúa; Liêu chúa cho phép, phong làm Phò mã đô úy. Công chúa cho rằng Ngạch Đô Ôn là đảng của Di Tốn, nên ghét lắm.

Nước Liêu dời dư đảng của Thái tử ra biên. Da Luật Nỗ (耶律努) vốn có hiềm khích với Da Luật Di Tốn, cũng nằm trong số bị dời. Vợ ông là Tiêu Ý Tân (蕭意辛) là con gái Hô Đồ công chúa, Liêu chúa vì cớ công chúa, muốn khiến Ý Tân ly hôn với Nỗ. Ý Tân từ chối, nói: "Bệ hạ vì mối thân sơ hở của thiếp mà cho khỏi bị lưu đày, thực là ân đức như trời đất. Nhưng nghĩa vợ chồng, sống chết lấy đó làm trọng. Thiếp từ năm cài trâm theo Nỗ, một sớm lâm nạn, bỗng chốc chia lìa, trái đạo cương thường, khác gì cầm thú! Mong bệ hạ thương xót, cho thiếp cùng đi với Nỗ, thiếp dẫu chết cũng không hận!" Liêu chúa cho theo. Ý Tân ở nơi lưu đày, tự tay làm việc sai dịch, không lộ vẻ khó nhọc, thờ chồng cung kính còn hơn trước.

Di Tốn nhớ mối hận xưa, vì nữ tử Thường Cách (常格) từng làm thơ châm biếm mình, muốn nhân việc Thái tử mà vu tội, tra xét không có dấu vết, nên được thoát. Gặp lúc anh của nàng là Da Luật Địch Lô (耶律迪嚕) bị giáng chức đến Trấn châu, Thường Cách đi theo. Khi ấy triều thần nín thở mà thờ Di Tốn, việc Thái tử bị phế, ai nấy vẫn phô trương như thường ngày. Thường Cách ở nơi bị giáng, thường mặc áo vải, ăn uống đạm bạc. Có người hỏi: "Sao tự khổ mình như thế?" Thường Cách nói: "Hoàng tự vô tội mà bị phế, bọn ta há có thể ăn ngon ngủ yên sao?" Người nghe đều hổ thẹn.

Phó sứ Bắc viện Khu mật nước Liêu Tiêu Hãn Gia (蕭罕嘉) vạch kế đào hào Thiên Trì ở biên giới Tây Nam, lập bảo trại, chỉnh đốn cương giới, khắc đá rồi về. Ngày Nhâm Tý, thăng làm Hán nhân Hành cung đô bố trí sứ.

Ngày Quý Sửu, Viễn châu Đoàn luyện thôi quan Thiệu Ung (邵雍) mất. Ung học Dịch với Lý Chi Tài (李之才), đào sâu tìm ẩn, phát huy ý chỉ "vô thiên" của Phục Hy, trước tác hơn 10 vạn chữ. Phú Bật, Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ ở Lạc Dương, rất kính trọng Ung, mua vườn nhà cho, Ung đặt tên chỗ ở là An Lạc oa. Do tiến cử mà được bổ làm Tướng tác chủ bộ, sau bổ làm Viễn châu Đoàn luyện thôi quan, đều kiên quyết từ chối; đến khi nhận mệnh, rốt cuộc lấy cớ bệnh mà không đến nhiệm sở. Trình Di từng cùng ông nghị luận suốt ngày, lui ra than rằng: "Nghiêu Phu (堯夫) là học vấn ‘nội thánh ngoại vương’ vậy."

Ngày Giáp Dần, cầu mưa.

Chiếu: "Từ nay về sau, các châu quận thuộc Quảng Nam Tây lộ có khí hậu, thủy thổ xấu độc, đều phải sai y quan đến trông coi, nếu người giữ chức ngoài ngạch là Chỉ hậu nguyện đi thì cho phép."

Ngày Ất Mão, Hoàng đế bảo các phụ thần: "Ngày trước Nguyên Hạo (元昊) xưng hiệu trái phép, sai sứ dâng biểu xưng thần, lời lẽ còn khiêm tốn; triều đình không báo trước cho biết lẽ phải trái, mà vội cự tuyệt, thả cho dân biên, các bộ phiên đánh giặc. Vì thế Nguyên Hạo thường tự xưng là do chư Khương lập nên, không thể từ chối, xin với triều đình, bất đắc dĩ mà phản, quân Tây sư hễ đánh là bại, thiên hạ xao động, Nhân Tông hối hận. Khi Nguyên Hạo gửi thư xưng hiệu trái phép đến, Gián quan Ngô Dục (吳育) cho rằng man di khó có thể xử như kẻ phản thần của Trung Quốc, hoặc có thể hơi đổi tên hiệu đi. Người bàn luận đều cho là không phải, rốt cuộc làm khốn Trung Nguyên, khiến phải tăng tiền tặng, phong sách làm Hạ quốc chủ, thật đáng tiếc thay!"

