Tháng 8, ngày Tân Mùi, xuống chiếu giáng Phạm Thuần Túy (范純粹) xuống 1 cấp, làm Trực Long đồ các, Tri Diên An phủ, vì thời Nguyên Hựu từng dâng nghị bàn việc bỏ đất.
Ngày Nhâm Thân, Tam tỉnh dâng trình đầy đủ văn thư chứng minh Lữ Huệ Khanh (呂惠卿), Vương Trung Chính (王中正), Tống Dụng Thần (宋用臣) đều không có tội trạng, xin được phục lại quan chức. Chương Đôn nói: "Tội mà Huệ Khanh bị kết, thật là không danh mục gì." Hoàng đế nói: "Cho phục lại chức cũ, kiêm chức Tư chính điện học sĩ."
Tháng 9, ngày Quý Mão, sai Ngự sử Lưu Chỉnh (劉拯) đi tra xét nạn lụt ở Hà Bắc, cứu tế dân đói.
Ngày Giáp Thìn, lấy Hoàng Khánh Cơ (黃慶基), Đổng Đôn Dật (董敦逸) đều làm Giám sát ngự sử.
Ngày Bính Ngọ, mở khoa Hiền lương phương chính năng trực ngôn cực gián.
Ngày Canh Tuất, Tam tỉnh cùng dâng tờ trình, xếp Trương Hàm, Ngô Trù, Trần Dương vào hạng năm, xin ban ân. Hoàng đế nói: "Văn sách của tiến sĩ còn có người vượt hơn thế này." Nhân đó hạ chiếu bãi bỏ chế khoa.
Bãi bỏ kho Quảng Huệ.
Ngày Giáp Dần, Tri Quảng châu Đường Nghĩa Vấn (唐義問), vì tội bỏ đồn Trừ Dương trại, bị giáng làm Thư châu Đoàn luyện phó sứ.
Ngày Kỷ Mùi, nước Liêu lấy Nam viện Đại vương Đặc Mặc (特默) làm Nam viện Khu mật sứ.
Ngày Canh Thân, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Ngày Giáp Tý, bộ trưởng Đức Liệt Lặc (德埒勒) đến hàng nước Liêu, Liêu chúa lệnh xá tội cho ông ta.
Ngày Đinh Mão, xuống chiếu cho Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc cứu tế dân lưu tán.
Ngày Mậu Thìn, sao băng xuất hiện ở Tử vi viên.
Tháng này, Đô thống Ngạch Đặc Lặc (額特勒) nước Liêu tiến quân đánh người Chuẩn Bố, nhân trời tuyết lớn, đánh bại quân của Mã Cổ Tô (瑪古蘇) cùng 4 bộ phận khác của y, chém hơn 1.000 thủ cấp.
Mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ Tị mùng 1, lấy Tri Giang Ninh phủ Lữ Huệ Khanh (呂惠卿) làm Tri Đại Danh phủ.
Tam tỉnh, Khu mật viện cùng dâng danh sách bổ nhiệm. Tăng Bố (曾布), Hàn Trung Ngạn (韓忠彥) nói: "Nếu Huệ Khanh ở trong triều, thì người lương thiện, quân tử ắt không có chỗ tự lập." Hoàng đế nói: "Chỉ cho làm Tri Bắc Kinh, há có thể lưu lại trong triều sao!" Bố lại nói
Ý ông ta là muốn lật đổ Đôn. Hoàng đế nói: "Việc này vốn nên mở miệng trình bày vậy."
Ngày Bính Tý, Liêu chúa đóng quân ở Ấu Ty Điện (藕絲澱).
Ngày Đinh Hợi, Quốc tử Tư nghiệp Cung Nguyên (龔原) tâu: "Vương An Thạch (王安石) khi ở triều trước, từng dâng bộ ‘Tự thuyết’ gồm 22 quyển do ông đích thân soạn. Xin sai người đến nhà ông ta sao chép bản định, ban xuống Quốc tử giám khắc in, để tiện cho học giả truyền tập.” Chiếu cho phép. Từ đó, văn chương của sĩ tử trong trường học đua nhau bắt chước, tệ hại ấy bắt nguồn từ đây.
Ngày Canh Dần, lấy Thường An Dân (常安民) làm Giám sát ngự sử. Trước đó, An Dân nhân lúc được triệu vào đối đáp đã nói: "Thời Nguyên Hựu, người dâng lời thì cho rằng chính sự Hy Ninh, Nguyên Phong là sai, Nguyên Hựu là đúng; ngày nay người dâng lời lại cho Nguyên Hựu là sai, Hy Ninh, Nguyên Phong là đúng; cả hai đều là lối suy luận thiên lệch. Xin bệ hạ nghe rộng xét kỹ, không kể mới cũ, chỉ lấy điều đúng làm chuẩn." Hoàng đế bảo các phụ thần: "An Dân nghị luận công chính, không a dua ai."
Ngày Đinh Dậu, Đô thủy sứ giả Vương Tông Vọng (王宗望) tâu: "Dòng Bắc đã bị lấp, toàn bộ sông đã chảy trở về đường cũ, xin giao cho Sử quan ghi chép việc từ đời Thiệu Thánh đến nay bề trên thánh minh tự quyết, nên mới có thành quả này." Chiếu lệnh Tông Vọng kê khai rõ công sức của các bộ, dịch, quan, chia cấp bậc tâu lên. Nhưng lúc ấy đê điều phía Đông chưa kịp tu bổ vững chắc, các nơi ven sông phần nhiều bị nạn nước, dân lưu tán vào Kinh sư, thường đậu thuyền ở dưới ngự lang và chùa chiền, chiếu cấp cho thẻ, dụ bảo họ trở về bản thổ để nhận cứu tế.
Tháng 11, ngày Kỷ Hợi mùng 1, khôi phục phép đặt quan ở 8 lộ.
Ngày Nhâm Tý, truy phục cho Thái sư Quan Văn điện Đại học sĩ Thái Xác (蔡確).
Ngày Giáp Dần, người ở Khai Phong là Lữ An Xích (呂安斥) xúc phạm ngự giá, đáng tội chém, được tha chết.
Tháng 12, ngày Tân Mùi, nhắc lại lệnh nghiêm cấm xuất tiền đồng ra ngoại giới.
Ngày Giáp Tuất, nước Liêu lấy Tham tri chính sự Triệu Đình Mục (趙廷睦) kiêm Đồng tri Khu mật viện sự, lấy Khu mật phó sứ Vương Sư Nho (王師儒) làm Tham tri chính sự kiêm Đồng tri Khu mật viện sự.
Ngày Kỷ Mão, Liêu chúa lệnh ghi chép công lao tướng sĩ có công ở Tây Bắc lộ, và những người tử trận thì được truy tặng quan chức.
Ngày Ất Dậu, nước Liêu đổi niên hiệu năm sau là Thọ Xương, giảm tội từ tạp phạm tử tội trở xuống, lại miễn tô thuế cho dân nghèo.
Ngày Bính Tuất, cầu phao ở Hoạt châu bị cháy.
Ngày Kỷ Sửu, sông Chương Hà vỡ tràn, các châu Minh, Từ bị ngập. Lệnh tính toán việc đắp lấp.
Ngày Giáp Ngọ, Tam tỉnh cùng dâng trình các chương sớ trước sau của quan Đài, Gián, nói: "Tiền viện Thực lục soạn ‘Thực lục’ của tiên đế, phần nhiều dựa theo lời gian tà, phỉ báng chính sự từ đời Hy Ninh trở về sau, xin bãi bỏ để soạn lại từ đầu." Hoàng đế nói: "Sử quan dám phóng đại dối trá, bất kính như thế, phải đều bị đuổi đi." Chiếu: "Phạm Tổ Dũ (范祖禹) an trí ở Vĩnh châu, Triệu Nghiên Nhược (趙彥若) ra Lễ châu, Hoàng Đình Kiên (黃庭堅) ra Khiêm châu."
Ban đầu, Chương Đôn, Thái Biện (蔡卞) cùng bè đảng bàn rằng ‘Thực lục’ phần nhiều là vu cáo, bèn bắt các Sử quan trước chia ra ở các ấp trong Kinh để chờ hỏi, trích hơn 1.000 điều đưa cho họ xem, bảo là không có chứng cứ. Sau đó lại, quan lại trong viện khảo xét, thì đều có căn cứ, còn lại chỉ 32 việc. Đình Kiên viết câu “Dùng móng rồng sắt trị sông, chẳng khác gì trò trẻ con”, đến đây bị hỏi đầu tiên, ông đáp: "Lúc ấy Đình Kiên làm quan ở Bắc Đô, từng thân mắt thấy, thật là trò trẻ con vậy." Phàm có hỏi, đều đáp thẳng, người nghe đều khâm phục.
Tể tướng Nam phủ nước Liêu là Vương Đường (王棠) chết. Đường bác cổ, giỏi văn chương, thi Hương, thi Lễ bộ, thi Đình đều đỗ đầu. Ông thông đạt triều chính, khi xử việc không biếng trễ, ở trong Chính phủ, sửa sang rõ ràng pháp độ, người ta khen là không thẹn với khoa danh.