Ngày Đinh Tị, Hàn lâm học sĩ, Quyền Tam ty sứ Thẩm Khoát (沈括) làm Tập hiền viện học sĩ, Tri Tuyên châu. Trước đó, Thị ngự sử Tri tạp sự Thái Khắc (蔡確) tâu: "Khoát dùng bạch trát tử đến gặp Ngô Sung (吳充) trình bày việc miễn dịch, cho rằng có thể thay đổi pháp lệnh, khiến dịch nhẹ trở lại theo lệ luân sai cũ. Khoát là cận thần thị tòng, đã thấy pháp lệnh triều đình có chỗ chưa tiện, mà không minh bạch dâng chương sớ, chỉ ở chỗ người chấp chính ngầm dâng lời ấy. Lại Khoát nhiều lần vâng mệnh đi sát phỏng, chức trách ở chỗ sắp đặt dịch pháp, khi ấy chỉ muốn giảm bớt tiền của hạ hộ, chưa từng nói khôi phục sai diêu. Nay không phải chức trách mà vội xin đổi pháp, trước sau trái ngược nhau. Pháp tân chính của triều đình, việc quy hoạch lớn nhỏ, Khoát không việc gì không dự, đối với dịch pháp giảng luận rất quen thuộc. Như việc ‘dịch nhẹ mà không có pháp hữu sai’, Khoát trước đây không cho là sai, mà nay lại cho là phải, ý của ông ta thực không khó hiểu. Bởi từ khi Vương An Thạch bị bãi tướng, Khoát sợ đại thần đối với pháp lệnh có chỗ sửa đổi, nên ngầm dâng lời này để dò xét ý họ, làm tư bản để phụ họa mà thôi. Vả lại, từ khi Khoát tự giữ việc tính toán đến nay, không có gì bổ ích, đối với kẻ dưới thì chỉ cốt lấy lòng, đối với bề trên thì chỉ cốt quan sát chờ đợi, trong ngoài đều truyền, thánh minh đều thấy rõ; mà ngầm dùng dị luận quấy nhiễu người chấp chính, muốn thay đổi một việc dịch pháp, lại càng hiển nhiên. Thần giữ chức đàn hặc tà gian, đâu dám im lặng né tránh! Cúi mong bệ hạ suy xét tình của Khoát, đặc biệt bãi miễn." Chiếu đem trát tử cho Khoát biết. Khoát liền dâng sớ đợi tội, có chiếu, lệnh Khoát cứ giữ chức. Khắc lại nói: "Khoát cho rằng dịch pháp có thể đổi, sao không nói vào lúc kiểm chính sát phỏng, mà lại nói vào lúc không phải việc chức trách? Không nói với bệ hạ, mà ngầm nói với người chấp chính? Ý của Khoát há ở pháp độ triều đình, chỉ muốn nương tựa đại thần, khéo mưu cho thân mình mà thôi. Cúi mong bệ hạ quyết đoán không nghi, định tội của Khoát." Vì thế mới có mệnh này.

Chiếu: "Các lộ mỗi năm dâng sổ khảo khóa ưu đẳng, trị trạng của Tri huyện, Huyện lệnh, giao cho Chủ phán quan thẩm tra, chọn người ưu nhất ghi vào sổ, nếu Thư lại Tư nông tự và quan Đề cử Thường bình có khuyết, thì chọn người ưu nhất sung chức; nếu trị trạng đặc biệt xuất sắc, hoặc tư cách, chức phận đã cao, cần phải đặc biệt thăng nhậm, thì tâu lên."

Ngày Tân Dậu, quần thần 5 lần dâng tôn hiệu là "Phụng Thiên hiến cổ Văn Vũ Nhân Hiếu hoàng đế". Không được cho.

Ngày Tân Mùi, Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý, Tri Hồ châu Cúc Chân Khanh (鞠真卿) làm Thái thường bác sĩ, Trực Bí các; do Tuyên huy Bắc viện sứ Vương Củng Thần, Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ tâu rằng Chân Khanh từ khi đổi quan đến khi vào triều đã 30 năm, không phải vì chưa được đặc ân mà chưa từng xin ma khám.

Hoàng đế ngự điện Tư Chính, Giám tu Quốc sử Ngô Sung dẫn Tu Quốc sử Tống Mẫn Cầu, Biên tu quan Vương Tồn, Hoàng Lý, Lâm Hy dâng bản thảo "Nhân Tông, Anh Tông kỷ". Hoàng đế mặc giày bốt, áo bào, Nội thị dâng án, Mẫn Cầu tiến lên đọc, Hoàng đế đứng nghe, hỏi han, đến cuối thiên mới ngồi.

Ngày Ất Hợi, giáng Tuyên huy Nam viện sứ, Hùng Vũ quân Lưu hậu Quách Tụy (郭逵) làm Tả vệ tướng quân, an trí ở Tây Kinh; Lại bộ viên ngoại lang, Thiên chương các Đãi chế Triệu Tiệp (趙禼) làm Tả chính ngôn, Trực Long đồ các, vẫn như cũ Tri Quế châu; do Ngự sử Tri tạp Thái Khắc tâu rằng Tụy kinh lý Nam An, lấy cớ bệnh mà về trước, Tiệp sắp đặt lương thảo trái phép, lại không lập tức bình giặc.

Tháng ấy, sông Hoàng Hà lại tràn ở Vệ châu Vương Cung và Kị huyện Thượng, Hạ tảo, Hoài châu Hoàng Tẩm, Hoạt châu Hàn thôn, ngày Ất Sửu, bèn vỡ lớn ở Sạn châu Tào thôn, dòng chảy phía bắc Sạn châu bị cắt đứt, sông chuyển về phía nam, chảy về phía đông tụ lại ở Trương Trạch bạc núi Lương Sơn, chia làm 2 nhánh: 1 nhánh hợp với Nam Thanh Hà đổ vào Hoài, 1 nhánh hợp với Bắc Thanh Hà đổ vào biển. Tổng cộng làm ngập 45 châu huyện, mà Bộc, Tề, Nhuận, Từ là nặng nhất, làm hỏng hơn 300.000 khoảnh ruộng. Sai sứ đi sửa đắp, ngăn lại.

Chiếu Thái thường lễ viện tiếp tục tu soạn "Lễ các tân biên".

Liêu chúa đi Thu Sơn, yết mộ Kính lăng.

Tháng 8, ngày Bính Tuất, chiếu bổ Giám sát ngự sử lý hành Hoàng Liêm (黃廉) làm Kinh Đông lộ Thể lượng an phủ. Liêm từng nói Đô kiểm chính Du Sung (俞充) kết giao với bọn hoạn quan, cầu may phú quý, không nên cho giúp việc ở nơi mọi người trông cậy; lại nói Vương Trung Chính (王中正) được dùng quá nặng, e thành hậu hoạn, lại mặt đối luận rất gắt. Hoàng đế nói: "Nhân tài vốn không cùng loại, chỉ xem điều khiển thế nào mà thôi." Liêm đáp: "Tuy vậy, thói xấu không thể để lớn dần. Thánh nhân cầm cương xa, nên bốn hung thần ở triều mà không bỏ thời thái bình. Họ đều là người tài khí vượt người, dùng thì hợp ý; nhưng vì lo cho đời sau, nên mới đày giết đó thôi." Hoàng đế nói: "Tạm gác việc này. Sông vỡ ở Tào thôn, Kinh Đông bị hại nặng nhất, nay giao việc ấy cho khanh."

Liêm nhận mệnh rồi, trước sau điều bày hơn 100 việc, đại lược là cho nước ở Trương Trạch bạc chảy ra đến Biện châu để giảm bớt cho Tề, Nhuận, mà giữa các châu Tế, Đan, Tào, Bộc, Tư, Tề, nước đọng đều chảy về chỗ trũng. Đối với các Thái thú, Huyện lệnh có thể cứu tai, nuôi dân, thì khuyến khích, vỗ về, khiến tùy công mà phát kho tàng, phủ khố để cứu tế những nơi không đủ. Nước chiếm nhà dân, chưa thể an cư làm việc, thì chọn chỗ đất cao cho tụ cư, đều khiến có nhà tránh nước. Những người đi xa chưa thể về, sai quan dời đến cấp cho, đều khiến có thóc. Các châu huyện bị ngập, miễn thuế, bỏ nợ, dân lưu tán đi qua, không được thu thuế tính toán. Sai quan vì họ mà chỉ đường, ai ở lại thì cấp ruộng, ai đi tiếp thì cấp lương; lo họ không có ruộng mà dời đi xa, nên cho mượn ruộng công mà khuyến khích cày cấy; sợ họ giết trâu ăn, nên cầm cố trâu tư mà cho tiền; ai bỏ con trai con gái ở đường thì thu dưỡng, người trai tráng mà đói thì chiêu mộ làm dịch. Đến khi xong việc, số dân đói được cứu sống là 253.000 khẩu, người trai tráng theo công mà ăn, lại có 27.000 người.

Ngày Mậu Tý, Trấn Nam quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Vương An Thạch lại dâng biểu, xin lấy bản chức sung Tập Hỉ quán sứ; chiếu không cho, lại sai em An Thạch là Quyền phát khiển Độ chi phán quan Vương An Thượng (安上) mang chiếu đến ban cho.

Ngày Kỷ Sửu, sai Tô Tụng (蘇頌) cùng những người khác sang chúc thọ sinh nhật nước Liêu. Tùng đến nước Liêu, gặp tiết Đông chí, lịch của nước ấy chậm hơn lịch Tống 1 ngày. Người phương Bắc hỏi: "Bên nào đúng?" Tùng nói: "Thuật toán của nhà làm lịch có chỗ khác nhau, nên nhanh chậm không giống, như lúc giờ Hợi tiết khí giao, vẫn là đêm nay, nếu quá mấy khắc, thì thuộc giờ Tý, là ngày mai. Hoặc trước hoặc sau, đều theo lịch của mình là được." Người phương Bắc cho là phải. Sứ về, tâu lại, Hoàng đế khen: "Trẫm từng nghĩ việc này, là chỗ khó xử nhất, lời đối của khanh rất hay." Nhân hỏi về núi sông, lòng người hướng về hay xa lánh, Tùng đáp: "Họ giảng hòa đã lâu, trên dưới yên ổn, chưa có ý chia lìa. Xưa Hán Vũ Đế lâu ngày nhọc nhằn chinh phạt, mà Hung Nô rốt cuộc không phục; đến đời Tuyên Đế, Hồ Hàn Thiền vu cúi đầu xưng phiên. Nhà Đường từ giữa đời về sau, Hà Nguyên rơi vào tay Thổ Phồn, Hiến Tông cảm khái có ý thu phục; đến đời Tuyên Tông, mới khiến Tam quan, Thất châu trở về tay hữu ty. Do đó mà xét, sự phản phục của ngoại quốc không thường, không hẳn do thịnh suy của Trung Quốc." Ý Tùng là có lời phúng gián, Hoàng đế cho là phải.