Năm ấy, Kinh sư có dịch bệnh, Lạc thủy tràn, Thái Nguyên động đất; Hà Bắc bị lụt, phát thóc ở Kinh Đông để cứu tế.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Kỷ Hợi, Liêu chúa đi đến sông Hỗn Đồng.
Ngày Bính Ngọ, lập khoa Hoằng từ. Tam tỉnh dâng tấu: "Nay khoa Tiến sĩ đã thuần dùng kinh thuật, như các loại chiếu cáo, chương biểu, xá sắc, hịch thư, lộ bố, giới dụ, đều là những thứ mà quan lại triều đình hằng ngày không thể thiếu; nếu hoàn toàn không học, không thi, thì làm sao thu nạp được những người văn học bác tạp, khác thường!" Vì vậy riêng đặt khoa Hoằng từ, cho phép người đã đỗ Tiến sĩ xin dự thi. Người dự thi tuy nhiều, nhưng lấy không quá 5 người; ai có văn từ vượt trội khác thường thì đặc biệt tâu xin bổ làm quan.
Lấy Thị lang Bộ Lại Dương Úy (楊畏) làm Tri Thành Đức quân. Úy đã phản bội Lữ Đại Phòng (呂大防) mà theo Chương Đôn, đến khi Lý Thanh Thần (李清臣), An Thạc (安燾) có ý kiến khác với Đôn, thì lại ngầm theo An, Lý. Mà Đôn cũng nhận ra y hiểm trá, nên lệnh Úy ra ngoài trấn thủ.
Ngày Ất Mão, nước Liêu cứu tế dân nghèo đói ở Phụng Thánh châu.
Ngày Ất Sửu, Điện tiền ty tâu ngục trống, chiếu ban cho tiền chỉ tuyến.
Tháng 2, ngày Đinh Mão mùng 1, nhật thực.
Ngày Mậu Thìn, nước Liêu ban tiền cho hai Ty Bì thất tả hữu.
Ngày Quý Dậu, nước Cao Ly sai sứ sang cống nước Liêu.
Ngày Giáp Tuất, lấy Tri Đại Danh phủ Lữ Huệ Khanh làm Tư chính điện Đại học sĩ. Chương Đôn nói Huệ Khanh xin được lưu lại Kinh sư, chỉ mong được một chức coi cung quán. Hoàng đế nói: "Đã bổ làm Đại Tư chính, kiêm Bắc Kinh cũng là trọng địa." Lại hỏi: "Huệ Khanh đã đi chưa?" Tăng Bố, Hàn Trung Ngạn đều nói: "Huệ Khanh xin ở lại, ấy là vô sỉ. Quân tử khó tiến mà dễ lui, con người ấy có thể biết vậy." Hoàng đế mỉm cười.
Ban đầu, Giám sát ngự sử Thường An Dân tâu trực diện: "Người mới được bổ làm Lưu thủ Bắc Đô là Lữ Huệ Khanh, bản tính sâu hiểm; Vương An Thạch tiến cử y làm Chấp chính, đến khi đắc chí, thì lại công kích An Thạch. Nếu đem tấm lòng ấy mà thờ vua, thì sự bạc bẽo có thể biết. Huệ Khanh nếu được gặp bệ hạ, ắt sẽ nói về tiên đế mà khóc, để cảm động bệ hạ, mong được lưu lại triều đình." Đến đây, Huệ Khanh qua cửa khuyết xin được yết kiến, quả nhiên nói với Hoàng đế chuyện triều trước, lại khóc; Hoàng đế nghiêm mặt không đáp, tính kế không thi thố được, bèn lui. Dư luận lúc ấy lấy làm hả hê.
Ngày Ất Hợi, chiếu đoạt 2 cấp quan của Lữ Đại Phòng, dời đến ở An châu. Trước đó, Trung thừa Hoàng Lý (黃履) nói Triệu Nghiên Nhược v.v. khi tu soạn ‘Thực lục’ của tiên đế, đã quá mức vu báng, đều đã bị đày đi, chỉ riêng Giám tu Lữ Đại Phòng may mắn thoát, nên có lệnh này.
Liêu chúa đóng quân ở Ngư Nhi Lạc (魚兒濼).
Ngày Tân Tị, xuất 20 vạn tiền lụa trong Nội khố để giúp Hà Bắc cứu đói.
Ngày Ất Mùi, Tả Tư gián Trương Thương Anh (張商英) được bổ làm Tả Tư viên ngoại lang. Gặp lúc Tri Khai Phong phủ Vương Chấn (王震) tâu rằng Thương Anh sai người cùng Cái Tiệm (蓋漸) mưu hại Lai Chi Thiệu (來之邵), nên bị giáng làm Giám thuế Giang Ninh phủ.
Tháng 3, ngày Kỷ Hợi, Tự Bộc vương Tông Thịnh (宗晟) chết, thụy là Đoan Hiếu.
Tông Thịnh yêu thích cổ học, chứa sách đến mấy vạn quyển, Nhân Tông khen, lại ban thêm sách của Quốc tử giám. Đầu niên Trị Bình, sắp tế Giao mà trời mưa, có người bàn nên đổi ngày bói, Anh Tông hỏi Tông Thịnh, ông đáp: "Bệ hạ lần đầu tế Giao, ra mắt Thượng đế, là đại lễ, há nên đổi ngày bói! Thành tâm cảm thần, cốt ở chỗ tinh ý của bệ hạ mà thôi." Hoàng đế khen và nghe theo. Đến khi tế Giao, mưa tạnh. Anh Tông nhiều lần mắc bệnh, ông kín đáo xin sớm lập Thái tử để buộc lòng mong mỏi của thiên hạ, người đời khen là trung.
Ngày Giáp Thìn, bọn Quốc tử Tư nghiệp Cung Nguyện tâu rằng Vương An Thạch từng dâng ‘Luận Ngữ, Mạnh Tử nghĩa’ do con ông ta là Bàng (雱) soạn, xin giao bản gốc cho Quốc tử giám khắc in ban hành.
Ngày Bính Ngọ, nước Liêu ban lụa cho dân nghèo ở Đông Kinh.
Ngày Kỷ Mùi, thi khoa Hoằng từ, lấy bọn Hoàng Phủ (黃府) 5 người đều được thăng 1 cấp bậc.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Mão, Đô thống nước Liêu tâu thắng trận đánh bộ khác của người Chuẩn Bố.
Ngày Mậu Thìn, chiếu: "Quan chức có thực vụ mà bị bãi, thì không được kiêm chức; từ Triều khánh đại phu trở xuống không chia tả hữu; đổi chức Tập Hiền viện học sĩ thành Tập Hiền điện Tu soạn, Trực Tập Hiền viện thành Trực Bí các, Tập Hiền Hiệu lý thành Bí các Hiệu lý."
Ngày Nhâm Thân, phong Hoa Dung quận vương Tông Dự (宗愈) làm Tự Bộc vương.
Ngự sử Quách Tri Chương (郭知章), Đổng Đôn Dật tâu: "Xin theo phép tiên đế, lệnh hai chế và quan Đài, Gián mỗi người tiến cử 1 người có tài hạnh." Chiếu: "Cho Hứa Tương (許將), Thái Kinh (蔡京), Hoàng Lý, Thái Biện, Tiền Hiệp (錢勰), Lâm Hy, Vương Chấn, không câu nệ thứ bậc, mỗi người tiến cử 2 người có thể đảm nhiệm việc sai phái."
Ngày Ất Hợi, người Nữ Chân sai sứ sang cống nước Liêu.
Ngày Đinh Hợi, chiếu theo điều lệ đời Nguyên Phong đặt 2 chức Luật học bác sĩ ở Quốc tử giám.
Ngày Canh Dần, nước Liêu ghi công tướng sĩ có công ở Tây Bắc lộ.
Tháng này, Bảo Văn các đãi chế, Tri Thanh châu Hình Thứ (邢恕) vào chầu, khóc nói: "Thần không ngờ hôm nay lại được thấy bệ hạ!" Nước mắt bắn ướt ngự bào. Hoàng đế không vui, bèn lệnh y trở về quận.
Tháng 5, ngày Ất Mùi mùng 1, nước Liêu lấy Nam Kinh Tuyên huy sứ Da Luật Đặc Mặc (耶律特默) làm Bắc viện Đại vương. Ngày Quý Mão, truy tặng quan cho người tử trận.
Ngày Ất Tị, lệnh Thái Biện xét định chế độ 3 học ở Quốc tử giám và các châu học bên ngoài.
Ngày Ất Mão, dâng cung hiệu của Hoàng Thái phi là Thánh Đoan.
Ngày Đinh Tị, Liêu chúa đóng quân ở Đặc Lễ Lĩnh (特禮嶺).
Tháng 6, ngày Kỷ Tị, nước Liêu lấy Quyền Tham tri chính sự Triệu Hiếu Nghiêm (趙孝嚴) làm Hán nhân Hành cung Đô bố trí. Đô quản Vi trường Sa Ba (薩巴), vì công đánh Chuẩn Bố, được gia phong Trấn quốc Đại tướng quân.
Ngày Ất Dậu, chiếu: "Đầu niên Nguyên Hựu đã giảm định bổng lộc của quan được bổ nhiệm từ Chánh Tái trở xuống, lần lượt giảm, số vật không nhiều, làm tổn hại lễ ưu đãi đặc biệt của triều đình, các điều lệnh hiện hành ấy đều nên bãi bỏ, đều theo chế cũ đời Nguyên Phong. Còn tiền thưởng sinh nhật của tông thất, công sứ thì vẫn theo phép Nguyên Hựu."
Ngày Nhâm Thìn, cấm sĩ nhân trong Kinh thành ngồi kiệu.
Mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Hợi, Thượng thư Bộ Hộ Thái Kinh tâu xin liệt kê các điều khoản Thanh miêu đời Hy Ninh, Nguyên Phong để ban cho thiên hạ xem.
Ngày Quý Mão, Liêu chúa đi săn ở Sa Lĩnh.
Ngày Giáp Dần, Đô thống Ngạch Đặc Lặc nước Liêu tâu thắng trận phá quân Mã Cổ Tô.
Ngày Bính Thìn, chiếu Đại lý tự phục đặt chức Hữu Trị ngục, vẫn theo lệ đời Nguyên Phong mà tăng thêm quan thuộc.
Tháng 8, ngày Nhâm Thân, phong Chương Tín quân Tiết độ sứ Tông Cảnh (宗景) làm Tế Âm quận vương.
Ngày Giáp Thân, chiếu: "Bè đảng Lữ Đại Phòng vĩnh viễn không được dùng lại kể cả khi gặp ân xá." Lúc ấy sắp đại yến, ban đại xá, Chương Đôn trước kỳ đã nói: "Mấy chục người này, phải suốt đời không được dời." Nên có chiếu này.
Tự Bộc vương Tông Dự chết, thụy là Cung Hiến.
Ngày Ất Dậu, ghi công hậu duệ Triệu Phổ (趙普) là Hy Trang (希莊), cho làm Cách môn Chi hậu.
Tháng 9, ngày Giáp Ngọ, lấy An Định quận vương Tông Xước (宗綽) làm Tự Bộc vương.
Ngày Nhâm Dần, cáo việc dời thần chủ Thần Tông đến điện Hiển Thừa ở Cảnh Linh cung.
Tri Trần châu Phạm Thuần Nhân (范純仁), nghe Lữ Đại Phòng bị đày ra châu xa, suốt đời không dời, muốn trai giới dâng sớ bày tỏ, người thân khuyên ông đừng chọc giận triều đình, vạn nhất bị đày xa, không hợp với tuổi già. Thuần Nhân nói: "Việc đến thế này, không một người dám nói. Nếu lòng bề trên nhờ đó mà tỉnh ngộ, thì hệ trọng lắm; nếu không được thế, chết cũng không hận!" Bèn dâng sớ nói: "Tội mà bọn Đại Phòng phạm, cũng là do giữ lòng không khoan dung, yêu ghét theo tình, trái với lời răn ‘hiếu hoàn’ của Lão tử, bỏ lời ‘phản nhĩ’ của Mạnh Kha. Nhưng họa Ngưu, Lý mấy chục năm chìm đắm không giải, há có thể còn theo vết cũ! Đại Phòng tuổi già bệnh tật, không quen thủy thổ, đất viêm hoang không phải chỗ ở lâu, lại lo sợ không lường, lấy gì mà tự tồn! Trước đây Chương Đôn, Lữ Huệ Khanh tuy bị giáng đày, nhưng không ra khỏi làng xóm. Bệ hạ vì một mình Thái Xác mà thường động thánh tâm. Nay Triệu Nghiên Nhược đã chết ở chỗ đày, thì sẽ không chỉ một Thái Xác mà thôi. Xin bệ hạ tự quyết từ lòng sâu, đem bọn Đại Phòng ân xá mà tha cho." Ngày Quý Mão, ban bút phê: "Phạm Thuần Nhân lập dị cầu danh, ngăn trở mệnh lệnh triều đình đã thi hành, cho bãi chức Quan Văn điện Đại học sĩ, Tri Tùy châu." Ban đầu Hoàng đế cũng có ý theo lời tấu, Chương Đôn cố sức chủ trương ý trước, lại nói Thuần Nhân cùng tội mà chưa bị ghi, nên cùng trách phạt.
Ngày Mậu Thân, gia thêm thụy cho Thần Tông là Thiệu Thiên Pháp Cổ Vận Đức Kiến Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu Hoàng đế.
Ngày Tân Hợi, đại hưởng ở Minh đường, xá thiên hạ.
Ngày Giáp Dần, Liêu chúa tế ở núi Mộc Diệp (木葉山).
Ngày Bính Thìn, nước Liêu lệnh cho pháo nhân, nỗ nhân ở Tây Kinh dạy Hán quân ở Tây Bắc lộ, vì người Chuẩn Bố chưa được bình định.
Chương Đôn chuyên quyền tự ý, Giám sát ngự sử Thường An Dân hết sức bác bỏ gian tà của y. Đôn sai người thân nói với ông rằng: "Ông vốn nổi tiếng về văn học, cớ sao lại tự lấy lời nói làm trách nhiệm, kết oán với người ta? Hãy yên tĩnh một chút, rồi sẽ dùng ông ở bên tả hữu." An Dân nghiêm mặt mắng: "Ngươi là kẻ đi du thuyết cho tể tướng đương thời sao!" Lâm Hy quyền Thượng thư Bộ Lễ, An Dân nói: "Hy là mưu khách của Đôn, sự ngang ngược hung hãn của Đôn đều do Hy dạy." Lại luận: "Thái Kinh gian tà đủ để mê hoặc quần chúng, biện luận đủ để tô vẽ điều sai, khéo léo đủ để lay động tai mắt của người chủ, thế lực đủ để lật đổ phải trái trong thiên hạ, trong thì kết với hoạn quan, ngoài thì liên kết với quan Đài, Gián, kết đảng giao kết, mưu đồ nắm quyền. Bệ hạ không sớm đuổi y đi, sau này hối thì còn kịp chăng!" Lúc ấy cái ác của Kinh còn tiềm ẩn, nhiều người chưa nhận ra, chỉ riêng An Dân là người đầu tiên vạch ra. Lại nói: "Nay các đại thần nói thuyết Thiệu thuật, đều mượn đó để báo thù riêng, một thời bè đảng theo nhau phụ họa, đến nỗi quá lắm. Trương Thương Anh thời Nguyên Hựu, dâng thơ cho Lữ Công Trứ (呂公著) cầu tiến, lời lẽ nịnh hót vô sỉ; đến khi làm quan Gián, thì dâng sớ đòi hủy bia Thần đạo của Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ. Chu Trật thời Nguyên Hựu làm Thái thường bác sĩ, tự tay định thụy Văn Chính cho Tư Mã Quang; đến khi làm quan Ngôn, thì dâng sớ luận tội Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ, đến mức muốn bổ quan, đánh xác. Đó há là điều mà sĩ quân tử làm!". Chương sớ trước sau dâng đến mấy chục, mấy trăm lần, xét thấy rốt cuộc không thể xoay chuyển, bèn xin ra ngoài, Hoàng đế chỉ an ủi mà thôi.
Đến khi tế Minh đường, Lưu Mỹ nhân hầu Hoàng đế ở Trai cung, lại đến chùa Tướng Quốc, dùng Giáo phường tấu nhạc, An Dân cho là nơi mọi người trông nhìn, làm tổn hại thánh đức. Lời nói thẳng trái ý, Chương Đôn nhân đó gièm pha. Tăng Bố ở Khu mật viện không hòa với Đôn, thấy An Dân nhiều lần luận Đôn, tưởng là theo mình, nên nhiều lần trước mặt Hoàng đế khen An Dân. Đến khi An Dân luận Bố cùng Đôn dùng lẫn người thân, thì hai người ấy hợp lực đánh đổ ông. Bố nhân lúc rảnh, tay áo giấu bức thư cũ của An Dân gửi cho Lữ Công Trứ dâng lên, nói An Dân xin Công Trứ giảm bớt bè đảng gian thần triều trước, kéo bè loại mình, truyền nối trăm đời. Một hôm, Hoàng đế bảo An Dân: "Khanh từng gửi thư cho Lữ Công Trứ, lấy vua bất đạo đời Đông Hán mà ví trẫm, có được chăng?" An Dân nói: "Thần cùng Công Trứ thư từ, khuyên ông rộng cầu hiền tài, từng dẫn việc Trần Phiền, Đậu Vũ, Lý Ưng, không ngờ kẻ ghét thần lại trích lời thần, đẩy lùi đời mà dùng văn để hại thần, dù biện bạch thì có ích gì!" Trước đó, An Dân cùng Quốc tử Tư nghiệp An Đôn (安惇), Giám sát ngự sử Đổng Đôn Dật cùng ở Quốc tử giám coi thi, nơi bóc số, An Dân nói với Đôn Dật rằng: "Hai Tô (Tô Thức, Tô Triệt) gánh trọng vọng của thiên hạ, ông không nên đàn hặc." Đến đây Đôn Dật dâng tấu tố cáo lời trước của An Dân, nói An Dân là đảng của Tô Triệt, bình thời nghị luận phần nhiều chủ về Nguyên Hựu, vì thế An Dân mắc tội. Ngày Nhâm Tuất, giáng An Dân làm Giám Thù châu Diêm tửu vụ. Ban đầu Hoàng đế lệnh cho An Dân làm Tri quân, Đôn bèn dâng tờ tâu đưa sang Bộ Lại, giáng xuống làm Giám đương. Năm sau, Đôn Dật luận việc Dao Hoa, Hoàng đế giận, muốn giáng y, bảo các quan chấp chính: "Theo lệ của Thường An Dân mà cho làm Tri quân." Bấy giờ mới rõ là Hoàng đế không biết chuyện An Dân bị giáng làm Giám đương.