Ngày Canh Dần, Hán nhân Hành cung đô bố trí sứ nước Liêu Tiêu Hãn Gia vì đuổi heo mà ngã ngựa chết.

Ngày Tân Sửu, Quyền phát khiển Tam ty sứ Lý Thừa Chi (李承之) tâu: "Tam ty mấy năm gần đây, tài hóa thiếu thốn rất nặng, tính theo tháng mà chi cấp, còn lo không đủ. Trong khi thái bình hơn trăm năm, đúng lúc bệ hạ nối tiếp sáng rỡ mọi chính sự, mà quốc dụng như thế, há không nên lo sâu xa? Nước không có 3 năm tích trữ, thì không phải là nước, huống chi không có dự bị cho mấy tháng? Đó là lỗi của hữu ty thất chức, nhân nhượng tạm bợ. Chỉ mong suy nghĩ sâu về tầm quan trọng của quốc kế, chiếu cho các đại thần tay chân cùng mưu tính phương thuật trị tài lâu dài." Chiếu: "Tam ty sứ, phó cùng nhau tìm cầu phương thuật trị tài lâu dài, ghi rõ lợi hại, điều vạch tâu lên." Về sau Tam ty tâu: "Các nha môn ở Kinh sư, những khoản chi dùng thuộc tiền vật của Bộ, đều phải qua Tam ty. Các nha môn Phát vận, Chuyển vận, Đề cử đúc tiền, việc muối, cùng châu, huyện, đối với những việc thuộc quyền Tam ty, nếu trái lệnh, không làm tròn chức, cho phép tra xét đàn hặc; việc lý nặng, xin tâu trước rồi đổi chức; nếu chức sự làm tốt, xin ban thưởng thăng chức. Các lộ nộp cống không đủ, hoặc niên kế không đủ, cho phép chọn quan đến thể lượng. Hoặc do triều đình sai quan đi lại, cho phép tùy chỗ mà kiểm điểm tiền thóc công vụ." Đều được cho theo.

Liêu chúa lại yết Kính lăng.

Tháng ấy, sông Hoàng Hà vỡ ở Doanh Trạch tảo huyện Trịnh châu.

Tháng 9, ngày Canh Tuất, truy tặng Viễn châu Đoàn luyện thôi quan Thiệu Ung làm Bí thư tỉnh Trứ tác lang, ban thóc lụa. Do Tri Hà Nam phủ Giả Xương Hành (賈昌衡) tâu rằng hạnh kiểm của Ung vang ở hương lý, xin truy tặng, cấp tuất. Tể tướng Ngô Sung xin với Hoàng đế, ban thụy là Khang Tiết. Lúc đầu Ung cùng Thường Trật (常秩) được triệu cùng lúc, Ung rốt cuộc từ chối không ra, sĩ đại phu đều coi trọng.

Ngày Ất Mão, chiếu: "Các nha môn nhận được truyền tuyên, nội giáng, cùng tấu thỉnh và lời dụ mặt, nếu việc không có điều thức, phải trình Trung thư, Khu mật viện tâu lại. Những việc theo lệ không phải trình mà tự tiện trình, thì cứ theo chỗ phê thẳng Thánh chỉ mà chiếu sắc định tội; các phòng sơ suất không kiểm tra, nhận rồi thi hành, cũng như thế. Các văn thư dâng lên khi vào chầu, đều phê chuyển sang Trung thư, Khu mật viện, không được phê thẳng Thánh chỉ rồi gửi thẳng các nơi, kẻ trái lệnh, nha môn tiếp nhận phải dâng trả lại để tâu. Nếu là việc cầu xin ân trạch phi lý, hoặc xin giảm tội phạm, thì Trung thư, Khu mật viện đàn hặc."

Ngày Quý Hợi, lấy Đồn điền lang trung, Thị ngự sử Chu Doãn (周尹) làm Đề điểm Hình ngục Kinh Hồ Bắc lộ.