Tháng này, Ty Tường định trùng tu Sắc lệnh tâu: "Các việc thu phát Thường bình ở các lộ trong phủ giới, trừ những điều nay xin trình, còn đều theo điều lệ hiện hành năm Nguyên Phong thứ 7; việc cấp nạp tiền Thường bình, nếu có chỗ ức hiếp, lệnh Ty Đề cử tra xét tâu hặc." Chuẩn theo.
Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tý, Thượng thư Hữu thừa Trịnh Ung (鄭雍) bị bãi, làm Tư chính điện học sĩ, Tri Trần châu.
Chương Đôn giáng đày cựu thần Nguyên Hựu, đều dùng Bạch thiếp để thi hành. Bọn An Thạc tranh luận không thôi, Hoàng đế sinh nghi, Đôn rất sợ. Ung muốn tính kế tự an, riêng nói với Đôn: "Dùng Bạch thiếp có tiền lệ Vương An Thạch." Đôn rất mừng, lấy văn thư của y, giấu trong áo để tâu với Hoàng đế, Đôn nhờ đó mà làm được điều gian. Ung tuy nhờ đó kết thân với Đôn, nhưng rốt cuộc vẫn bị bãi chính.
Liêu chúa đóng quân ở Ấu Ty Điện.
Ngày Kỷ Tị, Hàn lâm học sĩ Tiền Hiệp bị bãi chức, làm Tri Trì châu, lại cho miễn lễ từ tạ, vì trong bản phê đáp chiếu thư của Trịnh Ung có câu “quần tà cùng công kích”.
Đầu niên Nguyên Hựu, Chương Đôn bị bãi Khu mật, ra làm Tri Nhữ châu, Hiệp thảo chế từ, có câu: "Không phải là thần của Thiếu chủ, không có tiết hạnh của đại thần." Đến khi Đôn vào làm tướng, Hiệp làm Tri Khai Phong phủ, rất sợ; sau được thăng Hàn lâm học sĩ, mới yên. Tăng Bố nhiều lần chê Hiệp trước mặt Hoàng đế, Hoàng đế chưa nghe. Bấy giờ Thái Biện cùng Hoàng Lý cùng ở Kinh diên, Biện đọc cho Lý nghe câu “Không dung quần uổng, mưu muốn lay động”. Lý hỏi: "Thế nào?" Biện nói: "Giống như lời đáp chiếu gần đây, không biết ai làm." Liền lệnh Học sĩ viện tra trình, mới biết là do Hiệp soạn. Lý cùng Trịch Tư (翟思), Lưu Chỉnh nối nhau luận tội, nói: "Chúng thần thẹn giữ chức Phong hiến, mà Hiệp lại chỉ bọn thần là gian tà, ý ở kết đảng, bịa mượn chiếu thư của bệ hạ để khuấy động triều đình." Vì thế Ung đã bị bãi, Hiệp cũng bị giáng.
Hiệp thời Hy Ninh làm Chủ bạ Lưu nội tuyển, Phán tuyển Trần Tương (陳襄) từng dâng sổ Đăng tiến ban, Thần Tông khen, Tương nói: "Đó không phải là điều thần có thể làm, Chủ bạ Tiền Hiệp làm đó." Hôm sau, triệu vào đối, định dùng vào chức thanh yếu. Vương An Thạch sai em là An Lễ (安禮) đến gặp, hứa dùng làm Ngự sử, Hiệp tạ rằng: "Nhà nghèo mẹ già, không thể đi vạn dặm." Lần thứ hai làm Tri Khai Phong phủ, xử việc tinh mẫn. Tô Thức nhân lúc y đang ngồi xử án, gửi cho một bài thơ, Hiệp cầm bút lập tức đáp lại, Thức nói: "Quét sạch kiện tụng như điện, đáp thơ như tiếng vang, gần đây chưa từng thấy vậy."
Ngày Quý Dậu, cáo việc dời thần chủ Tuyên Nhân Hoàng hậu đến điện Huy Âm ở Cảnh Linh cung.
Ngày Giáp Tuất, lấy Thượng thư Bộ Lại Hứa Tương làm Thượng thư Tả thừa, Hàn lâm học sĩ Thái Biện làm Thượng thư Hữu thừa.
Nước Liêu lấy Bắc diện Lâm Nha Da Luật Đại Bi Nỗ (耶律大悲努) làm Hữu Y Lặc Hy Ba (右伊勒希巴). Đại Bi Nỗ cử chỉ thuần nhã, ưa lễ nghi, được người đương thời khen.
Ngày Bính Tý, lấy Thượng thư Bộ Hộ Thái Kinh làm Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc, Tu quốc sử.
Ngày Tân Tị, tiến phong Ký vương Hạo (顥) làm Sở vương.
Ngày Quý Mùi, nước Liêu lấy Tham tri chính sự Vương Sư Nho làm Khu mật phó sứ, lấy Hán nhân Hành cung Đô bố trí Triệu Hiếu Nghiêm làm Tham tri chính sự.
Ngày Tân Mão, Hà Nam phủ động đất.
Ngày Nhâm Thìn, nước Liêu ghi công tướng sĩ có công đánh Chuẩn Bố.
Tháng 11, ngày Ất Mùi, An Thạc bị bãi chức Tri Hà Nam phủ. Thạc vốn thân với Chương Đôn, đến khi cùng làm chấp chính ở Tam tỉnh, Đôn sợ Thạc, lại ghét ông ta, nên tìm cách hãm hại không chừa, nên có lệnh này.
Ngày Bính Thân, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Người Nữ Chân sai sứ dâng ngựa cho nước Liêu.
Ngày Mậu Tuất, Phạm Ngạc (範諤) vì làm Chuyển vận sứ mà được vào đối, tự nói có công bắt giặc, xin ban chương phục. Hoàng đế nói: "Bắt giặc là chức thường, đâu đủ gọi là công!" Giáng làm Tri Thọ châu.
Ngày Kỷ Hợi, nước Liêu lấy Đô thống Ngạch Đặc Lặc làm Tây Bắc lộ Chiêu thảo sứ, phong làm Thất Thủy quận vương.
Ngày Giáp Dần, Nội thị Lương Duy Giản (梁惟簡) bị tước danh, an trí ở Toàn châu. Duy Giản vì tội đảng đảng, cùng Trương Sĩ Lương (張士良), Lương Tri Tân (梁知新) đều mắc tội, sau lại bị biên quản ở Bạch châu, đày đến Chu Nhai, vì là người thân tín của Tuyên Nhân hậu.
Hoàng Lý, Lai Chi Thiệu, Trương Thương Anh, Lưu Chỉnh tâu: "Thái Xác là đại thần được cố mệnh của triều trước, nên phục hết quan tước, cấp tiền tuất." Ngày Bính Thìn, truy tặng Xác làm Thái sư, thụy là Trung Hoài, sai Trung sứ hộ táng.
Ngày Mậu Ngọ, Tri Đại Danh phủ Lữ Huệ Khanh vào chầu đối. Dẫn tiến phó sứ Tống Cầu (宋球) nói với Tăng Bố: "Huệ Khanh nói chuyện đã lâu, bề trên có vẻ mệt. Sau lại đưa ra một tờ trát, không biết bề trên nói gì, bèn không dâng trình, cất thẻ mà lui." Bố tâu việc xong, nhắc đến Huệ Khanh, Hoàng đế nói: "Huệ Khanh cực kỳ hung bạo, Thăng Khanh cũng vậy." Bố nói: "Bệ hạ sáng suốt thấu suốt, thật là phúc của thiên hạ!" Huệ Khanh lưu lại mấy tháng, rồi mới xin đi.
Ngày Canh Thân, nước Liêu vì Cao Ly vương Dực (昱) có bệnh, lệnh con là Chuyên (顓) quyền tri quốc sự.
Trước đó, nước Liêu muốn lấy sông Áp Lục làm giới, nước Cao Ly dâng biểu nói: "Dưới trời, không đâu không phải là đất của vua, thần của vua; thừa một tấc đất, hà tất phải phân ta cõi ta trị!" Lại nói: "Trả lại ruộng cũ ở Vấn Dương, vỗ về ấp nát; trả lại tay áo vụng ở Trường Sa, múa mừng ngày thịnh." Đó là lời của Tham tri chính sự Phác Dần Lượng (樸寅亮), Liêu chúa khen, bèn bỏ việc ấy.
Tháng 12, ngày Quý Hợi mùng 1, nước Liêu lấy Tri Bắc viện Khu mật sứ sự Da Luật A Tô (耶律阿蘇) làm Bắc viện Khu mật sứ.
Ngày Ất Sửu, phục đặt 3 Giám sát ngự sử, chia coi Lục sát, không được dâng lời.
Lệnh Hàn lâm học sĩ Thái Kinh, Ngự sử Trung thừa Hoàng Lý mỗi người tiến cử 2 Ngự sử.