Trước đó, Doãn tâu: "Ở Thành Đô phủ lộ đặt trường để độc mua trà các châu, đều nộp vào quan, là hại lớn nhất cho công tư. Lúc đầu Lý Khỉ (李杞) khởi xướng phép tệ, cướp lợi dân chưa nhiều, nên họa còn hơi nhẹ. Đến khi Lưu Tá (劉佐) thay chức, tăng tiền lãi lên gấp đôi, không có phương thuật nào khác, chỉ cắt xén, bóc lột ở dưới, khiến dân không sống nổi. Đại để ở Thục, thì vườn hộ chịu khổ, ép cân lượng mà trả tiền, xâm lấn giá cả; ở Hê, Tần châu, thì giá quan quá cao, mà dân gian phạm pháp không thể cấm. Lại, vận chuyển không kịp, lãng phí người ngựa, chất chứa lâu ngày, gió mưa làm hư nát, vứt bỏ bên đường, như phân đất. Lại nơi đến không thông khách thương, chỉ nuôi bọn tiểu dân vô lại, kết bè kết đảng, cầm gậy buôn lậu, làm tổn thất thuế khóa. Trà ty nhận số ảo, lại tham ô nối tiếp, hình phạt ngày càng nhiều, gây hại mấy nghìn dặm, đáng lo sâu xa. Thần trước ở Kinh sư nghe truyền việc ấy, vì chưa rõ hết, đâu dám khinh suất bàn luận! Nay nhận mệnh vào Thục, nơi đến đều hỏi kỹ, mới biết việc mua trà hại rất lớn, có Tri Bành châu Lữ Đào (呂陶), Tri Thục châu Ngô Sư Mạnh (吳師孟) v.v. luận tấu, có thể tham khảo. Trước đây Khỉ, Tá nối nhau dâng phép hà khắc, liền được tin dùng, chưa từng xét kỹ; nay người bàn luận điều bày chỗ gặm nhấm, đều rõ ràng, mà chưa lập tức nghe theo. Sao lại dũng cảm trong việc cầu lợi, mà nhút nhát trong việc trừ hại? Xin chiếu hữu ty gấp xét tệ nạn độc mua trà, cúi theo dư luận, giảm bớt lo lắng cho Tây Nam." Lại nói: "Cúi xét ý triều đình, chưa muốn vội bỏ trà cấm, ắt vì ở Hê Hà lộ, việc mua ngựa hàng năm, trà là việc gấp nhất. Nhưng sau khi thông thương, số thuế trà các lộ cũ mỗi năm tổng cộng hơn 290.000 mân tiền, đã được phục lại như cũ, thì có thể giao cho Chuyển vận sứ các lộ một mặt quản nhận, ngoài việc nộp cho Hê Hà lộ, còn hiện nay trà quan ở các châu huyện, chất đống rất nhiều, đủ dùng mấy năm mua ngựa. Từ nay thương nhân buôn trà đến Tần châu, Hê Hà lộ, ắt có dự bị. Thần hỏi kỹ việc bỏ, sửa đổi phép, đều là điều thương nhân mong muốn. Mong sớm hạ lệnh cho bản lộ, từng nơi tra xét tận gốc. Điều thần tâu có thực, thì xin bỏ phép độc mua trà, cho thông thương mua bán để yên ổn phương xa." Doãn trở về, chưa đến Kinh đô thì có mệnh này.

Ngọc Điền huyện nước Liêu dâng lúa tốt nhiều bông.

Ngày Ất Sửu, chiếu đổi tên cửa Bắc thượng lưu Biện Hà là Tuyên Trạch. Cửa Nam hạ lưu Biện Hà cũ gọi là Thượng Thiện, cửa Bắc gọi là Thông Tân, cửa Nam Bắc thượng lưu đều gọi là Đại Thông, nên đổi tên nay. Cửa hạ lưu Ngũ Trượng Hà gọi là Thiện Lợi, còn cửa thượng lưu trước không có tên, ban tên là Vĩnh Thuận.

Ngày Mậu Thìn, Kinh lược ty Kinh Nguyên lộ tâu rằng Đức Thuận quân bắt được 14 người phiên bộ Tát Thiền (撒蟬) ở Tây giới của Vũ Tàng Hoa Ma (禹臧花麻) sai đến bán ngựa, chiếu lệnh Kinh lược ty định giá mà cấp tiền, an ủi rồi thả về. Có người nói: "Bọn Tát Thiền không phải bán ngựa, thực là gián điệp." Thái Diên Khánh (蔡延慶) nói: "Họ nghi, nên mới đến dò; bắt họ, là làm cho sự nghi của họ thành thực." Rốt cuộc vẫn thả về.

Ngày Nhâm Thân, nước Liêu tu sửa miếu Càn lăng.

Chiếu: "Trước đây Phạm Tử Uyên (范子淵) tâu dùng cào để nạo vét cồn cát bờ bắc đê Doanh Trạch, giải trừ thế nguy gấp bờ nam, bản đồ trạng đã giao cho Ty định đoạt chiếu hội." Hoàng đế đã lệnh cho Thái Khắc cùng những người khác định đoạt phải trái của Hùng Bản (熊本) và Tử Uyên, lại lệnh cho Phùng Tông Đạo (馮宗道) giám sát Tử Uyên dùng cào nạo vét Biện Hà. Tông Đạo đo đạc dòng Biện, có chỗ sâu hơn trước, có chỗ bị bùn cát bồi lấp mà nông hơn trước, có chỗ không tăng không giảm, đại để 3 phần mỗi phần chiếm 1. Tông Đạo mỗi ngày tâu thực. Ý Hoàng đế hơi tỉnh ngộ, việc xử án hơi chậm. Gặp lúc đê sông Doanh Trạch sắp vỡ, chiếu lệnh Phán Đô thủy giám Du Sung đến trị. Sung tâu sông muốn vỡ, nhờ dùng cào nạo vét sông mà dẫn nước nên được toàn, Tử Uyên nhân bản đồ trạng mà tự bày tỏ, vì thế việc xử án lại càng gấp.

Ngày Quý Dậu, lập Nghĩa thương.

Ngày Giáp Tuất, Bộc quốc công Tông Phác (宗樸) kiêm Thị trung, tiến phong Bộc Dương quận vương.