Ngày Nhâm Thân, bạch hồng xuyên mặt trời.
Ngày Ất Dậu, Tăng Bố nói Văn Ngạn Bác (文彥博), Lưu Chí (劉摯), Vương Tồn (王存), Vương Nham Tẩu (王岩叟) v.v. đều phỉ báng triều trước, năm ngoái thi hành việc xử lý người đời Nguyên Hựu còn nhiều kẻ lọt lưới, Đôn nói: "Tam tỉnh đã được chỉ, biên loại các chương sớ, văn thư tâu xin của thần liêu từ đời Nguyên Hựu trở về sau, Khu mật viện cũng nên biên loại." Hoàng đế cho là phải. Hứa Tương lại tâu: "Khu mật viện đã được chỉ huy, biên tu văn thư, xin cho thi hành ngay." Chuẩn theo.
Ngày Mậu Tý, chiếu theo lệ đời Nguyên Phong, tháng Mạnh đều triều hiến ở Cảnh Linh cung.
Năm ấy, Tô châu động đất.
Nước Liêu cho lấy bọn Trần Hành Hữu (陳衡有) 130 người đỗ Tiến sĩ.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Giáp Ngọ, Liêu chúa đi đến Xuân Thủy.
Ngày Canh Tý, Tri Khu mật sự Hàn Trung Ngạn bị bãi. Trung Ngạn nhiều lần xin ra ngoài, Hoàng đế hỏi Tăng Bố: "Trung Ngạn không có việc gì khác, cũng không đến nỗi gian hiểm." Bố đáp: "Đúng vậy." Sau đó Chương Đôn nói Trung Ngạn xử trí việc biên cương nhiều chỗ không thích đáng, Hoàng đế rất nghi ngại. Trung Ngạn xin mãi, bèn bổ làm Quan Văn điện học sĩ, Tri Chân Định phủ, sau dời sang Định châu.
Ngày Giáp Thìn, rót rượu tế Cảnh Linh cung, đi khắp các điện, theo lễ đời Nguyên Phong.
Ngày Mậu Thân, Điện trung thị ngự sử Trần Thứ Thăng tâu:
“Năm Thiệu Thánh thứ 1 có sắc bảng, trừ những người đã thi hành trách phạt giáng chức ra, còn thì hết thảy đều không hỏi đến nữa, người bàn luận cũng không được nói lại. Gần đây thần lén thấy Vương Hiệp, Lý Trọng v.v. đưa sang Lại bộ, cho hợp vào hạng được bổ dụng sai khiến, ghi vào tờ lục hoàng ban xuống, lấy việc họ vì dâng văn tự thời Nguyên Hựu mà bị tội. Như thế thì những lời ghi trong sắc bảng kia, gần như thành lời suông, sẽ lấy gì để gây dựng lòng tin với thiên hạ! Cúi mong ban dụ cho các đại thần, từ nay trở đi, cùng nhau tuân thủ. Nếu nhân tài quả thực không thể dùng, chỗ thấy trái với lẽ, thì lấy tội của ngày nay mà trị tội; còn những lỗi lầm đã qua, thì gác lại không hỏi, để làm rõ đức trung hậu của triều đình."
Lại tâu: "Thần nghe việc sai quan biên tập sắp xếp các chương sớ của thần liêu thời Nguyên Hựu, lại còn trọng thưởng để mua chuộc những kẻ cất giấu, dò hỏi dư luận, thực là có chỗ chưa yên. Kính nghĩ Hoàng thượng lúc mới thân chính, chiếu lệnh thiên hạ được nói việc, từ khi thân chính đến nay, treo bảng cho phép họ tự làm mới mình, ấy cũng là ý an định kẻ phản trắc của Quang Vũ. Nay lại khảo xét một lời sai sót của họ, đặt họ vào chỗ có tội, thì chiếu lệnh trước đây, chính là để làm lầm thiên hạ; còn sắc bảng sau này, lại là để dối gạt thiên hạ. Mệnh lệnh như thế, lấy gì tỏ ra là có tín với người ta! Những chỉ huy về việc biên tập sắp xếp chương sớ, xin đều bãi bỏ, cho dừng hẳn."
Ngày Canh Tuất, triệu kiến các phiên quan Bao Thuận, Bao Thành v.v., ban tặng ân thưởng có khác nhau.
Chiếu: "Khi tra xét ngục tụng, nếu không theo đúng ý chỉ ban đầu mà dây dưa cầu thêm tội khác, thì luận tội theo luật."
Ngày Nhâm Tý, Tri Hy châu Phạm Thuần Túy đổi làm Tri Đặng châu.
Ngày Ất Mão, chiếu lệnh Thượng thư bộ Hộ không được kiêm lãnh Hữu tào.
Đầu niên hiệu Nguyên Hựu, Tư Mã Quang xin cho Thượng thư kiêm lãnh Tả, Hữu tào, để cho hiểu rõ toàn bộ số mục, như thế thì quyền lợi quy về một mối, bèn theo. Đến đây lại khiến Thị lang chuyên lãnh, Thượng thư không được dự vào nữa.
Hữu chính ngôn Tôn Ngạc tâu: "Tri Hà Trung phủ Dương Úy, vào thời Nguyên Phong, mọi bàn luận đều hợp với triều đình; đến cuối niên hiệu Nguyên Hựu, Lữ Đại Phòng, Tô Triệt v.v. cầm quyền, thì ông ta liền đổi hết xu hướng mà theo họ. Đầu niên hiệu Thiệu Thánh, Hoàng thượng thân mình nắm giữ hết thảy, thì ông ta lại muốn đổi xu hướng để cầu may mà cầu dung thứ. Thiên hạ gọi là ‘Dương Tam Biến’." Chiếu bãi chức của Úy, cho theo lệ cũ vẫn làm Tri Hà Trung. Sau do Trung thư xá nhân Thịnh Đào tâu, đổi làm Tri Hoắc châu.
Ngày Mậu Ngọ, chiếu bãi việc hợp tế, thỉnh thoảng nhân năm có đại lễ, thì ngày Hạ chí thân tế Địa kỳ ở Bắc giao.
Ngày Tân Dậu, nước Liêu mua trâu bò để cấp cho dân nghèo thuộc bộ Ô Cổ Đức Liệt Lặc.
Tháng 2, ngày Quý Hợi, xuất 400 vạn quan tiền ở kho Nguyên Phong để mua thóc dự trữ biên giới tại Thiểm Tây, Hà Đông.
Ngày Quý Dậu, bãi việc Phú Bật phối hưởng ở miếu đình Thần Tông.
Ngày Quý Mùi, chiếu phong cho 3 người con của Bộc An Ý vương chưa được phong vương: Tông Sở làm Nam Dương quận vương, Tông Hựu làm Cảnh Thành quận vương, Tông Hán làm Đông Dương quận vương.
Ngày Ất Dậu, Tự Bộc vương Tông Xước mất, thụy là Hiếu Tĩnh.
Ngày Bính Tuất, chiếu: "3 năm một lần xin chỉ, sai Lang quan, Ngự sử đi xét hỏi chức sự của các quan Giám ty."
Ngày Đinh Hợi, người nước Hạ xâm lấn trại Nghĩa Hợp.
Tháng ấy, chiếu: "3 lộ Bảo giáp theo phép Nghĩa dũng mà dạy dỗ khảo nghiệm."
Tháng 3, ngày Tân Mão mùng 1, Thượng thư tỉnh bị cháy. Ngày Nhâm Thìn, chiếu vì trong Cấm trung nhiều lần bị cháy, bãi yến xuân và việc ngự chơi ao vườn, không ngự điện Thùy Củng trong 3 ngày.
Ngày Quý Tị, người nước Hạ vây trại Tắc Môn.
Ngày Đinh Dậu, Thượng thư tỉnh bị cháy.
Ngày Mậu Tuất, Kiếm Nam Đông Xuyên động đất.
Ngày Kỷ Hợi, phong Nam Dương quận vương Tông Sở làm Tự Bộc vương.
Ngày Tân Hợi, phong Đại Ninh quận vương Tất làm Thân vương, Toại Ninh quận vương Cát làm Đoan vương.
Ngày Nhâm Tý, Hoàng đế dụ hai phủ, cho rằng phép giảm thưởng công thời Nguyên Hựu là không thích đáng, lệnh tu sửa định lại, mà chưa thấy dâng lên. Mọi người đều nói: "Các lộ xét đoán chưa xong." Tăng Bố nói: "Giữa niên hiệu Nguyên Phong mới có việc biên giới, muốn khích lệ người ta liều chết vâng mệnh. Chi bằng dùng trọn phép thưởng thời Nguyên Phong, đợi khi việc biên giới yên, sẽ bàn riêng việc tăng giảm." Hoàng đế nói: "Nên như thế." Bèn hạ chỉ cho các lộ, lệnh bảo cho tướng sĩ đều biết.
Ngày Đinh Tị, ngự đến phủ Thân vương, Đoan vương.
Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Dậu, bãi chức Tuyên huy sứ.
Ngày Kỷ Mão, nước Liêu cứu tế đói ở biên giới Tây Bắc.
Ngày Ất Dậu, Hộ bộ Thị lang Ngô Cư Hậu tâu: "Xin các lộ, những trường vụ thu lợi và nơi thu được từ 3 vạn quan trở lên, đều theo điều lệ thời Nguyên Phong mà cử quan giám đương, lại giao cho Chuyển vận sứ bản lộ tâu cử." Theo lời.
Ngày Bính Tuất, 3 tỉnh cùng dâng tấu sự việc, Tăng Bố nói: "Tư Mã Quang trong lòng ôm oán vọng, mọi việc đều chí ở chỗ nhất định phải sửa đổi, quay lưng với Tiên đế, tình thực đáng giết." Lý Thanh Thần, Hứa Tương nói: "Văn Ngạn Bác dạy Quang rằng: ‘Phải đổi hết người đi, rồi mới có thể làm việc.’” Bố nói: "Thần cuối niên hiệu Nguyên Phong ở triều đình, thấy Quang được tiến dụng, từ tháng 6 nắm chính sự đến cuối năm, không làm được việc gì. Đến khi ngầm kéo Tô Thức, Tô Triệt, Chu Quang Đình, Vương Nham Tẩu bọn chúng, bày đầy các đường yếu trọng, đến tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ 1, mới tấu bãi Dịch pháp, đuổi hết người cũ, rồi sau đó đối với chính sự triều trước không việc gì là không sửa đổi. Do đó biết đại thần ngầm kéo đảng loại, đặt họ vào chỗ ngôn lộ, che lấp tai mắt của bề trên, thì những việc làm không gì là không theo ý mình, đó là tai họa lớn nhất." Lại nói: "Những kẻ khen Quang chỉ là bọn tiểu nhân nơi ngõ xóm mà thôi. Như Vương An Thạch, anh thần là Củng, đều là những người có học thức, thần từ thuở nhỏ đã nghe hai người ấy bàn luận, cho rằng Quang không thông kinh thuật, quanh co không biết nghĩa lý; các sĩ đại phu khác có hiểu biết cũng đều biết như thế." Hoàng đế vui vẻ nghe theo.
Tháng 5, ngày Nhâm Tý, sao Thái Bạch hiện ban ngày.
Ngày Bính Thìn, xét giảm tội tù.
Tháng ấy, Tả chính ngôn Tôn Ngạc tâu: "Miễn dịch là đại pháp của một đời. Số người tại chức, thời Nguyên Phong thì nhiều, thời Nguyên Hựu thì giảm, tuy giảm mà chưa từng bỏ việc, vậy thì nhiều không bằng giảm; tiền trả cho tạp dịch, thời Nguyên Phong thì nặng, thời Nguyên Hựu thì nhẹ, tuy nhẹ mà chưa từng bỏ dịch, vậy thì nặng không bằng nhẹ. Số người giảm mà tiền dịch nhẹ, thì dân xuất tiền dễ; dân xuất tiền dễ, nên pháp có thể lâu dài. Xin Hoàng thượng rộng thu thập lời nói của mọi người, chớ lấy Nguyên Phong, Nguyên Hựu làm ranh giới, cốt sao tiện cho bách tính, không có nỗi lo không công bằng mà thôi." Thái Kinh tâu: "Ngạc bàn về Dịch pháp, là muốn đề cao bọn gian Nguyên Hựu, làm mê hoặc tai nghe của thiên hạ." Chiếu bãi chức ngôn quan của Ngạc, cho làm Tri Quảng Đức quân.
Cấp sự trung Kiển Tự Thần tâu: "Tiên đế ở ngôi 19 năm, những dấu tích ứng hợp với đời, không dễ gì xem xét cho hết. Xin chọn Nho thần soạn thành 1 quyển ‘Thần Tông bảo huấn’, giao cho Độc quan, để bổ khuyết việc khuyến giảng." Chiếu đợi khi ‘Chính sử’ thành sách, lệnh Sử quan biên tu. Tự Thần là con của Chu Phụ.
Tháng 6, ngày Tân Dậu, Liêu chúa đóng quân ở Tát Lý Nạp.
Ngày Quý Hợi, lệnh Trấn Định lập miếu Triệu Phổ.
Ngày Quý Mùi, chiếu thường lệ bãi chức Thị giảng ở các vương phủ, sai giám thuế rượu châu Vĩnh, Phụng nghị lang Triệu Xung giám thuế trà, muối, rượu ở Đạo châu. Xung là môn nhân của Lập.
Ban đầu, Thái Biện xin lấy Lập làm Thuyết thư ở Sùng Chính điện, sau khi được ban đối, lại xin bổ làm Gián quan, Hoàng đế chưa cho. Biện đang kết bè với Chương Đôn, Tăng Bố muốn lật đổ y, nhân lúc rảnh bèn tâu với Hoàng đế rằng Lập theo hai người ấy, rồi lấy bản ‘Tịch hành trạng’ do Nho sĩ Sử viện soạn về hành trạng của cha Lập dâng lên, trong đó có câu: "Từ khi Kinh Công (Vương An Thạch) rời chức, quan lại thiên hạ ngầm thay đổi Tân pháp, dân chịu cảnh bùn lửa; công (Tịch) một mình thấy trước, biết nó tất bại." Hoàng đế kinh hãi nói: "Sao lại nói tất bại?" Bố nói: "Lập cuồng vọng vô lễ, tự phải đem ra xử theo pháp." Đến khi 3 tỉnh vào chầu, Hoàng đế bảo Thái Biện: "Thường Lập phỉ báng Thần khảo mà khanh tiến cử y, là cớ làm sao?" Lại ngoảnh bảo Chương Đôn: "Khanh không thấy lời nói ấy sao?" Đôn tạ rằng không biết, Hoàng đế giận nói: "Lời ở trong ‘Thường Tịch hành trạng’, câu ấy nói: ‘Từ khi An Thạch bãi tướng đến nay, dân ở trong bùn lửa.’ Lại nói: ‘Từ khi Tịch cùng An Thạch rời chức, thì người hiểu biết biết nó tất bại.’ Y nịnh hót An Thạch quá mức mà phỉ báng Thần khảo mỏng như thế, Biện sao lại tiến cử y?" Đôn, Biện đều hoảng hốt tạ tội. Hoàng đế liền sai Trung sứ đến Sử viện lấy ‘Tịch hành trạng’, tự tay chỉ 4 chữ “đồ thán” (bùn lửa), “tất bại” cho Đôn, Biện xem, từ đó Đôn mới hiểu là bị Biện bán đứng. Sau 1 ngày, 3 tỉnh dâng tấu trình. Hoàng đế lệnh cho Lập ở cung quán, Xung thì đợi chỉ riêng, Trung thư xá nhân Diệp Tổ Hợp trả lại lục hoàng, cho rằng Lập bị giáng quá nhẹ. Lý Thanh Thần báo đầy đủ cho Bố, hôm ấy Bố vào chầu, nói: "Lập nịnh Vương An Thạch mà hủy báng Tiên đế, tình càng đáng giết. Thế mà lại muốn cất nhắc y vào ngôn lộ, đó là điều thần không thể tự kìm được." Hoàng đế cũng nghiến răng, nên đặc biệt cho y đến nơi nhỏ xa xôi để giám đương. Điện trung thị ngự sử Trần Thứ Thăng nhân đó tâu: "Thường Lập cầu hợp với quyền thần, phỉ báng vu cáo Tiên đế, mà các đại thần kéo y tiến lên, chỉ sợ không kịp, há chẳng phải là phụ Tiên đế, lừa Quan gia hay sao? Tội làm bề tôi, không gì lớn hơn thế, cúi mong đặc biệt giáng trách phạt, để răn bọn quan tà!" Không được trả lời.
Ngày Ất Dậu, lập Trai cung Bắc giao ở Thụy Thánh viên.
Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Thìn, lấy Thái Kinh làm Hàn lâm học sĩ thừa chỉ.
Ngày Quý Tị, Khu mật viện tâu: "Căn cứ lời Tri Hình châu Trương Phó nói, xét kỹ được rằng dân muốn được có đất chăn ngựa, chỉ cần miễn cho họ tô thuế, lại không bắt phải sinh sản thêm, hộ nuôi ngựa không có nỗi lo bị truy gọi lao dịch; những nhà không muốn nuôi ngựa thì không được ép buộc. Nay xét muốn làm thành điều khoản treo bảng ban bố." Theo lời.
Ngày Kỷ Hợi, chiếu Tri Vị châu, Bảo Văn các đãi chế Lữ Đại Trung đặc biệt được bổ làm Bảo Văn các trực học sĩ, Tri Tần châu, vì thời Nguyên Hựu ông kiên trì nghị luận biên giới, lại kiêm lãnh chức soái đã lâu.
Đại Trung nhân đó tâu: "Em thần là Đại Phòng, từ khi mắc tội bị ghi tên, lưu lạc nhiều năm, e một sớm có điều bất trắc, chợt sớm hơn sương mai, chết sống cách biệt, ôm hận vô cùng. Cúi xin bãi bỏ chức danh đã bổ cho thần, chỉ tạm dời Đại Phòng đến châu quận Thiểm Tây cư trú." Không nghe.