Quyền phát khiển Hà Bắc Tây lộ Đề điểm Hình ngục Đinh Chấp Lễ (丁執禮) tâu: "Nay các huyện ấp, thường còn thành cũ, nhưng sụp đổ, đứt đoạn, không đủ làm chỗ vững. Xin chọn những Huyện lệnh sáng suốt, khiến khuyến dụ các hộ trung, thượng trong thành xuất phu để giúp công dịch, dần dần tu sửa." Chiếu: "Các Chuyển vận sứ các lộ giao cho Tri châu, Tri huyện, kiểm tra, tính toán công liệu cần tu sửa thành quách, vào năm được mùa thì khuyến dụ. Năm lộ trừ nơi giáp biên ra, chọn những huyện dân cư đông đúc và ở nơi trọng yếu các lộ, thì trước hết từ các đại quận mà tu sửa cho xong." Lúc đầu, Chấp Lễ từ chức Quán các giáo khám ra làm Đề hình, Hoàng đế dụ rằng: "Khanh giữ chức Hình ngục, đạo tặc, mà đạo tặc là việc gấp nhất, nên hết lòng đốc bắt."

Mùa đông, tháng 10, ngày Mậu Dần mồng 1, Bộc Dương quận vương Tông Phác mất; phong làm Định vương, gia thụy Hy Mục.

Ngày Canh Thìn, Thị độc Đặng Nhuận Phủ, Trần Tương (陳襄) vào điện Nhĩ Anh các tiến đọc, nhân nói: "Tư Mã Thiên chép sự tích vua tôi từ Tần, Hán trở về sau, có những điều không thể đọc trước mặt vua cha, như loại ‘Lữ Bất Vi truyện’ là vậy." Hoàng đế nói: "Những loại như thế, đều bỏ qua, không đọc." Thị giảng Thẩm Kỳ Trường (沈季長), Hoàng Lý tâu: "Giảng xong Kinh Thi, xin giảng kinh nào?" Hoàng đế nói: "Lễ nhạc, pháp độ của tiên vương không gì rõ bằng nhà Chu, nên giảng Chu Lễ."

Ngày Tân Mão, Quả Trang, Đỗng Tiển (棟戩) sai người vào cống, cho ở nhờ tại Đồng văn quán.

Ngày Quý Tị, Chiêu Hóa quân Tiết độ sứ Tông Nghị (宗誼) phong làm Bộc quốc công. Chiếu con cháu Bộc vương lần lượt kế tập phong tước, giữ việc phụng từ.

Ngày Ất Mùi, Tri Hà Dương, Hàn lâm Thị độc học sĩ Lữ Công Trứ (呂公著) làm Đề cử Trung Thái Nhất cung. Công Trứ đến Kinh sư, lúc ấy sắp tế Nam Giao, đặc chiếu lệnh Cáp môn vào ngày tản trai được yết kiến ở điện Diên Hòa, hỏi han ân cần, lại nói: "Không gặp khanh 7, 8 năm, trẫm thấy khanh già đi nhiều." Công Trứ tâu: "Thần cúi xem chiếu gần đây tuyển người có tài hạnh, có thể đảm nhiệm chức thăng nhậm. Cúi xét từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, hư tâm hạ mình để đợi sĩ phu thiên hạ, thực muốn rộng thu nhân tài, không để sót bỏ. Nhưng đời xưa vốn chưa từng có nhiều người hiền, mà nhân tài cũng không thể nhiều. Nay trong ngoài tiến cử khoảng hơn 100 người, tuy không thể đều thích hợp, nhưng nếu thực sự tham khảo danh thực mà thử dùng, ắt có người có thể đáp ứng kỳ vọng lớn, hợp với ý chỉ sáng suốt. Thần lại xét ý chiếu hôm nay, chính là muốn thông đạt những người chưa được thông đạt, nhưng mấy năm nay, sĩ phu thiên hạ, bệ hạ vốn biết, những người từng được thử dùng vào việc mà rốt cuộc bị bỏ ở nơi nhàn tản vẫn còn nhiều, e trong đó cũng có người tài thực, trung hậu, muốn vì quốc gia mà dốc sức, chưa chắc đều là hạng quanh co, sai lầm, khó dùng. Thời Hán Vũ Đế, Công Tôn Hoằng lúc đầu được tiến cử vào triều, vì không hợp ý mà bị bãi, sau lại được cử làm Hiền lương, Hoàng đế thân chọn làm đệ nhất, không mấy năm mà đến chức Tể tướng. Do đó mà xét, người thực khó biết, mà sĩ cũng không thể xem nhẹ. Vì sao? Vì việc thử dùng ngày trước, hoặc chưa thể xét hết, trong mấy năm, tài học cũng có thể tiến. Chỉ mong bệ hạ lại giao việc cho họ để xem năng lực, hoặc cho họ được đối đáp để khảo lời nói, rộng thu, rộng nạp, khiến ai nấy được tự tận, thì đời thánh minh sẽ không có tiếng than tài năng bị ứ đọng, thật là may mắn lắm vậy!" Từ đầu niên hiệu Hy Ninh, những người bàn luận tân pháp mà không theo người chấp chính, đều bị đày, không được dùng lại, nên Công Trứ nêu việc ấy trước.

Ngày Mậu Tuất, Thái tử Thái sư Trương Biện (張昪) mất, thọ 86 tuổi. Truy tặng Tư đồ kiêm Thị trung, thụy là Khang Tiết.

Ngày Canh Tý, Vĩnh quốc công Tuấn (俊) mất, khi đó mới 5 tuổi. Hoàng đế rất buồn, bỏ chầu 5 ngày, lại không coi việc 3 ngày. Truy phong làm Duyện vương, thụy Ai Hiến. Thái thường lễ viện tâu theo lễ là "vô phục chi thương", chiếu đặc biệt cử ai, thành phục.