Ban đầu, Đại Trung từ Kinh Nguyên vào chầu, Hoàng đế hỏi: "Đại Phòng bình an chứ?" Lại nói: "Lúc đầu các đại thần bàn cho y vượt biển, trẫm một mình đặt y ở An châu, khanh có thư, nên bảo y tạm nghỉ ngơi nhẫn nại. Đại Phòng chất phác thẳng thắn, bị người bán đứng, đợi 2, 3 năm, có thể lại gặp nhau." Đại Trung tiết lộ lời ấy với Chương Đôn, Đôn sợ, càng gắng sức trói buộc, đảng nhân Nguyên Hựu do đó lại bị giáng truất lần nữa.
Ngày Bính Ngọ, Liêu chúa săn bắn ở Xích Sơn.
Ngày Canh Tuất, theo chức sự quan thời Nguyên Phong mà định bổng lộc 3 hạng Hành, Thủ, Thí.
Ngày Giáp Dần, lệnh ở Hy Hà lập miếu Vương Thiều.
Ngày Ất Mão, Quốc tử Tư nghiệp Cung Nguyên tâu: "Về sau ở khoa trường chỉ cho theo lệ cũ chuyên trị 1 kinh." Theo lời.
Tháng 8, ngày Tân Dậu, người nước Hạ xâm lấn trại Ninh Thuận.
Ngày Bính Tý, chiếu: "Di biểu của Vương Nham Tẩu cùng những ân lệ mà Lữ Đại Phòng v.v. được hưởng và việc tiến cử quan đều bãi, không thi hành nữa. Đề cử Thư châu Linh Tiên quán, ở Ngạc châu cư trú Lương Thao, Chủ quản Hồng châu Ngọc Long quán, ở Nam An quân cư trú Lưu An Thế, đều phân ty ở Nam Kinh, lại đều cư trú tại bản xứ."
Ngày Kỷ Mão, phục đặt Kiểm pháp quan.
Hoàng đế từng nói với Chương Đôn: "Đầu niên hiệu Nguyên Hựu, Thái hoàng Thái hậu sai cung tỳ ở bên cạnh trẫm cả thảy 20 người, đều là những người lớn tuổi. Một hôm, trẫm nhận ra mười người trong số đó không phải là những người thường ngày hầu hạ. Chẳng bao lâu sau, mười người được đưa đến. Rồi mười người ấy lui ra, lại đổi mười người khác đi. Những người đã bị đổi đi rồi lại trở về, sắc mặt đều thảm đạm, chán nản, như đã từng khóc lóc. Trẫm rất kinh hãi, nhưng không dám hỏi. Sau mới biết là do bọn Lưu An Thế dâng sớ, Thái hoàng Thái hậu tra hỏi họ vậy." Đôn cùng Thái Biện đang mưu vu cho các đại thần Nguyên Hựu từng có nghị luận phế lập, nghe lời Hoàng đế nói, bèn lấy việc Lưu An Thế, Phạm Tổ Dũ nói chuyện tìm nhũ mẫu trong Cấm trung làm gốc, hai người ấy lại mắc tội nặng. Ngày Canh Thìn, giáng chức Tổ Dũ làm Chiêu châu biệt giá, an trí ở Hợp châu, An Thế làm Tân châu biệt giá, an trí ở Anh châu.
Tháng 9, Tăng Bố tâu: "Thái Biện là kẻ thâm hiểm khéo léo nhất, còn Chương Đôn thì khinh suất, để được y ưa thích, nên phần nhiều bị y làm cho lầm lạc. Phàm những người mà Đôn chủ trương dùng, phần nhiều xuất phát từ Biện. Đến khi bàn luận, Đôn cứng cỏi như thể do mình nói ra, còn Biện thì ngậm miệng không mở lời, dư luận ngoài nói: ‘Tâm của Thái Biện, miệng của Chương Đôn.’ Như thế, thực có hại cho thánh thính. Trong phủ chính sự bỏ trống rất nhiều, xin sớm chọn người, để giúp chính luận."
Ngày Kỷ Hợi, thủ lĩnh Miểu Xuyên, Kiểm giáo Thái bảo A Lý Cốt chết.
Ngày Canh Tý, chiếu Yêu Miễn vĩnh viễn không được khảo xét thăng tiến, vì Cấp sự trung Kiển Tự Thần nói y phỉ báng Tiên đế, cố ý muốn chặn tuyệt ý chí Thiệu thuật.
Ngày Bính Ngọ, nước Liêu dời bộ Ô Nhĩ Cổ Đức Liệt Lặc đến Ô Nạp thủy, để chẹn nơi trọng yếu biên giới phía Bắc.
Ngày Kỷ Dậu, Thọ, Nghi hai châu động đất.
Ngày Nhâm Tý, Thái sư, Hoài Nam, Kinh Nam tiết độ sứ Sở vương Hạo mất. Hạo thiên tư anh dị, lại rất ham học, lúc mới theo ngoại phó, mỗi khi xong một bộ kinh, liền tặng cho Giảng độc quan đồ khí, tiền bạc, áo quần, ngựa. Giỏi chữ Phi bạch, thiện xạ, thích sách vở, rộng tìm bản tốt. Thần Tông khen chí hướng của ông, mỗi khi được sách lạ, liền sai người phi ngựa đem cho xem. Hoàng đế lên ngôi, tôn lễ càng long trọng, chiếu thư không gọi tên. Đến khi mất, thụy là Vinh, phối táng ở Vĩnh Hậu lăng.
Tiệp dư Lưu thị, nhan sắc rực rỡ đứng đầu hậu đình, lại nhiều tài nghệ, rất được sủng ái, khi gặp Hoàng hậu không theo lễ thứ bậc của hàng thiếp. Từng cùng Hoàng hậu triều bái Cảnh Linh cung, xong việc, vào ngồi, tần ngự đều đứng hầu, riêng Tiệp dư quay lưng đứng dưới hiên. Người trong cung của Hậu là Trần Nghênh Nhi quát mắng nàng, Tiệp dư vẫn quay lưng đứng như cũ, người người đều giận. Ngày Đông chí, đến triều Lăng Hựu cung, đợi được yết kiến ở nơi khác. Hoàng hậu ngồi ghế sơn đỏ khảm vàng, Tiệp dư ở ghế khác, sắc mặt có vẻ giận, người theo hầu biết vậy, bèn đổi ghế cho ngang với Hậu. Mọi người không thể yên, bèn truyền xướng rằng: "Hoàng Thái hậu ra." Hậu đứng dậy, Tiệp dư cũng đứng. Chốc lát lại trở về chỗ cũ, hoặc đã dẹp ghế của Tiệp dư, nàng bèn ngồi phệt xuống đất, oán giận, không vào triều nữa, khóc kể với Hoàng đế. Nội thị Hách Tùy đang được dùng, bảo Tiệp dư: "Chớ vì việc ấy mà buồn bã! Chỉ cần sớm sinh con cho Đại gia, cái ghế ấy rốt cuộc sẽ thuộc về Tiệp dư thôi."
Gặp lúc con gái của Hoàng hậu là Phúc Khánh công chúa bệnh, Hậu có chị gái khá biết y thuật, từng chữa khỏi bệnh nguy của Hậu, vì thế được ra vào cung cấm. Thuốc của công chúa không hiệu nghiệm, bèn mang bùa nước chữa bệnh của Đạo gia vào, Hậu kinh hãi nói: "Chị há chẳng biết trong cung cấm nghiêm, khác với nhà ngoài sao?" Lệnh người hầu cất đi. Đợi Hoàng đế đến, kể rõ duyên cớ, Hoàng đế nói: "Đó là tình thường của người ta thôi." Hậu liền đốt bùa trước mặt Hoàng đế. Trong cung cấm bèn truyền nhau rằng mầm mống yểm bùa đã khởi.
Đang lúc công chúa bệnh nguy, bỗng có tiền giấy ở bên, Hậu ngoảnh nhìn, rất kiêng kị, ngờ là người của Tiệp dư sai mang đến, càng thêm nghi ngờ. Chẳng bao lâu, dưỡng mẫu của Hậu là Thính Tuyên phu nhân Yên thị, ni cô Pháp Đoan cùng Cung phụng quan Vương Kiên vì Hậu cầu đảo, việc ấy bị phát giác, chiếu sai Nhập nội áp ban Lương Tòng Chính, Câu đương Ngự dược viện Tô Khuê lập tức giao cho Hoàng thành ty tra xét, bắt bớ hoạn quan, cung thiếp gần 30 người, đánh đập tra khảo đủ đường, tay chân thân thể gãy nát, đến nỗi có người bị cắt lưỡi. Án thành, lệnh Thị ngự sử Đổng Đôn Dật xét lại, tội nhân đi qua dưới sân, hơi thở chỉ còn thoi thóp, không một ai có thể cất tiếng. Đôn Dật cầm bút, nghi ngờ chưa dám hạ, bọn Hách Tùy dùng lời hăm dọa, Đôn Dật sợ họa đến mình, bèn dâng tấu chương. Ngày Ất Mão, chiếu vì Hoàng hậu Mạnh thị bị lời tà bên cạnh mê hoặc, ngầm ôm lòng cầu đường yêu mị, phế cho ở Dao Hoa cung, hiệu là Hoa Dương giáo chủ, Ngọc Thanh Diệu Tĩnh tiên sư, pháp danh là Xung Chân.
Ban đầu, Chương Đôn vu cho Tuyên Nhân (Thái hoàng Thái hậu) có mưu phế Hoàng đế để lập Hạo lên thay, lại ngầm theo Lưu Tiệp dư, muốn xin lập nàng làm Hậu, cùng Hách Tùy cấu kết thành vụ án này, không ai dám nói khác. Đã hạ án giao cho 3 tỉnh. Khu mật viện ước theo luật, Đôn họp với Lý Thanh Thần, Tăng Bố, Hứa Tương, Thái Biện và quan bộ Hình là Từ Thác v.v. bàn. Có người nói không thể xử cực hình, Tăng Bố bảo Pháp quan chỉ nên giữ luật, lại nói: "Lừa rồng nịnh rắn, việc ấy chưa thành hay chưa?" Mọi người đều kinh sợ. Pháp quan bèn giữ ý kiến, cho rằng bọn Kiên 3 người đều đáng xử tử.
Điện trung thị ngự sử Trần Thứ Thăng tâu: "Vụ án được xử, không qua hữu ty, tuy nghe nói có truy xét chứng cớ, nhưng sự tích bí mật, các thần trong triều còn không được nghe, sĩ thứ hoang mang, vốn không có gì lạ. Thần trộm nghĩ từ xưa tra xét ngục tụng, đều giao cho ngoài đình, chưa từng có việc cung cấm tự xử, trên dưới giao vào tay hoạn quan. Hoàng thượng chỉ thấy văn án đầy đủ mà thôi, làm sao biết được tình tội hư thực! Vạn nhất oan uổng, sẽ bị thiên hạ hậu thế chê cười. Xin đích thân chọn người trong hàng thị tòng tại đình hoặc quan Đài gián công chính không a dua, chuyên đặt ở Chế viện, riêng tiến hành tra xét, may ra được thực tình." Không được trả lời.
Về sau Đổng Đôn Dật cũng tâu: "Việc phế Trung cung, sự có chỗ chưa rõ, tình có thể xét. Ngày chiếu hạ, trời vì thế mà u ám, ấy là trời không muốn phế; người vì thế mà rơi lệ, ấy là người không muốn phế. Thần từng xét lại vụ án, e rằng mắc tội với thiên hạ hậu thế." Hoàng đế giận. Thái Biện muốn gia thêm tội giáng, Chương Đôn, Tăng Bố nói: "Bề trên vốn vì ngục Hoàng thành do bọn thân cận xử đoán, nên mới sai Đôn Dật xét hỏi; nay lại giáng chức quan xét hỏi, lấy gì gây dựng lòng tin trong ngoài!" Bèn thôi. Hoàng đế lâu ngày cũng hối hận, nói: "Chương Đôn làm hỏng danh tiết của trẫm."
Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Tị mùng 1, vì tang Sở Vinh vương chưa thành phục, bãi việc thị triều ở Văn Đức điện.
Lấy Giám thuế Giang Ninh phủ Trương Thương Anh quyền Tri Hồng châu.
Lấy Chính tự Đặng Tuân Vũ làm Biên tu quan ‘Thần Tông chính sử’. Tuân Vũ là con của Hoàn.
Ngày Nhâm Tuất, người nước Hạ đại quy mô xâm nhập Phu Diên. Ngày Mậu Thìn, chiếu các lộ biên giới xét đoán thành trại nơi hiểm yếu, tăng cường phòng bị nghiêm ngặt.
Liêu chúa đóng quân ở Ấu Ty Điện.
Ngày Tân Mùi, phía Tây Nam có tiếng sấm, tiếp đó mưa to mưa đá.
Ngày Quý Dậu, Chung Truyền tâu việc xây Như Già, chiếu lấy làm An Tây thành.
Ngày Canh Thìn, Cao Ly sai sứ sang cống nước Liêu.
Ngày Giáp Thân, lấy Tri Đại Danh phủ Lữ Huệ Khanh làm Tri Diên An phủ.
Tháng ấy, quân nước Hạ từ Trường Thành trong 1 ngày phi ngựa đến trại Kim Minh, bày doanh trại vây quanh thành, quốc chủ Thiên Thuận cùng mẹ tự thân đốc thúc trống chiêng, thả kỵ binh cướp phá bốn phía. Tri Lân châu có phòng bị, lại trở về Kim Minh, rồi sau đó kỵ binh tinh nhuệ ở lại Long An. Biên tướng đem hết quân đánh úp, không lui, Kim Minh bèn vỡ. Quân giữ thành 2.800 người, chỉ 5 người thoát được, lương thảo trong thành đều hết, tướng quan Hoàng thành sứ Trương Du chết trận. Khi trở về, để lại một bức thư buộc vào cổ một người Hán, nói: "Tha mạng cho ngươi, để ngươi đem ném đến chỗ Kinh lược sứ cho ta." Lời thư nói: "Nước Hạ trước đây với triều đình về cương giới có chút bất đồng, đang lúc tiến hành phân xử; không ngờ triều đình đổi ý hối hận, lại cùng lập giới ở chỗ ngồi đoàn phu, bản quốc vì cớ cung thuận, cũng gắng gượng nghe theo, bèn lập mấy bảo trong cương giới để hộ canh; thế mà Phu Diên xuất binh quét sạch, lại nhiều lần vào cương giới giết cướp. Người trong nước cùng phẫn nộ, muốn lấy Diên châu, nhưng rốt cuộc vì cung thuận, chỉ lấy 1 trại Kim Minh để tỏ mũi nhọn binh, cũng không mất tiết làm thần tử vậy." Diên soái Lữ Huệ Khanh dâng lên Khu mật viện mà không tâu báo.
Tri Diên An phủ Lữ Huệ Khanh tấu xin theo lệ của Lữ Đại Trung, tạm đến kinh tâu việc, Chương Đôn bảo Tăng Bố: "Biên sự đang như thế, có thể gọi là không biết nặng nhẹ vậy." Lý Thanh Thần nói: "Đây ắt có ý muốn rút bớt quyền bính, hoặc e có người lấy y làm kẻ thay thế, bọn ta nguy mất." Bố nói: "Việc ấy không lo, quyền bính há dễ rút sao!" Tháng 11, ngày Quý Tị, dâng tấu trình, Hoàng đế nói: "Huệ Khanh sao có thể đến?" Mọi người đều nói không có lẽ đến. Bèn chiếu ngăn lại rằng: "Nếu có điều muốn tâu, hãy ghi thành điều khoản mà dâng."
Ngày Đinh Mùi, Chương Đôn dâng ‘Trùng tu Thần Tông thực lục’.
Tháng 12, ngày Kỷ Mùi, Liêu chiêu thảo sứ Ngạch Đặc Lặc đánh bộ phận khác của Chuẩn Bố, phá được.
Ngày Tân Dậu, Tế Dương quận vương Tông Cảnh, vì tội lập thiếp dối vua, bãi chức Khai phủ nghi đồng tam ty, cho làm Phán Đại Tông chính ty sự.
Ngày Nhâm Tuất, Nam phủ Tể tướng nước Liêu Đồ Lỗ Can về hưu. Ngày Quý Hợi, lấy Tiêu Thác Bốc Gia làm Bắc phủ Tể tướng, lấy Da Luật Đại Bi Nỗ làm Điện tiền đô điểm kiểm.
Ngày Giáp Tuất, Thái Kinh dâng ‘Tân tu Thái học sắc lệnh thức’.
Ngày Ất Hợi, nước Hạ sai sứ dâng tù binh Kim Minh cho nước Liêu.
Sinh Nữ Trực tiết độ sứ Anh Cách của nước Liêu, là em trai của Tiết độ sứ Phá Lạp Thục. Phá Lạp Thục chết, Anh Cách kế vị, lấy con của anh là Hòa Lý Trác là Tát Ha làm Quốc tướng. Năm ấy, bộ Hợp Xá Lý A Tô, Mục Đô Lý chống binh làm loạn, Anh Cách tự đi đánh. A Tô kêu oan với nước Liêu, nước Liêu sai sứ bảo Anh Cách đừng đánh, Anh Cách để Tát Ha giữ thành của A Tô rồi về. Gặp lúc bọn A Hợp Bản chặn đường bắt chim ưng của Ngũ quốc, giết sứ bắt ưng của nước Liêu, nước Liêu chiếu lệnh Anh Cách đánh họ. A Hợp Bản dựa vào thế hiểm trở để lập rào, đang lúc rét đậm, bèn mộ người thiện xạ, giương cung cứng, dùng tên sắc đánh, mấy ngày thì vào được thành của họ, đưa mấy sứ giả nước Liêu ra, trả về. Cháu Anh Cách là A Cổ Đạt, giỏi xạ tiễn, có chí lớn. Đại quốc cữu trướng của nước Liêu là Tiêu Hiệp Lý tụ tập vài nghìn bộ chúng làm phản làm giặc, có chúng vài nghìn, chạy sang Nữ Trực, nên lệnh Anh Cách đánh dẹp. Anh Cách chém Hiệp Lý, sai A Cổ Đạt dâng thủ cấp cho nước Liêu, còn lại đều giữ lại không cho đi. Người nước Liêu không làm gì được, bèn thăng quan cho Anh Cách và A Cổ Đạt để an ủi.