Ngày Tân Sửu, Liêu chúa đóng quân ở Ấu Ty Điện (藕絲澱).

Ngày Ất Tị, lại đặt Phụ Thành trấn của Vĩnh Tĩnh quân làm huyện.

Tháng 11, ngày Canh Ngọ, lấy thủ lĩnh Tây phiên Mạc Xuyên Đỗng Tiển (邈川首領棟戩) - Đô thủ lĩnh Thanh Nghi Kết Quả Trang (青宜結果莊) làm Khoách châu Thứ sử, A Lệnh Cốt (阿令骨) làm Tùng châu Thứ sử.

Ngày Giáp Tuất, tế Trời Đất ở Viên Khâu.

Nước Liêu thăng Tiêu Tích Sa (蕭錫沙) làm Bắc viện Khu mật phó sứ. Y lại cùng Da Luật Y Tốn (耶律伊遜) bày mưu ngầm hại Thái tử, Y Tốn nghe theo. Trước đó, Tiêu Đạt Hòa Khắc (蕭達和克) vì gian hiểm mà dựa vào Y Tốn, nên được cất nhắc, dần thăng đến chức Kỳ cổ Tô Lạt Tường Cổn. Y Tốn muốn hại Thái tử, thấy Đạt Hòa Khắc hung bạo quả quyết, có thể sai khiến được, bèn sai y cùng Cận thị trực trưởng Tát Ba (薩巴) đến Thượng Kinh, cùng với Lưu thủ Tiêu Đạt Đức (蕭達德) ban đêm dẫn lực sĩ vào ngục thất, cấp cho chiếu thư nói là có lệnh đại xá, rồi gọi Thái tử ra mà giết. Đạt Đức tâu rằng Thái tử chết vì bệnh. Thái tử mất, khi ấy 20 tuổi. Liêu chúa thương xót, lệnh cho hữu ty táng ở núi Long Môn; muốn triệu Thái tử phi về, Y Tốn lại sai người giết đi. Con trai của Thái tử là Diên Hi (延禧) và con gái là Diên Thọ (延壽) đều được nuôi ở nhà Tiêu Hoài Trung (蕭懷忠). Đảng của Y Tốn lẫn nhau chúc mừng, tụ họp uống rượu mấy ngày liền.

Da Luật Y Tốn nhiều lần tiến cử, dẫn dắt đảng của mình là Da Luật Ha Lỗ (耶律哈嚕), thăng đến chức Bắc viện Đại vương, chẳng bao lâu, em y là Ô Dã (烏頁) cũng được thăng đến chức Nam viện Đại vương. Nhưng bọn đảng của chúng lại lẫn nhau nghi kỵ. Tiêu Ngạch Đô Ôn (蕭額都溫) đã lấy Triệu quốc công chúa, sau đó bàn luận việc gì đó không hợp với Y Tốn, Y Tốn ôm hận, liền vin vào tội y xe cộ, y phục lạm sánh với bậc nhân chủ mà giết. Ngạch Đô Ôn lúc sắp hành hình nói với người ta rằng: "Trước đây việc vu cáo Da Luật Tát Lạt (耶律薩喇), đều là Y Tốn dạy ta làm. Y Tốn sợ việc lộ ra, nên giết ta để diệt khẩu đó thôi."

Nước Liêu lấy Tiêu Đạt Hòa Khắc làm Quốc cữu Tường Cổn, là do Da Luật Y Tốn tiến dẫn y vậy. Đạt Hòa Khắc sợ việc giết Thái tử bị lộ, nên khi ra vào thường đeo dao, hễ có chiếu triệu gấp, liền muốn tự sát. Nhưng Liêu chúa hôn ám, không xét đến, rốt cuộc y được bình yên vô sự.

Nguyên Đồng tri Thái thường lễ viện Trương Tải (張載) mất. Lúc ở nhà, Tải cùng các nho sinh giảng học, lấy Kinh Dịch làm tông, lấy Trung dung làm thể, lấy Khổng Tử, Mạnh Tử làm pháp. Việc hôn nhân, tang ma, cưới gả, tế tự trong nhà, phần nhiều dùng ý của tiên vương mà gia thêm lễ hiện thời. Đời gọi ông là Hoành Cừ tiên sinh.

Tháng 12, ngày Đinh Sửu mồng 1, nước Chiêm Thành dâng voi đã được thuần dưỡng.

Ngày Nhâm Ngọ, chiếu đổi sang năm sau là niên hiệu Nguyên Phong.

Ty Tường định nhất ty dâng lên bản "Hình bộ sắc", trong đó quy định: những chỉ dụ do Trung thư ban xuống đều gọi là "sắc", những chỉ dụ do Khu mật viện ban xuống đều gọi là "tuyên", gồm 9 môn, cộng 63 điều; được chuẩn cho thi hành.

Ngày Giáp Thân, có thủ chiếu rằng: "Vừa rồi Dương Hoản (楊琬), Cao Tĩnh (高靖) kiểm tra đường sông trở về, đã ghi chép điều trông thấy mà dâng lên. Có thể triệu đến tra hỏi kỹ, so sánh lợi hại, để dân bị nạn không đến nỗi bị oan uổng mà còn phải lao dịch."

Ban đầu, sông vỡ ở Thao thôn, triều đình sai quan đi lấp, nhưng lòng sông cũ đã bị vùi lấp, cao ngất, nước không chảy xuống được. Người bàn việc muốn từ phía đông huyện Hạ Tân mở sông Khiên cho chảy vào Đổng Cố, hộ vệ lòng sông cũ dài 70 dặm 90 bộ, lại từ Trương thôn Sáo thẳng sang phía đông đắp đê đến Cựu đê Bàng gia trang, dài 50 dặm 200 bộ, tính dùng hơn 3 triệu nhân công, hơn 30 vạn vật liệu. Nhưng Dương Hoản và Cao Tĩnh cho rằng, nếu chặn miệng sông, làm cho dòng nước chảy, thì đường sông tự thành, không cần phải đào mở, đắp đê mà làm hao phí công dịch. Hoàng đế coi việc ấy là trọng, nên lệnh tra hỏi kỹ, lại chiếu cho Thị ngự sử tri tạp sự Thái Khắc (蔡確) cùng đi xem xét rồi tâu lên. Sau vì mẹ của Khắc bị bệnh, đổi lệnh cho Khu mật Đô thừa chỉ Hàn Chấn (韓縝). Về sau Chấn tâu rằng: "Nước dâng tràn, xung phá mà mở ra sông mới, đã thành đường sông. Thế sông biến đổi, di chuyển không thường, dù có đào sông, đắp đê, hoặc ở lòng sông dựng đê mới, cũng chỉ uổng phí công sức. Nên chỉ dùng sông mới, tùy lượng mà gia tu bổ thêm, có thể bền lâu." Được chuẩn cho theo đó.

Ngày Đinh Hợi, phong Hoàng tử Ung (傭) làm Quân quốc công.

Chiếu rằng: "Bản điều trần về lợi hại của Ty Kinh chế Hy Hà lộ biên phòng tài dụng, trong đó điều nào có thể thi hành, nên cho thi hành trước, để khi việc đồng áng chưa khởi, còn có thể kịp thời sắp đặt, nhằm giúp chi phí biên phòng." Khi ấy vì chi tiêu ở Hy Hà không đủ, phải trông vào Độ chi cung ức, nên lệnh cho Nhập nội đô tri Lý Hiến (李憲) kiêm lãnh Kinh chế tài dụng ty. Trung thư kê đủ 14 việc do Hiến điều trần có thể thi hành, đều cho làm theo như tấu.

Ngày Quý Tị, Hàn Chấn và những người khác dâng lên các công văn qua lại với người Liêu, cùng với ghi chép lời nói khi gặp mặt, và cả bản đồ. Chiếu cho Chấn cùng Lữ Đại Trung (呂大忠) đem những văn thư Da Luật Vinh (耶律榮) và những người khác mang đến, cùng với ghi chép lời nói của Quán bạn, và việc Lưu Thầm (劉忱) cùng những người khác đi xem xét biên giới, tranh luận với người phương Bắc, cùng các chỉ huy trước sau của triều đình, chia môn biên tập, dâng lên.

Ngày Giáp Ngọ, Tri gián viện Hoàng Lý (黃履) tâu rằng: "Gần đây nhân theo hầu tế Giao, trộm xem việc dùng lễ nhạc, lấy nay so với xưa, có chỗ chưa hợp. Cúi mong bề trên lệnh cho hữu ty cùng các lễ tự lớn nhỏ khảo đính đại lược, khiến cho tình và văn tương xứng." Chiếu cho Lý cùng quan Lễ viện khảo cứu rồi tâu lên.

Ngày Tân Sửu, chiếu rằng vì ở các lộ, số quân Cấm binh khuyết thiếu rất nhiều, nên sai 7 viên Đại sứ thần đến trong địa giới phủ Khai Phong, các lộ Kinh Đông, Kinh Tây, Thiểm Tây, Kinh Hồ, cùng với Trường lại và quan đương chức chiêu mộ, tuyển bổ cho đủ.

Ngày Giáp Thìn, chiếu cho Ty đúc tiền đều dùng chữ "Nguyên Phong Thông Bảo" làm văn tiền.

Nước Liêu lấy Bắc diện Tể tướng Liêu Tây quận vương Tiêu Hô Lý Ngạch (蕭呼哩額) làm người biết việc Bắc viện Khu mật sứ, lấy Tả Di Lặc Hy Ba Da Luật Diên Cách (左伊勒希巴耶律延格) làm Khiết Đan Hành cung Đô bố trí sứ; đều là do Da Luật Y Tốn tiến cử.

Ban đầu, Liêu chúa nghe theo lời Da Luật Y Tốn, nạp Tiêu hậu, ở với nhau 2 năm, chưa có con. Hậu có em gái, gả cho con Y Tốn là Thư Gia (舒嘉). Hậu nói với Liêu chúa, khen rằng người ấy dễ sinh con, bèn khiến ly hôn, nạp vào cung. Tiêu Hô Lý Lặc (蕭呼哩勒) liền lấy cháu gái gả cho Thư Gia, ỷ thế hoành hành, đến nỗi có lời vô quân, triều đình trong ngoài đều nhìn mà sợ.

Nước Liêu làm trước lễ Chính đán.

Năm ấy, Nam Kinh của nước Liêu được mùa rất to.

Hết chương 71

Chương sauQuyển 73

Đọc chương 72 →

Bình luận về truyệnTrang truyện